Mục lục
Họ và tên: Nguyễn Thị Mai Anh
MSV: 10030968
Lớp: K55 xã hội học
Đề tài: Giá trị của con trai trong các gia đình nông thôn hiện nay
Bài làm
1. Tính bức xúc của vấn đề
Hiện nay, dân số trung bình Việt Nam năm 2012 ước tính 87,84 triệu người, tăng 1,04%
so với năm 2011, bao gồm: Dân số nam 43,47 triệu người, chiếm 49,5% tổng dân số cả nước,
tăng 1,1%; dân số nữ 44,37 triệu người, chiếm 50,5%, tăng 0,99%. ().
Từ đây, chúng ta có thể nhìn thấy: mức độ gia tăng dân số của nước ta không ngừng phát triển.
Trong đó, tỉ lệ gia tăng dân số của nam giới lớn hơn nữ giới. Mặc dù chênh lệch không quá cao.
Điều này có thể lí giải bởi trong những năm gần đây, nhu cầu sinh con trai trong những năm gần
đây lại tiếp tục bùng phát làm cho số trẻ em trai sinh ra nhiều hơn số trẻ em gái. Bởi đối với
người dân Việt thì con trai nắm giữ những vai trò quan trọng trong gia đình.
Các tỉ số giới tính khi sinh đã làm nóng dư luận xã hội bắt đầu vào năm 2006. Kể từ đó
đến nay, tỉ số này luôn trên 110 trẻ trai/100 trẻ gái và xu hướng này còn tiếp tục tăng. Có đến 5/6
vùng kinh tế xã hội và 51/63 tỉnh, thành phố trên cả nước đang ở trong tình trạng mất cân bằng
giới tính khi sinh. Theo Điều tra biến động dân số hằng năm thì tính đến ngày 1/4/2012, tỉ số giới
tính khi sinh của Việt Nam là 112,3/100. Tỉ số giới tính khi sinh ở nước ta có diễn biến phức tạp
hơn là ở các nước khác. Nếu ở các nước khác, tỉ số giới tính khi sinh hoàn toàn bình thường ở
lần sinh thứ nhất và cao hơn ở lần sinh thứ hai thì ở Việt Nam, tỉ số này cao ngay ở lần sinh đầu
tiên và cao nhất ở lần sinh thứ ba trở lên (115,5 trẻ trai/100 trẻ gái). Đối với những gia đình mới
chỉ sinh được 2 con gái thì ở lần sinh thứ 3, Tỉ số giới tính lên tới 130. Tỉ số giới tính khi sinh
của phụ nữ ở nhóm 20% dân số nghèo nhất đều nằm ở mức bình thường (108-109) và nhỉnh hơn
chút ít ở lần sinh thứ 3 (111). ( />hoa-cho-su-phat-trien-ben-vung/144/9756562.epi). Đây là nhóm dân tập trung chủ yếu ở nông
thôn, nơi mà kinh tế chưa phát triển và những giá trị truyền thống lâu đời vẫn còn hằn lên các
nếp sống thường ngày. Việc sinh con trai cũng là một trong những nét truyền thống nổi bật ở
nông thôn ngày nay, khi mà những lề thói phong kiến chưa được xóa bỏ triệt để. Họ có mục đích
chung là thích con trai và tìm mọi cách để đạt được mục đích đó. Con trai trong các gia đình
nông thôn hầu như vẫn mang một giá trị to lớn và nền tảng cho nếp sống nơi đây.
nông nghiệp với trình độ kỹ thuật canh tác lạc hậu, nông dân chiếm đại đa số thì triết lý “đông
con nhiều phúc”, “một mặt người hơn mười mặt của”, “người là hoa của đất”… làm cho lập luận
và niềm tin về qui luật “trời sinh voi, trời sinh cỏ” và nó là cơ sở để tồn tại và chi phối tâm
tưởng, hành vi con người. Trong chiều sâu của triết lý đó, đứa con trai giữ vai trò quan trọng hơn
cả, bởi vì theo truyền thống, có con trai mới là có con.
