Báo cáo “Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định trong gia đình nông thôn hiện nay” - Pdf 16

Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNTBáo cáo “Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định
trong gia đình nông thôn hiện nay”
1
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Hiện nay có tới 78% tổng số phụ nữ sống trong nông thôn, họ chiếm tới
70% lực lượng lao động trong nông thôn và được đánh giá là tạo ra 60% sản
phẩm của xã hội nông thôn. Người phụ nữ không chỉ đóng vai trò là lực lượng
sản xuất chính trong gia đình mà còn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.
Nhiều nghiên cứu nói lên rằng mặc dù phụ nữ là lực lượng lao động chính trong
gia đình tại nông thôn hiện nay nhưng quyền quyết định chính trong gia đình vẫn
là nam giới. Vấn đề đặt ra trong nghiên cứu này là thực trạng quyết định trong
gia đình nông thôn hiện nay như thế nào? Thu nhập có ảnh hưởng như thế nào
2
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
đến quyền quyết định của chồng và vợ? Phụ nữ cần làm gì để nâng cao vị thế của
mình trong gia đình cũng như tham gia vào việc ra quyết định trong gia đình?
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định trong gia đình nông thôn hiện
nay”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu về vấn đề thu nhập và quyền ra quyết định trong gia đình nông
thôn hiện nay.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu nhập và quyền ra quyết định.

phương án để chọn ra một phương án và phương án này sẽ tạo ra được một kết
quả mong muốn trong các điều kiện ràng buộc đã biết.
2.1.4 Bình đẳng giới
- Bình đẳng giới được hiểu nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau,
cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng trong XH.
- Bình đẳng giới không đơn thuần chỉ là việc phụ nữ có nhiều vai trò giống
nam giới hơn mà còn là nam giới cũng sẽ có nhiều vai trò giống phụ nữ hơn.
2.2 Giới và vấn đề thu nhập
2.2.1 Nguồn thu nhập của gia đình
* Thu nhập bằng tiền
- Tiền lương: Mức thu nhập này tùy thuộc vào kết quả lao động của mỗi người
và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tiền thưởng: Phần thu nhập bổ sung cho những người lao động tốt, có năng
suất cao, kỉ luật tốt.
- Tiền phúc lợi: Do cơ quan, trường học… chi cho cán bộ viên chức trong những
dịp lễ tết, thăm hỏi, hiếu hỉ… từ quỹ phúc lợi.
- Tiền bán sản phẩm
- Tiền lãi tiết kiệm
* Thu nhập bằng hiện vật
Tùy từng địa phương mà có mỗi hình thức thu nhập riêng phù hợp với
điều kiện khí hậu, địa hình
2.2.2 Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân
5
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
Thu nhập, đời sống của nông dân còn thấp và tăng chậm so với dân cư
thành thị. Nông hộ chủ yếu sống ở nông thôn, nơi có nhiều điều kiện khó khăn
như cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí thấp, dân trí tăng nhanh và thiếu việc làm.
Theo thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam thì khoảng cách về thu nhập
bình quân của 1 người 1 tháng giữa dân cư thành thị và dân cư nông thôn có xu
hướng gia tăng năm 1993 là 2 lần, năm 1994 tăng lên 2,55 lần, năm 1995 là 2,63

