Khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi tại làng thiếu niên Thủ Đức - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

TÊN ĐỀ TÀI:
KHẢ NĂNG HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA TRẺ MỒ CÔI TẠI LÀNG
THIẾU NIÊN THỦ ĐỨC

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S NGUYỄN THỊ THANH TÙNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN:

1. PHAN THỊ VIỆT NGA 1356150058
2. VÕ THỊ KIM CHI 1356150010

thách thức gì sẽ đến với trẻ? Khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ sẽ như thế nào?
Với những lý do đó, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài "Khả năng hòa nhập cộng
đồng của trẻ mồ côi tại Làng thiếu niên Thủ Đức".
Thông qua nghiên cứu này, chúng tôi cũng mong muốn đưa ra một số kiến nghị và
giải pháp nhằm xây dựng một mô hình giúp trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi ở Việt Nam nói
chung, ở Làng thiếu niên Thủ Đức nói riêng có thể hòa nhập tốt hơn với cộng đồng.

2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
2
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Tìm ra những khó khăn, thách thức, cơ hội và những mong muốn của các em khi
chuẩn bị rời khỏi mái ấm để bắt đầu cuộc sống mới. Đồng thời tìm ra các giải pháp hỗ
trợ các em để việc hòa nhập cộng đồng dễ dàng hơn.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu cuộc sống hiện tại của những trẻ mồ côi đang chuẩn bị và những trẻ
đã rời khỏi mái ấm.
- Tìm hiểu thái độ cũng như tâm lý của các em chuẩn bị rời khỏi mái ấm và
những em mới rời khỏi trung tâm nuôi dưỡng.
- Tìm hiểu những điều mà các em cần và mong muốn thực hiện cho cuộc sống
mới, những mong muốn đối với trung tâm nuôi dưỡng và xã hội.
- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị hỗ trợ các em hòa nhập tốt với cộng đồng.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ
mồ côi.
3.2. Khách thể nghiên cứu:

.
Và đây cũng là phương pháp thu thập thông tin chính của đề tài.
Cơ cấu mẫu:
Quy mô tổng thể: 72 trẻ Mức sai số: 10%
Quy mô mẫu: n=
).1(
2
eN
N
=
))1.0.(721(
72
2
42 (trẻ)
Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu một mẹ trong ban quản lý Làng thiếu
niên Thủ Đức.
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản.

c. Phương pháp quan sát:
Làng thiếu niên Thủ Đức chính là nơi chúng tôi tiến hành quan sát. Vì tại đây, các trẻ em
mồ côi đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ trước khi hòa nhập vào cộng đồng. 5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
5.1. Ý nghĩa lý luận:
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và mong muốn
của trẻ em mồ côi trước và sau khi hòa nhập cộng đồng. Từ đó góp phần làm phong 1

Đề tài gồm có ba phần: phần dẫn nhập, phần nội dung và phần kết luận.
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng, khách thể và phạm vi
nghiên cứu; ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn; phương pháp.

Phần nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết .
Chương 2: Khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ mồ côi tại Làng thiếu niên Thủ Đức.
Chương 3: Mong muốn của trẻ trước và sau khi hòa nhập cộng đồng.
5
5
Phần kết luận: Kết luận và khuyến nghị mô hình nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng
cho trẻ mồ côi tại Làng thiếu niên Thủ Đức.
PHẦN NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu:

Trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi là một trong những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt
nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội. Trong thời gian qua đã có rất nhiều công
trình, đề tài, bài báo trên nhiều lĩnh vực khác nhau hướng tới đối tượng này, đặc biệt
là trong lĩnh vực khoa học xã hội.
"Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ
trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam" do Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội Việt Nam được sự giúp đỡ của UNICEF tổ chức biên soạn năm 2009.
Bài báo cáo đã nêu ra tổng quan về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ dễ bị
tổn thương trên thế giới và ở Việt Nam. Đồng thời, báo cáo còn cho chúng ta thấy các
hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em ở Việt