Con trai là kẻ “nỗi dõi tông đường”, là người trung gian giữa tổ tiên và con cháu hậu duệ
sau này: là chiếc cầu bắc giữa những người trên trời và con cháu. Đó là một giá trị truyền thống
đang đè nặng lên vai những người còn sống. Trong quan niệm của con người Việt Nam “người ta
mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, đông con
nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc noi chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong
gì cao sang, khác thường hơn người. Đó chính là những giá trị cơ bản chi phối tâm tưởng và
hành vi cảu con người Việt Nam. Trong đó cho thấy quan niệm đông con nhiều cháu là một
trong những yếu tố truyền thống chi phối gia tăng nhân khẩu trong mỗi gia đình mà con trai là
một yếu tố không thể thiếu.
Giá trị của con trai trong các gia đình nông thôn đàng là một đề tài nóng, bởi đây là một
yếu tố chi phối mức tăng trưởng của xã hội cũng như đánh giá những tàn dư của tư tưởng truyền
thống chi phối tới hành vi sinh đẻ của người dân. Đồng thời vấn đề này đang là một nguyên nhân
gây ra tác động làm tăng trưởng dân số xã hội và biến động dân số ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện tại. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào đánh giá cụ thể và tập trung nghiên cứu tới ý nghĩa
của con trai trong các gia đình trong bối cảnh nông thôn mới. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Giá trị
của con trai trong các gia đình nông thôn hiện nay” làm đề tài cho bài tiể luận cuối kì môn xã
hội học gia đình của mình.
2. Giá trị của con trai trong các gia đình nông thôn
Trong bài tập này, do không có thời gian và vật chất để tiến hành cụ thể một nghiên cứu,
điều tra về vấn đề này, nên tôi tạm thời sử dụng những cuộc phỏng vấn trong luận văn thạc sĩ xã
hội học của Hồ Ngọc Châm với đề tài nghiên cứu: “ý nghĩa của con cái trong gia đình nông
thôn” , 2011 (nghiên cứu trường hợp xã Phú Đa, Huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế, xã
Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam), để làm cơ sở và dữ liệu để phân tích cho bài tiểu luận
của mình.
2.1. Trách nhiệm nỗi dõi tông đường
con gái cũng không khỏi là người vô hậu hay tuyệt tự. Bởi thế người ta lấy việc hậu tự là tối
quan trọng” (Đào Duy Anh, 2002:131-132)
Trong hệ tư tưởng Nho giáo giá trị đầu tiên và quan trọng nhất của con trai chính là anh
ta phải có trách nhiệm đối với gia đình: Người nối dõi tông đường người kế tục dòng dõi, người
đảm nhận trọng trách nối liền sợi dây huyết tộc. Chính vì thế, sự hiện diện của con trai trong gia
đình được xem như là một sự kiện quan trọng. Ý tưởng có con trai luôn luôn có cội rễ sâu xa
trong quá khứ, nó nảy sinh trong sự du nhập các tư tưởng của hệ tư tưởng Nho giáo vào Việt
Nam. Trong một đất nước bị hàng ngàn năm chịu ách đô hộ của nhà nước phong kiến phương
bắc cho nên sự áp đặt văn hóa nhằm để đồng hóa dân tộc, nhưng bản sắc dân tộc đã thu nạp hệ tư
tưởng Nho giáo và dung hợp nó, biến đổi nó cho phù hợp với lối sống của người dân Việt Nam.
Điều này cho thấy đạo đức Nho giáo gây ảnh hưởng rất lớn đến truyền thống của dân tộc, nhất là
quan niệm về ý nghĩa đứa con trai. (Tống Văn Chung,1996)
Quan niệm về dòng dõi và nỗi dõi như vậy không chỉ dựa trên thế giới quan thần bí, mà
về phương diện xã hội, còn hoàn toàn tách rời dòng họ, họ hàng mình với dòng dõi khác, xã hội
khác. Có thể nói gia đình Việt Nam không thực hiện chức năng sinh sản hoặc duy trì nòi giống
nói chung mà thực hiện chức năng duy trì nối dõi. Sự khác biệt giữa hai chức năng này ở chỗ:
với chức năng duy trì nòi giống, nếu một gia đình không có con, thì đã có gia đình khác sinh con,
nòi giống vẫn được duy trì; còn với chức năng nỗi dõi, nếu gia đình không có con, cụ thể là con
trai, dòng dõi coi như bị hủy diệt, các gia đình thuộc dòng dõi khác không nỗi dõi thay thế được.