đi săn bắt và đánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn và kiếm những công cụ
cần thiết cho việc đó. Đàn bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc, họ
làm bếp và may vá (trích nguồn Các Mác và Ph.ăng-ghen, 1984:243-). Trong kết
quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, quan niệm mức độ hài lòng về hôn
nhân của người phụ nữ cũng nhấn mạnh tới chức năng kinh tế của bất hoà về
ứng xử và dẫn đến rạn nứt gia đình. Có đến 46,1% đưa ra lý do khó khăn về kinh
tế khi được hỏi về nguyên nhân dẫn tới bất hoà trong gia đình (trích nguồn Bộ
văn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình và giới,
Unicef 2008 ).
(Nguồn: Tạp chí nghiên cứu giới và gia đình số 4 năm 2010)
Quyền quyết định của người phụ nữ trong gia đình cũng ngày càng được
tăng lên. Có nhiều người vợ quyết định cùng chồng những công việc quan trọng
trong gia đình. Trong “Kết quả điều tra gia đình năm 2006” cho thấy đến 53% số
phụ nữ ở thành thị đứng tên một giấy tờ đăng ký sản xuất kinh doanh (trích
nguồn Bộ văn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình
và giới, Unicef 2008 ).Ở các thành phố vai trò trụ cột kinh tế hiện nay đã không
còn là đặc quyền của chồng. Các số liệu của Nguyễn Thị Hoà và Trần Thị Vân
Anh,2007 đã góp phần chứng minh điều đó. Ví dụ nghiên cứu của Nguyễn Thị
Hoà cho thấy 64,5% người vợ đóng góp công sức nhiều nhất cho kinh tế gia đình
so với 30,8% là người chồng. Sự đóng góp của người vợ không có gì khác biệt
7
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
theo vùng miền. Tương tự kết quả nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh cho thấy tỷ
lệ nữ tự đánh giá về việc có đóng góp vào thu nhập gia đình của bản thân là
92,5%. Và đánh giá của những người chồng về việc có đóng góp vào thu nhập
gia đình của phụ nữ cũng chiếm tỷ lệ tương tự là 94,5%. Như vậy con số thống
kê này cho thấy người vợ có xu hướng đóng góp nhiều cho kinh tế gia đình.
Nhìn nhận vai trò kinh tế một cách thoả đáng giúp phụ nữ thể hiện rõ vai trò kinh
tế của họ. Xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi đặc biệt là giai đoạn đổi mới năm
1986. Những thay đổi xã hội tác động tới vai trò của giới trong gia đình. Các kết

hợp lao động nữ không có trình độ chuyên môn cao bằng nam giới nên dễ dẫn
đến chênh lệch trong thu nhập so với nam giới.
Vùng địa lý: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở nước ta duy trì ở mức
cao, năm 2003, tỷ lệ này ở nữ là 68,5%, còn ở nam là 75,8%. Giữa các vùng có
sự khác biệt lớn về tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế. Năm 2003, tỷ lệ nữ hoạt
động kinh tế là cao nhất ở Tây Bắc, đạt 80%, tiếp theo là Tây Nguyên, đạt 78%.
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt sđộng kinh tế thấp nhất được ghi nhận ở Đông Nam Bộ,
đạt 60%, theo sau là đồng bằng sông Cửu Long, đạt 64%. Đặc biệt, đây cũng là
hai vùng có mức chênh lệch lớn nhất về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của nam
và nữ.
Nếu phân biệt theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỷ lệ có việc làm
thường xuyên ở thành thị thấp hơn ở nông thôn. Năm 2003, tỷ lệ nữ ở thành thị
có việc làm thường xuyên là 94,5% còn ở nông thôn là 95,8%; các tỷ lệ tưng ứng
ở nam là 95,8% và 96,3%. Trong thời kỳ 2000-2003, trong khi tỷ lệ thất nghiệp
của nam có xu hướng giảm thì tỷ lệ thất nghiệp nữ tăng lên, năm 2003, tỷ lệ thất
nghiệp của nữ là 6,9%, còn tỷ lệ thất nghiệp của nam là 4,4%.
9
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
Chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới: Bình đẳng giới trong
lĩnh vực lao động có nghĩa là bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội, đối xử và
đánh giá đối với mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý. Việt
Nam đã quy định sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới tại điều 24 Hiến pháp
Việt Nam khuyến khích cho doanh nghiệp sử dụng đông lao động nữ như tín
dụng ưu đãi, giảm thuế và cải thiện điều kiện việc làm cho lao động nữ. Đào tạo
và chuyển lao động nữ đang làm các công việc độc hại nguy hiểm có hại cho
việc sinh con và chăm sóc con cái của phụ nữ sang các công việc khác phù hợp
hơn,cải thiện điều kiện lao động và giảm thời gian làm việc.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việc
làm chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm. So với mức độ phát
triển của đất nước thì Việt Nam có nhiều chính sách lao động "bảo vệ" cho lao