giai đoạn 2014-2020 tại tỉnh Lâm Đồng” hướng đến mục tiêu huy động sự tham gia
của xã hội, gia đình cộng đồng trong việc chăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn để ổn định cuộc sống, có cơ hội thực hiện các quyền của trẻ em để hòa nhập
cộng đồng theo qui định của pháp luật; phát triển các hình thức chăm sóc thay thế trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng Cụ thể, tăng cường mức trợ
cấp hàng tháng, trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhằm
đảm bảo ổn định đời sống tạo điều kiện cho trẻ em có cơ hội phát triển toàn diện.
Thúc đẩy các chính sách, cơ chế can thiệp sớm, phục hồi chức năng dựa vào cộng
đồng với giáo dục hòa nhập cho trẻ. Thực hiện cơ chế đổi mới chức năng các cơ sở
bảo trợ xã hội chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo
hướng cung cấp các dịch vụ CTXH.
Kế hoạch đã chú trọng đến việc phát triển các dịch vụ CTXH cho trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn một cách chuyên nghiệp hiệu quả.
Tại một số trang Web như vietbao.vn hay vicongdong.vn đã nêu được các khó
khăn của trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.
Trên trang diendan.bacgiangview.com đăng bài Tìm trẻ mồ côi có hoàn cảnh khó
khăn để giúp đỡ. Các cơ quan, tổ chức đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ trẻ em về mặt
vật chất và mang đến tính chất tạm thời.
Trên trang baokhanhhoa.com số ra ngày 26/9/2014 đăng bài “Giúp trẻ em hòa
nhập cộng đồng”. Từ thực tế số lượng trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trong cộng đồng là rất 7
7
lớn và trẻ phải chịu nhiểu thiệt thòi trong cuộc sống. Các em không có được sự dìu
dắt, chỉ dạy của bố mẹ, người thân, không được đến trường Những điều này rất dễ
đẩy các em đến những con đường sai trái, trở thành nạn nhân của những kẻ xấu lợi
dụng đi xin ăn, buôn bán trẻ em. Cuộc sống vật chất, tinh thần khó khăn đã cản trở trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc
làm, chính sách pháp luật và thực hiện các chính sách liên quan đến trẻ em chưa đầy

quả của mỗi chuỗi các tương tác giữa các lớp cắt của môi trường
2
.
Nói cách khác, thuyết sinh thái là hệ quả của một chuỗi hệ thống chỉ sự tác động
mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân.
Cá nhân được xem như là bị lôi cuốn vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống
khác nhau trong môi trường. Theo Barker: "Hệ thống là một sự kết hợp các yếu tố có
tính trao đổi, tương tác lẫn nhau và ranh giới dễ nhận biết". Hệ thống có thể mang
tính vật chất, cơ học, sinh động và xã hội, hoặc kết hợp những yếu tố này. Lý thuyết
sinh thái là tập hợp con của lý thuyết hệ thống. Có thể định nghĩa ba cấp độ hệ thống
như sau:
Cấp vi mô: Hệ thống này đề cập đến một cá nhân và kết hợp các hệ thống sinh
học, tâm lý và xã hội tác động lên cá nhân ấy.
Cấp trung mô: Hệ thống này đề cập đến nhóm nhỏ ảnh hưởng đến cá nhân như
gia đình, nhóm làm việc và những nhóm xã hội khác.
Cấp vĩ mô: Hệ thống này nói đến các nhóm và những hệ thống lớn hơn gia đình.
Bốn hệ thống vĩ mô quang trọng tác động đến cá nhân là các tổ chức, các thiết chế
cộng đồng và nền văn hóa.
Đối với những trẻ mồ côi, các em sống trong môi trường thiếu tài nguyên. Do
đó, sự phát triển thể chất, xã hội, tình cảm và việc thực hiện chức năng sẽ bị ảnh
hưởng. Đồng thời, các em còn gặp phải những căng thẳng trong cuộc sống, có hành vi
đối phó không phù hợp do thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội (bạn bè, người thân, láng
giềng, bạn đồng nghiệp, ).
Khái niệm "chỗ đứng" trong lý thuyết này nói đến địa vị hay vai trò của một
thành viên trong cộng đồng. Những trẻ em mồ côi khi trưởng thành cũng có nhiệm vụ
là tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội, để được mọi người nể trọng và đạt được
cảm giác ổn định về bản thân. Thực hiện được điều này, bên cạnh sự giúp đỡ từ
những người xung quanh, chính bản thân các em cũng phải nỗ lực rất nhiều. Do đó,
cần đánh giá đúng vấn đề của trẻ mồ côi để lên kế hoạch can thiệp, cần xem xét tác
động hỗ tương giữa trẻ mồ côi với môi trường sống để có những nhận định chính xác.

mình. Một hành động hoặc một quá trình hành động tạo tính xã hội".
Xã hội hóa sẽ mang đến cho cá nhân các kỹ năng cần thiết mà xã hội đòi hỏi,
nhờ các kỹ năng đó có đủ khả năng hòa nhập vào trong xã hội mà chính anh ta đang
sống và làm việc. Quá trình xã hội hóa có thể đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ ít tới nhiều. Quá trình xã hội hóa diễn ra ở ba giai đoạn đó là: giai đoạn gia
đình, giai đoạn nhà trường, giai đoạn mà người ta phải thực sự bước vào đời. Đây là
ba tác nhân quan trọng giúp cá nhân hòa nhập vào xã hội. Trong quá trình xã hội hóa
của một cá nhân, chúng ta cần chú ý đến việc đứt đoạn xã hội hóa thì phải "tái hòa
nhập" cộng đồng mình đang sống; dù vậy, ở đâu xảy ra trường hợp nếu một cá nhân
mà bị đứt đoạn quá trình xã hội hóa quá lâu thì việc tái hòa nhập thật sự là một khó
khăn.
Lý thuyết cho phép chúng ta tìm hiểu và phân tích đề tài đối với trẻ mồ côi dưới 10
10
góc độ tìm hiểu những yếu tố tác động và ảnh hưởng của môi trường sống lên trẻ.