Do vậy, là sự hứa hẹn và tiếp nối trong tương lai sự tồn tại của gia đình, của dòng dõi nên
con trai, nhất là con trai đầu lòng ra đời được cả gia đình đón mừng nhiệt liệt, trước hết của cha
và của mẹ. Đối với người chồng, hôn nhân đánh dấu việc anh ta đạt địa vị người lớn, gia nhập
thế giới người trưởng thành nhưng chưa hoàn toàn trọn vẹn. Chỉ khi có con trai, anh ta mới hoàn
thành nghĩa vụ với dòng dõi, địa vị của anh ta mới trở nên trọn vẹn. Còn với người vợ, khi sinh
con trai, họ đã tiến được một bước dài từ địa vị “người ngoài” hòa nhập hoàn toàn với gia đình,
được an toàn trong gia đình người chồng vì tạo ra được phương tiện tiếp nối gia đình. Nếu không
có con trai, người vợ phải một mình chịu hoàn toàn trách nhiệm, số phận họ trở nên bấp bênh,
bất kể họ thực hiên tốt các vai trò trong gia đình người chồng như thế nào.
Trong xã hội Việt Nam xưa, về mặt pháp lý, việc không sinh con trai là nguyên nhân đầu
tiên trong bảy nguyên nhân cho phép người đàn ông cho phép đuổi vợ ra khỏi nhà (không con,
người chồng đi kiếm con trai cho dù điều này không được pháp luật cho phép. Không ít người,
đặc biệt là phụ nữ, thấm thía sự mang nặng đẻ đau, ý thức được tầm quan trọng của sinh đẻ có kế
hoạch, muốn giới hạn số con mặc dù sinh con một bề. Họ tìm cách thoát khỏi sức ép của cộng
đòng trong quan niệm nỗi dõi nhưng lại bị áp lực từ những người thân trong gia đình.
Như trong phân tích ở trên, không có con trai, hạnh phúc gia đình bị ảnh hưởng nghiêm
trọng, người phụ nữ có thể bị quy kết là không biết “đẻ”, họ có nguy cơ phải nhường chồng cho
người phụ nữ khác để có thẻ sinh con trai cho gia đình anh ta. Không có con trai người phụ nữ bị
gia đình chồng dũng những lời lẽ nặng nề để nói về tình trạng đó của họ.
Sinh con trai để có người thờ cúng tổ tiên và nỗi dõi tông đường được coi như là một
hành động hợp lý về mặt giá trị. Trong xã hội Việt Nam, con trai được coi là một giá trị. Mỗi gia
đình ít nhất phải có một con trai trở thành quan niệm phổ biến. Nó chi phối hành vi sinh đẻ của
cặp vợ chồng. Các cặp vợ chồng cố gắng sinh con trai bởi các cặp vợ chồng nhận thức được tầm
quan trọng của hành động này. Người phụ nữ sinh con trai bởi họ cho rằng con trai có ý nghĩa,
có giá trị đối với người chồng, đối với gia đình nhà chồng, từ các thành viên khác trong gia đình
nhà chồng. Đồng thời, sinh con trai cũng khiến địa vị của họ trong gia đình chồng được khẳng
định.
Dư luận xã hội không khỏi bang hoàng trước cái chết của anh Hồ Văn Nhớ ở Quỳnh Lưu,
Nghệ An. Nguyên nhân của cái chết này chính là vì vợ không sinh dược con trai. Vợ chồng anh
Nhớ đã sinh hai con gái. Anh Nhớ là con trưởng, phía gia đình bên nội mong muốn có một đứa
cháu trai nỗi dõi nên từ khi mang bầu cháu thứ 3, hai vợ chồng anh cứ thấp thỏm, áp lực tâm lý
nặng nề. Đến khi cháu gái thứu 3 sinh ra thì cả hai vợ chồng lẫn gia đình nội ngoại đều rất buồn.
Sau khi vợ sinh con thứ 3 được ít ngày, anh Nhớ không chịu nổi áp lực tâm lí đã treo cổ tự vẫn
( Tình trạng của anh Ng cũng tương tự như vậy. Bố của anh Ng ở quê là
trưởng họ nên gánh nặng có con trai để nói dõi đè lên vai anh. Lần sinh đầu, vợ anh Ng sinh con
gái. Anh hi vọng đến lần sinh thứ 2 sẽ là con trai. Nhưng khi nghe tin vợ sinh con gái trong bệnh
viện, anh Ng vô cùng chán nản. Đêm hôm đó, anh đi uống rượu cùng bạn bè. Anh uống nhiều và
luôn than thở “số tao không có con trai”. Bạn bè đưa anh về nhà. Khi mẹ anh gọi dậy, anh đã
chết từ lúc nào ( Trên đây chỉ là hao trường hợp điển hình về việc không
có con trai nỗi dõi quan trọng như thế nào.
