Báo cáo tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là những người chủ tương lai của đất nước chính vì vậy luôn
nhận được sự quan tâm hết mực từ gia đình và xã hội. Muốn có một đất nước
phát triển thì phải chăm lo cho trẻ em đó là một mục tiêu hàng đầu cho sự
phát triển bền vững.
Nhưng ở trong cuộc sống thường ngày còn có rất nhiều trẻ em không
nhận được sự quan tâm đó mà bị xã hội kỳ thị, xa lánh vì những khiếm khuyết
trên cơ thể của các em.Trên cả nước nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng
số lượng trẻ em bị khiếm thị chiếm một phần không nhỏ và nỗi đau của các
em không ai có thể hiểu hết được, phải trở thành gánh nặng cho gia đình và xã
hội các em cũng đâu muốn nhưng không phải may mắn luôn gõ cửa mỗi số
phận con người. Và các em là những số phận thiếu may mắn đó, nói về
khuyết tật thì có rất nhiều dạng nhưng khuyết tật về thị giác có lẽ là khuyết tật
gây ra nhiều khó khăn nhất. Các em không thể tự lo cho cuộc sống của mình
không thể làm những việc như vệ sinh cá nhân cho bản thân hay thậm chí có
những em từ khi sinh ra không thể biết được hình hài của bố mẹ người thân
mình như thế nào. Trong bức tranh đa màu của cuộc sống các em chỉ cảm
nhận bằng một màu đen.
Với mong muốn được thêm một chấm sáng trong bức tranh cuộc sống
đơn màu ấy của các em, tôi thực hiện đề tài “Nâng cao khả năng hòa nhập
cộng đồng cho trẻ khiếm thị ở tỉnh hội người mù Thừa Thiên Huế, thực trạng
và giải pháp” để các em nơi đây có thể cảm nhận những màu sắc của cuộc
sống qua những kỹ năng sống của các em được nâng cao hơn, những việc các
em có thể làm và đưa các em tiến tới với những gì trong cuộc đời này các em
xứng đáng được nhận
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 1
Báo cáo tốt nghiệp
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
a.Đối tượng nghiên cứu.
Theo phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng yêu cầu phải nhìn
các sự vật trong mối quan hệ biện chứng. Nghĩa là phải nhìn mọi sự vật, hiện
tượng không tồn tại riêng biệt tách rời mà luôn luôn trong mối quan hệ tương
tác, quyết định lẫn nhau. Trong quá trình xem xét, đánh giá mọi sự vật hiện
tượng, sự kiện xã hội phải đặt trong mối quan hệ toàn diện với điều kiện kinh
tế - xã hội đang vận động,biến đổi trên địa bàn nghiên cứu.
Trong đề tài này, khi tìm hiểu thực trạng và giải pháp nâng cao khả
năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ khiếm thị tại tỉnh Hội chúng ta phải đặt
trong bối cảnh kinh tế xã hội nước ta ở thời điểm hiện tại. Các giá trị mới của
xã hội hiện đại, sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, sự toàn cầu hóa đang tác
động lên mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có trẻ em khuyết tật.
4.3. Phương pháp điều tra xã hội học
Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp thu thập
thông tin của xã hội học như:
+ Phương pháp tiếp cận phỏng vấn cá nhân
Cuộc nghiên cứu thực trạng hòa nhập cộng đồng của trẻ khuyết tật
trong Tỉnh Hội, bên cạnh đó để hiểu sâu hơn bản chất của vấn đề đang nghiên
cứu. Phương pháp này phục vụ cho việc khai thác các thông tin về mong
muốn của các trẻ khiếm thị, thái độ của những người xung quanh về vấn đề
hòa nhập cộng đồng của trẻ khiếm thị.
Những điều lưu ý khi tiến hành phương pháp phỏng vấn cá nhân về
thực trạng và một số giải pháp nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ
khiếm thị.
- Mục đích của phương pháp phỏng vấn: Thu thập thông tin về thực
trạng nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ.
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 3
Báo cáo tốt nghiệp
- Đối tượng: phỏng vấn một số cán bộ làm trong Tỉnh Hội người mù
và trẻ khiếm thị tại đây.