định kiến giới chính là yếu tố ảnh hưởng tới việc ra quyết định trong gia đình.
Nhiều nghiên cứu cũng cho rằng mô hình về quyền quyết định trong gia
đình hiện nay đó là người đàn ông vẫn có quyền quyết định nhiều hơn người vợ.
Mặc dù trong gia đình người vợ là người phải đảm nhận hầu hết các công việc,
thậm chí họ còn là người mang lại thu nhập chính cho gia đình, nhưng phần lớn
quyền quyết định chính thuộc về người chồng, người vợ chỉ là người thực thi các
quyết định đó (Đặng Thị Hoa, 2001; Mai Huy Bích và Lê Thị Kim Lan, 1999).
Lý giải cho điều này các nghiên cứu chỉ ra rằng đây là do ảnh hưởng của định
kiến giới vẫn còn tồn tại trong gia đình nông thôn, do tư tưởng trọng nam kinh
nữ, đề cao vai trò địa vị của nam giới.
Thu nhập là một trong nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến việc ra quyết định
trong gia đình, đặc biệt là đối với người phụ nữ nông thôn. Một số lý thuyết như
Kinh tế học, lý thuyết giai cấp và địa vị đã khẳng định thu nhập là cơ sở của
quyến lực, cũng là cơ chế ra quyết định trong gia đình. Các nghiên cứu có chung
11
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
nhận định rằng trong nông thôn người vợ thường đảm nhiệm hầu hết các công
việc nhưng thu nhập bằng tiền thường thấp hơn người chồng nên người chồng
thường có vai trò quyết định đối với các công việc chính.
Tác giả Hoàng Bá Thịnh trong cuốn Vai trò của người phụ nữ nông thôn
trong công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn đã dẫn chứng một nghiên cứu về
việc phân công lao động nội trợ trong gia đình ở Việt Nam cho thấy người vợ
làm 4,6 trong 6 công việc nội trợ, điều này phản ánh thực tế rằng công việc nội
trợ là trách nhiệm chủ yếu của người vợ. Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Bình và
Lê Ngọc Lân về vấn đề Phụ nữ ngèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị
trường cho thấy tỷ lệ đóng góp về thu nhập của người phụ nữ luôn thấp hơn
người chồng. Xuất phát điểm thu nhập thấp hơn người chồng nên người phụ nữ
trong nôn thôn thường ít có quyền quyết định trong các công việc quan trọng của
gia đình. Vì vậy, các tác giải cũng nhấn mạnh rằng trong thu nhập của người vợ
cần tính đến cả thu nhập dưới dạng đóng góp công sức cho việc nội trợ và chăm

trạng mất đất của nông dân. Ở Đồng bằng sông Mêkông, 1/3 người nghèo nông
thôn không có đất, và tỷ lệ người dân mất đất đã tăng gấp đôi. Hệ quả là nguồn
thu nhập chính của họ bị giảm sút mạnh, khiến khoảng cách nông thôn và thành
thị ngày càng gia tăng. Đó là chưa kể quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường cũng tạo ra những cú sốc và tổn thương đối
với tầng lớp lao động và người nghèo ở nước ta. Do vậy, hạn chế trong khả năng
tiếp cận với hệ thống an sinh xã hội cũng làm gia tăng bất bình đẳng.
Cơ chế xin cho, bao cấp, môi trường kinh doanh nghiệp bình đẳng, thông
tin thiếu minh bạch đã tạo kẽ hở cho một số người giầu lên nhờ đầu cơ (đất đai,
chứng khoán…), buôn lậu, tham nhũng, trốn thuế…. Trong khi một bộ phận dân
cư không có cơ hội làm giầu hoặc bị chèn ép vì không có “quan hệ” tốt.
13
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
- Ảnh hưởng của chế độ phụ hệ
Chế độ phụ hệ là chế độ mà người phụ nữ trong gia đình không được nắm
giữ quyền lực, quyền lãnh đạo. Hầu hết mọi quyền lực đều nằm trong tay người
chồng, người phụ nữ chỉ là người thực thi quyết định hoặc nếu có thì cũng chỉ là
người được tham gia một phần ý kiến.
- Nếp sống gia trưởng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các gia đình ở nông
thôn
2.4 Các ví dụ cụ thể
* Vai trò của giới trong quyết định di cư
Theo điều tra về người quyết định việc di cư trong tạp chí Nghiên cứu giới
và Gia đình quyển 20 số 1 của Phạm Thị Huệ thì có tới 80,3% nam giới trả lời
họ di cư là do chính bản thân họ quyết định. Trong khi đó tỉ lệ này ở nữ là
59,8%, ít hơn nam giới đến 20,5%. Trong khi đó chỉ có 12,2% nam giới trả lời cả
gia đình cùng tham gia bàn bạc quyết định chuyện di cư của họ, tỉ lệ này ở nữ là
28,1%, cao gấp 2,3 lần so với nam giới. Đặc biệt chỉ có 1,3% nam giới cho rằng
họ di cư là do vợ mình quyết định. Như vậy, có tiếng nói quyết định trong các
công việc gia đình, quyền quyết định của nam giới tự mình quyết định di cư