Như vậy, quan niệm có con trai để có người thờ cúng và nối dõi tông đường vẫn là quan
thiếu thứ gì. Con nhà ấy, con nhà nọ thế này thế kia. Mẹ chồng suốt ngày chửi bới vì mình không
đẻ được con trai. Lúc ấy mình chỉ khóc thôi, toàn lấy khóc làm đầu thôi” (nữ, sinh năm 1971, 3
con gái và một con trai, Trịnh Xá).
Tâm lý thích con trai bắt nguồn từ thành kiến giới. Một trong những thành kiến đó là
quan niệm của người chồng cho rằng không đẻ được con trai là trách nhiệm của người vợ. Hậy
quả là người vợ bị đối xử không ra gì vì lý do “không biết đẻ”. “Có trường hợp người vợ không
đẻ được con trai và bị chồng chửi bới, họ chửi vợ là không biết đẻ” (Cán bộ phụ nữ xã Trịnh
Xá).
Hậu quả của loại thành kiến giới này còn ở chỗ các thành viên trong gia đình chồng
không chăm sóc đến con gái và người vợ. Một chị phụ nữ ở Trịnh Xá chia sẻ: “Đẻ đến cháu gái
thứ 3 thì bà nội không cả muốn nhìn cháu. Bà chán và bỏ không chăm cháu. Thời gian cháu còn
nhỏ là không hề chăm nom, ngó ngàng gì đến cháu thứ 3. Khi chuẩn bị đẻ cháu thứ ba thì mẹ
chồng nói tao đã nhốt gà rồi nếu con dâu đẻ cháu trai là mổ gà ăn đấy nhưng khi thấy lại đẻ con
gái thì mẹ về nhà thả gà ra” (nữ, 1971, Trịnh Xã)
Những người chồng không có con trai bị những người đàn ông khác cho là kém cỏi. Họ
bị người đàn ông khác khích bác. Trêu chọc vì không đẻ được con trai: “Chưa có con trai thì
người ta hay trên là không được ngồi mâm trên, phải ngồi mâm dưới” (nữ, sinh năm 1967, 2 con
gái, Trịnh Xá). Thậm chí những câu đùa, những câu khích bác đó trở thành “châm ngôn”: Đi ăn
cỗ thì người ta có câu đùa cửa miệng thôi nhưng nó cũng thành câu châm ngôn. Ông nào có con
trai thì ngồi một mâm. Ông nào có con gái thì ngồi một mâm. Nhiều khi năm ông lên một mâm
đủ một cái giường rồi nhưng chết cái có ông chỉ có con gái thì khi uống rượu vào mọi người trêu
đùa và bảo là thôi ông toàn con gái thì cho ông xuống. Ông muốn ngồi mâm trên thì ông phải đẻ
con trai” (nam, sinh năm 1961, 2 con trai, Trịnh Xá)
Như vậy, những người phụ nữ chưa có con trai phải cố gắng sinh được ít nhất một con
trai. Quyết định sinh con trai của họ đặt trong mối tương quan với những người xung quanh: với
chồng, với cha mẹ… Họ buộc phảo sinh con trai bởi họ biết sinh con trai không chỉ vì lợi ích của
bản thân mà còn vì lợi ích của người thân trong gia đình như người chồng, cha mẹ chồng. Vì
vậy, họ tiếp tục sinh con cho đến khi có được con trai mới thôi. Như vây, sinh con trai là một
hành động xã hội có sự cân nhắc, tính toán của bản thân (người phụ nữ) và có tính đến mong
muốn của những người xung quanh nhằm đảm bảo hạnh phúc của gia đình.
mà sai việc làm” (Đào Duy Anh,2002:130). Thậm chí, với một số gia đình không có con, họ phải
nhận con nuôi. Một mặt, con nuôi sẽ là người thờ cúng tổ tiên và nối dõi tông đường. Mặt khác,
con nuôi sẽ là người chăm sóc cha mẹ khi về già.
Khi bố mẹ về già mà không làm được gì thì lúc ấy các con có vai trò hết sức quan trọng.