2.3. Thuyết nhu cầu con người:
Theo thuyết động cơ của Maslow, con người là một thực thể sinh- tâm lý xã hội.
Do đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống (nhu cầu về sinh học) và nhu
cầu xã hội
3
. Theo đó, ông chia nhu cầu con người thành 5 thang bậc từ thấp đến cao:
Nhu cầu sống còn, bao gồm: nhu cầu về không khí, nước, thức an, quần áo, nhà
ở, nghỉ ngơi
- Nhu cầu an toàn: Ai cũng có mong muốn được sống trong một thế giới hòa
bình, không có chiến tranh, không có bạo lực, kể cả trong những trường hợp bị mất kế
sinh nhai được Nhà nước và xã hội bảo vệ và giúp đỡ.
- Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: Là con người xã hội, con người có các

có được điều kiện tối ưu để phát triển. Điều kiện này thay đổi theo mỗi hoàn cảnh, có
mặt mạnh mặt yếu. Mặt mạnh sẽ giảm bớt thiệt hại do mặt yếu gây ra. Thí dụ: Con
nhà nghèo không được cha mẹ thương yêu quan tâm, mồ côi nhưng được cha mẹ nuôi
hết lòng chăm sóc, khuyết tật nhưng được Nhà nước, cộng đồng và gia đình kết hợp
tốt nên cuộc sống được an ủi, thoải mái
4
.
Có nhiều định nghĩa về trẻ em. Theo định nghĩa của Luật Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ
em thì trẻ em là những công dân dưới 16 tuổi. Theo Công ước Quốc tế: trẻ em là
người dưới 18 tuổi. Theo định nghĩa sinh học, trẻ em con người ở giai đoạn phát triền,
từ khi còn trong trứng nước tới tuổi trưởng thành.
Và trong đề tài, chúng tôi chọn khái niệm trẻ em dưới góc độ xã hội học: trẻ em
là giai đoạn con người đang học cách tiếp nhận những chuẩn mực của xã hội và đóng
vai trò xã hội của mình. Đây là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và là giai đoạn đóng
vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi con người.

3.2. Trẻ mồ côi:
Theo Pháp luật Việt Nam, trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em dưới 16
tuổi mà cha mẹ đã qua đời hoặc bị cha mẹ bỏ rơi và không có người nào có thể nuôi
dưỡng, hoặc cha mẹ đã qua đời hay bị mất tích hoặc không có khả năng nuôi dưỡng.
Trong đề tài, trẻ mồ côi là trẻ dưới 16 tuổi, mồ côi cà cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi,
bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt để nương tựa. Trẻ
em trong Làng thiếu niên Thủ Đức mà chúng tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu là
những trẻ em mồ côi bị gia đình bỏ rơi hoặc cơ quan, chính quyền địa phương đưa
vào trung tâm để nuôi dưỡng, chăm sóc. 3.3. Cộng đồng:
Khái niệm "cộng đồng" là một khái niệm được hình thành và phát triển trong quá


Hòa nhập là tham gia hòa vào để không có sự tách biệt.
Tái hòa nhập là tham gia hòa vào để không có sự tách biệt nhưng trước đó đã có
sự tách biệt.
Hòa nhập xã hội là một quá trình trong đó các phần tử mới được tiếp nhận vào
một hệ thống sao cho sao đó chúng không khác gì những phần tử cũ.

4. Giả thuyết nghiên cứu:
Chúng tôi đặt ra các giả thuyết sau: 13
13
 Khó khăn khi hòa nhập cộng đồng của trẻ mồ côi
+ Trẻ em mồ côi sẽ khó hòa nhập cộng đồng vì thiếu kỹ năng sống, trình độ học vấn
thấp.
+ Trẻ em mồ côi khó tìm kiếm việc làm.
 Mong muốn của trẻ mồ côi trước và sau khi rời khỏi trung tâm nuôi dưỡng
+ Tâm lý của trẻ ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập cộng đồng.
+ Trẻ thường hy vọng và có những ước muốn khi chuẩn bị cho cuộc sống mới.
+ Cuộc sống hiện tại sẽ tạo ra những mong muốn của trẻ đối với trung tâm khi trẻ chuẩn
bị ra xã hội. 14
14
5. Khung nghiên cứu:
Cộng đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status