Kỹ năng phỏng vấn: Khi phỏng vấn phải nhẹ nhàng tế nhị,gây được cảm
Đề tài giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tiểu học của Huỳnh Thị Thu
Hằng, Trần Thị Hòa, Lê Thị Hằng đề tài đã nghiên cứu và đưa ra những cách
thức giáo dục hòa nhập cho trẻ em khuyết tật ở bậc tiểu học
Bùi Thị Lâm, Tổ chức thực hiện tiết học cá nhân cho trẻ mẫu giáo
khiếm thính.
Đề tài đã nêu lên cách thức thực hiện những tiết học cá nhân cho trẻ
khiếm thính để giúp các em mẫu giáo bị khiếm thính có thể học được như
những bạn cùng trang lứa khác
Đào Thị Hương Liên, Nghiên cứu các phương pháp dạy học cho trẻ
khuyết tật trong trường chuyên biệt. Đề tài đã nghiên cứu những phương pháp
dạy học cho trẻ khuyết tật trong những môi trường chuyên biệt. Giúp các em
khuyết tật có thể học tập một cách có hiệu quả nhất nhưng đề tài chỉ mới dừng
lại ở phương pháp day học chứ chưa đưa ra được các giải pháp giúp các em
học tập trong môi trường chuyên biệt có thể hòa nhập với bên ngoài
Hoàng Thị Nho, Biên soạn tài liệu dạy kĩ năng định hướng di chuyển
cho trẻ khiếm thị. Đề tài này giúp các em khiếm thị có thể học cách di chuyển
dễ dàng hơn, giúp các em có thể định hướng để di chuyển một cách tốt nhất.
Đối với trẻ khiếm thị thì kỹ năng định hướng để di chuyển là vô cùng quan
trọng và đề tài đã phần nào hỗ trợ giúp các em nâng cao được kỹ năng này.
Nhưng đề tài cũng chưa đưa ra được những cách thức hay giải pháp nhằm
nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ khiếm thị hiện nay.
Trên địa bàn Thừa Thiên Huế hiện nay đã có những đề tài, những báo
cáo về trẻ khuyết tật nhưng chưa có đề tài nào thực hiện tại Tỉnh Hội người
mù Thừa Thiên Huế giúp những trẻ em khiếm thị nơi đây có thể nâng cao khả
năng hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất. Giúp các em cũng như Tỉnh hội
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 5
Báo cáo tốt nghiệp
và gia đình các em tìm ra nguyên nhân giải pháp để nâng cao khả năng hòa
nhập với cuộc sống bên ngoài của các em nơi đây.
6. Đóng góp của đề tài
và phụ lục nội dung chính được chia đề tài thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Thực trạng hòa nhập cộng đồng cho trẻ khiếm thị tại Tỉnh
Hội người mù Thừa Thiên Huế
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng
cho trẻ khiếm thị tai Tỉnh Hội người mù thừa Thiên Huế
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 7
Báo cáo tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tỉnh Hội người mù Thừa
Thiên Huế
Người xưa có câu ‘‘giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay’’. Xuất phát từ
tâm tư nguyện vọng của người mù trong tỉnh, ngày 28/10/1993 Hội người mù
được UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế ra quyết định 1164/QĐ- UBND cho phép
thành lập, nhằm mục đích để chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần cho
người mù có cuộc sống ổn định, vươn lên hòa nhập cộng đồng. Những hoạt
động chủ yếu là phát triển tổ chức, thành lập các đơn vị cơ sở huyện, thành
hội, chi hội, điều tra khảo sát kết nạp hội viên, mở lớp xóa mù chữ Braille,
nâng cao dân trí, mở các lớp dạy con em người mù phát triển kinh tế gia đình.
Tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ để thực thi những dự án
phục vụ hội.
Sau 20 năm hoạt động Hội đã thành lập được 9 đơn vị huyện, thành, thị
hội, 137 chi hội xã, phường, thị trấn, kết nạp 1998 hội viên/ 3000 người mù.