Họ chủ yếu lựa chọn ở với con trai, còn ở với con giá chỉ trừ trường hợp nhà có con gái không đi
lấy chồng hay không có con trai. Nếu có con trai thì con dâu sau này nó vẫn liền cạnh. Có con
gái thì nó không thể ở bên cạnh mình vì còn phụ thuộc gia đình nhà chồng, khó có thể chăm sóc
cha mẹ lúc già yếu. Điều này có thể lý giải cho việc khi phân chia của cải cho các con, con trai
mà nhất là con trai trưởng được ưu tiên nhiều hơn vì phải nuôi dưỡng cha mẹ. Vì con trai phải
chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ vè già nên khi phải lựa chọn việc đầu tư cho con nào thì con trai
thường là mục tiêu đầu tiên.
Mặt khác, có con trai để có thêm lao động cũng là một trong những động cơ quan trọng
thôi thúc các cặp vợ chồng sinh con trai. Vùng nông thôn Việt Nam chủ yếu hoạt động sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu. Những công việc trong lĩnh vực này thường rất nặng nhọc, đòi hỏi thể
lực và sức khỏe tốt. Chính con trai sẽ là người phù hợp để thực hiện những công việc này. Khi
kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, lại thiếu lao động để sản xuất và thâm canh. Các gia đình
thường mong muốn sinh ra những người con trai khỏe mạnh để gánh vác công việc đồng áng của
gia đình. Con trai trở thành chỗ dựa về kinh tế cho cả gia đình sau này.
Các gia đình lựa chọn sinh con trai như một cách lựa chọn duy lý. Theo cách tiếp cận cảu
lý thuyết trao đổi xã hội và sự lựa chọn hợp lý, con người ta tác động qua lại để tăng tối đa lợi
ích hay những điều được của bản thân và làm giảm tối thiểu điều mất hoặc cái giá phải trả. Theo
lý thuyết này, chúng ta cân đo các hành động và quan hệ của chúng ta trên cơ sở lợi – hại, được –
mất. Trong quan hệ, chúng ta cố tối đa hóa các lợi và điều được và tối thiểu hóa cái hại, điều
mất. Như vậy, các cặp vợ chồng ở nông thôn sinh con trai bởi họ biết lợi ích mà con trai mang lại
cho gia đình nhiều hơn so với những khó khăn của việc họ sinh nhiều con trai. Có thể, sinh nhiều
con trai khiến gia đình họ khó khăn về đời sống kinh tế. Chi phí để nuôi con, để đóng tiền học
cho con có thể tăng lên. Tuy nhiên, những lợi ích mà con trai mạng lại như giúp cha mẹ tham gia
hoạt động sản xuất, nuôi dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già khiến họ vẫn quyết định phải sinh con
trai, thậm chí là nhiều con trai. (Hồ Ngọc Châm,2011)
3. Những giá trị, ý nghĩa của con trai ở nông thôn trong tương lai qua những biện
3.1.1. Trên cơ sở những lý thuyết về xã hội học
3.1.1.1. Cách tiếp cận Trao đổi xã hội và lựa chọn duy lý
Cách tiếp cận này chịu ảnh hưởng của kinh tế học và coi các nguồn lực đóng vai trò then
chốt, cùng với khái niệm quyền lực. Trong quan hệ cá nhân, các nguồn lực, điều được, điều mất
không hẳn chỉ là những đồ vật mà còn là tình yêu, địa vị, quyền lực… Khi con người gia nhập
một mỗi quan hệ, họ có những nguồn lực nhất định mà người khác coi là có giá trị và đánh giá
cao. Con người ta có ý thức hoặc vô thức sử dụng các nguồn lực này nhằm đạt những cái mà họ
muốn. (Lê Ngọc Hùng, 2005)
Tiền đề mặc định cơ bản của thuyết trao đổi xã hội cho rừng con người ta tác động qua
lại để tăng tối đa lợi ích hay những điều được của bản thân và giảm thiểu điều mát hoặc cái giá
phải trả. Theo lý thuyêt này, chúng ta cân đo các hành động và quan hệ của chúng ta trên cơ sở
lợi – hại, đươc – mất chúng ta cố tối đa hóa cái lợi và điều được và tối thiểu hóa cái hại và điều
mất. Nếu một phương hướng hành động mang lại cả điều được lẫn điều mất, cả lợi lẫn hại thì
người ta cân nhắc, so sánh cả hai với nhau. Trong trường hợp điều được và cái lợi lớn hơn, vượt
trội so vời điều mất và cái hại, thì người ta lựa chọn phương hướng hành động ấy.