phụ nữ và nam giới bình đẳng nhưng để đạt đến sự ngang bằng về vị trí và vai
trò trong gia đình thực sự còn 1 bước khá dài. Người phụ nữ trong gia đình
không phải là người quyết định cuối cùng, người quyết định các công việc trong
gia đình là chồng (20,46%), vợ (9,01%), cả 2 vợ chồng (56,81%), những người
khác (13,63%).
15
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động của xã Thụy Dân
Tính đến ngày 31/12/2008 toàn xã có 5068 nhân khẩu với 1381 hộ. Dân số
xã Thụy Dân phân bố không đều ở các thôn tập trung đông nhất ở khu vực trung
tâm xã (thôn An Tiêm 1 là 1273 nhân khẩu, An Tiêm 2 là 1216 nhân khẩu).
16
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
Những năm qua dưới sự chỉ đạo của cấp Đảng Ủy, chính quyền xã, kế
hoạch hóa gia đình được tuyên truyền một cách tích cực nên tỉ lệ sinh giảm, hạn
chế sinh dày và sinh con thứ ba. Tỉ lệ sinh tự nhiên năm 2007 giảm 0,72% so với
năm 2005.
Mặc dù mức sinh đã giảm nhưng kết quả chưa thật vững chắc, tỉ lệ tăng
dân số tự nhiên còn cao, từ đó kéo theo nhiều sức ép về việc làm, đời sống, y tế,
văn hóa, giáo dục, trật tự xã hội cũng như vấn đề sử dụng đất, đây là thách thức
lớn đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong sự phát triển
chung của xã hội.
Về lao động, có thể nói Thụy Dân có nguồn lao động khá dồi dào, song
chất lượng lao động chưa thật cao, lao động phổ thông chiếm đa số, lao động qua
đào tạo chiếm tỉ trọng nhỏ và thường chỉ được đào tạo ngắn hạn, chưa cơ bản.

Người 2076 41,8 2077 41,41 2081 41,06 100,05 100,79 100,12
Lao động phi nông Người 222 4,47 232 4,62 234 4,63 104,5 100,86 102,67
17
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
nghiệp
(Nguồn: Ban thống kê xã Thụy Dân)
3.1.2.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Thụy Dân
Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế nói chung, xã Thụy Dân đã
có những bước phát triển nhất định, được thể hiện ở các chỉ tiêu như cơ cấu kinh
tế của xã trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỉ trọng
ngành nông nghiệp giảm, tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng, tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân là 13,87%, lương thực bình quân đầu người tăng, tỉ lệ
đói nghèo giảm. Mặc dù đã có sự phát triển nhất định nhưng nhìn chung còn
chậm, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội còn thấp hơn mức trung bình của toàn tỉnh.
(Bảng 3.2)
Bảng 3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Thụy Dân (2006 – 2008)
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 Tốc độ phát triển
SL (tỉ
đồng)
CC
(%)
SL (tỉ
đồng)
CC
(%)
SL (tỉ
đồng)
CC
(%)

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
5.2 Kiến nghị
19
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status