Số hội viên trong độ tuổi lao động và độ tuổi học tập chiếm 40%. Hội người
mù tỉnh thừa Thiên Huế luôn chú trọng và đẩy mạnh tất cả các mặt hoạt động
nhằm giúp người mù nâng cao trình độ văn hóa. Đa số người mù trình độ dân
trí thấp, ít được học hành, nhất là những người bị mù lúc còn nhỏ hoặc bẩm
sinh, những người ở vùng sâu vùng xa. Hàng năm hội tổ chức chiêu sinh trẻ
nay trên địa bàn có khoảng 68 kỹ thuật viên xoa bóp và giải quyết việc làm
cho 300 lao động có ngành nghề. Điều trăn trở của lãnh đạo công ty là mong
muốn làm sao để mở được thêm những cơ sở mới để tạo thêm việc làm cho
người mù
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 9
Báo cáo tốt nghiệp
Những kết quả đã đạt được trong 20 năm qua Hội người mù tỉnh Thừa
Thiên Huế đã vinh dự đón nhận huân chương Lao Động hạng 3 năm 2004,
huân chương lao động hạng 2 năm 2009, 3 bằng khen của Thủ Tướng Chính
Phủ, 4 bằng khen của Bộ Lao động Thương Binh Xã hội, 108 bằng khen của
UBTWMTTQVN, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, của TW hội người mù Việt
Nam, 106 giấy khen của các cấp các ngành trong tỉnh trao tặng cho các tập
thể cá nhân trong hội. Đây thực sự là vinh dự to lớn của Hội người mù tỉnh.
Cùng với sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành tổ chức, cá nhân từ
thiện trong và ngoài nước, tập thể cán bộ Hội người mù tỉnh Thừa Thiên Huế
nguyện đoàn kết, phấn đấu để dưa tổ chức hội và các đơn vị sự nghiệp trực
thuộc ngày càng vững mạnh, đời sống của người mù ngày một đi lên
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 10
Báo cáo tốt nghiệp
1.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tỉnh Hội người mù Thừa Thiên Huế
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 11
Chủ tịch
LÊ VĂN LỘC
PHÓ CHỦ TỊCH
PHAN VĂN TAM
PHÓ CHỦ TỊCH
PHAN VĂN QUỐC
CHÁNH VĂN PHÒNG
ĐẶNG CÔNG CHÁNH
Tuỳ theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hay cấp độ đánh giá mà đưa ra
những định nghĩa hay khái niệm về trẻ em. Có thể tiếp cận về mặt sinh học,
tiếp cận về mặt tâm lý học, y học, xã hội học Từ những khái niệm tiếp cận
đi đến những khái niệm hoặc định nghĩa khác nhau về các nhóm trẻ em. Tuy
vậy, trong các định nghĩa hoặc khái niệm đó đều có những điểm chung và
thống nhất là căn cứ vào tuổi đời để xác định số lượng trẻ em. Quốc tế đã đưa
ra khái niệm chung là: ‘‘ Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi
luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”. Khái niệm này đã lấy
tuổi đời để định nghĩa trẻ em và lấy mốc là dưới 18 tuổi. Khái niệm này cũng
được mở rộng cho các quốc gia có thể qui định mốc tuổi dưới 18 tuổi.
Ở Việt Nam xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau của các ngành
khoa học cũng như từ bản chất chính trị - xã hội và thực tiễn truyền thống văn
hoá, khả năng nguồn lực của Nhà nước mà đưa ra khái niệm cụ thể về trẻ em.
* Điển hình ngành khoa học lao động đã căn cứ tâm sinh lý của con
người để xác định những người đủ15 tuổi trở lên được xếp vào lực lượng lao
động nhưng vẫn khuyến khích các em độ tuổi từ 15 -18 đến trường.
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 12
Báo cáo tốt nghiệp
* Tiếp cận từ chính sách chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em qui định
trẻ em là những người dưới 16 tuổi
* Tiếp cận khía cạnh pháp luật có qui định thêm tuổi vị thành niên ( 16
-18 tuổi).
Như vậy, khái niệm trẻ em có thể được hiểu là: Trẻ em là những người
dưới 16 tuổi, người từ 16 tuổi đến đủ 18 tuổi coi là vị thành niên và trong một
số trường hợp như làm trái pháp luật,nghiện hút, mại dâm thì cũng được coi
như trẻ em và có biện pháp giải quyết đặc thù riêng.