Trong nghiên cứu về ý nghĩa cảu con trai trong gia đình nông thôn, sinh con là một lựa
chọn. Người ta quyết định sinh con trai vì người ta thấy được những lợi ích mà con trai mang lại
(kinh tế, nối dõi tông đường) và lợi ích ấy vượt trội so với những khó khăn vất vả mà họ phải
chịu khi họ sinh con trai.
3.1.1.2. Cách tiếp cận hành động xã hội
Trong nghiên cứu về ý nghĩa của con trai, lý thuyết Hành động xã hội của M.Werber có
thể giúp ta nhìn nhận sáng tỏ hơn nhiều điều. Lý luận về Hành động xã hội của M.Werber là một
trong những lí luận quan trọng nhất trong xã hội học hiện đại của M.Werber. Theo ông, xã hội
học chính là khoa học về hành động xã hội, vì suy cho cùng xã hội thống nhât bởi các quan hệ xã
hội mà quan hệ xã hội lại do con người tạo ra. (Lê Ngọc Hùng, 2005)
Con trai là một yếu tố quan trọng trong quan niệm văn hóa của người dân Việt Nam.
Người Việt Nam xem trọng các yếu tố tâm lình. Và thờ tự tổ tiên, ông bà là điều không thể tránh
khỏi. Người được giao trọng trách này chính là những người trai trưởng trong gia đình. Và khi
các chính sách về dân số hiện nay đang kìm hãm sự phát triển thì khả năng sinh con trai bị bó
hẹp. Trong khi hầu hết các cặp vợ chồng đều mong muốn có một đứa con trai. Và đây là hành
yêu cầu bức thiết không thể thiếu trong xã hội Việt Nam. Nó như là một nét đặc trưng cho truyền
thống văn hóa của Việt Nam nói riêng và của các nước Á Đông nói chung.
Mặc dù, di sản truyền thống đó đang chịu sự chi phối của trào lưu đổi mới hiện nay và
chịu sự o ép của chính sách dân số. Song những giá trị truyền thống này khó có thể loại bỏ một
sớm một chiều. Những truyền thống con người Việt Nam đang tiếp nhận và kế thừa không dễ gì
bị loại bỏ trên nền lịch sử của dân tộc mình. Nó là di sản văn hòa của con người Việt Nam, của
dân tộc Việt Nam và nó được truyền tải ngay trong gia đình – tế bào xã hội.
3.2. Lý giải về việc nhu cầu có con trai sẽ giảm và không còn là vấn đề bức thiết ở
nông thôn
3.2.1. Trên cơ sở thay đổi nhận thức của người dân
Tuy nhiên, cùng với quá trình truyền thông thay đổi nhận thức thì sự phân biệt con trai,
con gái trong các gia đình đã giảm sút đáng kể. Chênh lệch về giới đã không còn là mối lo ngại
kể cả ở trong nhưng khu vực nông thôn, nơi mà truyền thống trở thành những định kiến và khuôn
mẫu tư duy khó thay đổi. Con gái ngày nay cũng dần dần được nâng cao vị trí và được coi trọng.
Con gái trong các gia đình cũng được dạy dỗ và đầu tư cho việc giáo dục, theo học ở các cấp bậc
giáo dục cao. Điều này đồng nghĩa với việc ý nghĩa và giá trị của con trai cũng được giảm bớt và
không còn quá được đề cao như trước.
Nông thôn ngày nay không còn là một nông thôn thuần nông mà các loại hình kinh tế
khác cũng đã được du nhập và rất phát triển. Vai trò của con trai trong hoạt động kinh tế và là trụ
cột của gia đình cũng giảm sút. Con gái nếu như năng động sáng tạo thì vẫn có thể kiếm tiền và
gánh vác công việc gia đình.
Không những thế,trải qua cuộc sống, cùng với những mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng
dâu, nhiều người già mới nhận thấy, đứa con gái vẫn sống tình cảm, vẫn chăm sóc bố mẹ chu đáo
hơn anh con trai vô tâm và cô con dâu khác máu tanh lòng.
Tóm lại, qua thời gian thì cách của người dân cũng dần dần được thay đổi và tiếp cận với
những giá trị và nền văn hóa mới. Mặc dù những giá trị bản chất, cốt lõi vẫn được giữ vững và
bảo tồn nhưng nó đào thải đi những gì đã trở nên lỗi thời, lạc hậu. giá trị của con trai trong mỗi
gia đình là không thay đổi , nhưng trong tương lại, việc áp đặt có con trai sẽ không còn gay gắt
như ngay lúc này.
3.2.2. Trên cơ sở các chính sách xã hội được ban hành
Y tế, Dân số không thể đạt được sự thành công trong việc giảm thiểu việc nhu cầu sinh con trai
liên tục tăng nếu không có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.
Chính vì thế, ngay từ đầu năm 2012, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã
chỉ đạo Bộ Y tế hết sức quyết liệt. Bộ Y tế đã đi làm việc với HĐND, UBND của 10 tỉnh, thành
phố có tỉ số giới tính khi sinh cao nhất. Ngày 3/11/2012, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã
chủ trì Hội thảo Quốc gia về mất cân bằng giới tính khi sinh có sự tham gia của các chuyên gia
hàng đầu quốc tế và lãnh đạo UBND, Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ 63 tỉnh, thành phố trên cả
nước. Phó Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Y tế làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương để đề xuất
với Ban Bí thư ban hành Chỉ thị của Ban Bí thư về giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính
khi sinh ở Việt Nam.
(()
Hệ giá trị gia đình truyền thống còn chịu sự ảnh hưởng của các chính sách dân số xã hội
được ban hành và đang có hiệu lực đến hiện nay. Bởi vì một trong những yếu tố chi phối sự biến
động và phát triển xã hội chính sách là quá trình dân số. Sự tăng trưởng dân số đòi hỏi xã hội
phải giả quyết thỏa mãn những nhu cầu cho các thành viên mới trong xã hội; cho nên tăng
trưởng dân số đông đồng thời cũng đòi hỏi sự tăng trưởng kinh tế nhằm tăng cường và đáp ứng
những nhu cầu phúc lợi xã hội. Vì thế, mọi chính sách phát triển xã hội đều nhằm mục tiêu nâng
cao phúc lợi vật chất, tinh thần cho mọi thành viên của xã hội. Nhưng tồn tại một nghịch lý là
nếu dân số tăng theo cấp số cộng thì đòi hỏi tăng trưởng kinh tế xã hội theo cấp số nhân. Bùng
nổ dân số sẽ là một vấn đề bức xúc của xã hội hiện đại, đòi hỏi phải có chính sách xã hội hạn chế
sự gia tăng dân số. Hệ quả là chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình đã và đang được triển
khai. Nhưng chương trình này gặp phải những yếu tố gây nên những sự cản trở nhất định. Trong
những năm vừa qua mức tăng trưởng dân số chứng tỏ rằng sự thực thi của nó chưa đưa lại hiệu
quả cao. Một trong những yếu tố gây ra mức tăng trưởng dân số đó chính là tăng số con được
sinh ra trong mỗi hộ gia đình, mà số con này chịu sự chi phối của các giá trị truyền thống: “đông
con đông con nhiều phúc”. Sinh con trai là điều quan trọng và định hướng này ăn sâu vào trong
nếp suy nghĩ của con người Việt Nam và đi cả vào ca dao: “con gái là con người ta, con dâu
chính thực con nhà bà ơi”. Giá trị truyền thống này gây ra những hậu quả xã hội thông qua
những chiều hướng nảy sinh trong hoạt động tinh thần, sự định hướng của các thành viên nông
thôn đã và đang làm cho việc kiểm soát chức năng sinh sản của mỗi hộ gia đình trở nên khó khăn
3. (Hồ Ngọc Châm (2011), “ý nghĩa của con cái trong gia đình nông thôn”. Luận văn thạc sĩ
xã hội học.
4. Tống Văn Chung (1996), “Bước đầu tìm hiểu về giá trị con trai trong gia đình nông thôn
và ảnh hưởng của nó đối với sự biến đổi dân số”. Luận văn thạc sĩ xã hội học.
5. Tống Duy Hợp (1997), “Xã hội học nông thôn”, Nxb Khoa học xã hội.
6. Lê Ngọc Hùng (2005), “Lý thuyết xã hội học hiện đại”, NXB Chính trị hành chính quốc
gia.
Và một số trang web như:
/>