1.2.2. Khái niệm trẻ em khuyết tật
Theo pháp lệnh về người tàn tật:" người tàn tật không phân biệt nguồn
gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc
chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng
trường, tham gia vào các hoạt động xã hội khác.
1.2.3. Khái niệm trẻ khiếm thị
Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có khuyết tật thị giác, khi đã có
phương tiện trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần
sử dụng mắt.
1.2.4. Khái niệm hòa nhập cộng đồng
Hòa nhập cộng đồng theo nghĩa rộng là một xã hội không có rào cản
cho mọi người trong việc tham gia vào đời sống xã hội. trong tiến trình xã hội
hóa của cá nhân sẽ không gặp bất cứ khó khăn nào làm trở ngại đến tâm lý,
sức khỏe và về mặt xã hội.
Theo nghĩa hẹp đó là sự hòa nhập của các nhóm đối tượng dễ bị tổn
thương trong việc tham gia vào đời sống xã hội. Những rào cản này bao gồm
thái độ kỳ thị xa lánh và phân biệt đối xử thậm chí là bất bình đẳng của cộng
đồng đối với từng cá nhân
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 14
Báo cáo tốt nghiệp
1.3. Quản lý Nhà nước đối với bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
1.3.1. Khái niệm về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trong công tác trẻ em thường dùng ba thuật ngữ: "Bảo vệ', "chăm sóc",
"giáo dục" trẻ em. Có thể hiểu ba thuật ngữ này qua cac hành vi sau đây:
Hai hành vi cơ bản quan trọng nhất để bảo vệ trẻ em :
- Phòng ngừa để trẻ em không bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
bao gồm phòng ngừa tàn tật, phòng ngừa mồ côi, phòng ngừa bị xâm hại tình
dục, phòng ngừa trẻ em nghiện ma tuý, phòng ngừa lang thang.
- Khi trẻ em vì một lý do nào đó đã rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn thì phải giúp chúng thoát ra khỏi hoàn cảnh đó, trở về cuộc sống bình
thường (tái hoà nhập cộng đồng) hoặc không để tình hình xấu hơn (từ mồ côi
thành lang thang, từ một dạng tật do thiếu sự quan tâm cần thiết trở thành hai
dạng tật, từ lang thang thành tội phạm nghiện hút ).
Hai hành vi cơ bản quan trọng để chăm sóc trẻ em:
Như vậy, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TEKT của Nhà nước
là tạo môi trường pháp lý, hành chính thuận lợi để bảo vệ quyền của trẻ em và
tạo điều kiện để các em hoà nhập công đồng, hội nhập để phát triển toàn diện
như những trẻ em bình thường khác.
Cụ thể, trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khiếm thị,
Nhà nước thể hiện chức năng quản lý của mình bằng việc bảo vệ các em
chống lại bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào và có những biện pháp tích
cực để bảo vệ quyền trẻ em, Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại sự xâm
hại về thể chất hay tinh thần, kể cả việc bóc lột và lạm dụng trẻ em. Nhà
nước bảo vệ trẻ em không bị bóc lột về kinh tế, không phải làm những công
việc làm ảnh hưởng đến học tập của các em hay tổn hại đến sức khoẻ, phúc
lợi của các em.
Nhà nước đảm bảo cho các em được tiếp xúc với các thông tin và tài
liệu có xuất xứ từ các nguồn khác nhau, phải khuyến khích các phương tiện
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 16
Báo cáo tốt nghiệp
thông tin đại chúng truyền bá những thông tin có ích lợi về mặt văn hoá xã
hội đối với trẻ em, Nhà nước bảo vệ trẻ em chống lại những tài liệu nguy hại.
Đối với các trẻ em bị tước mất môi trường gia đình, Nhà nước có nghĩa vụ
bảo vệ đặc biệt, đảm bảo sao cho các em được hưởng sự chăm sóc thích hợp,
thay thế cho sự chăm sóc của gia đình hoặc có những cơ sở nuôi dạy các em.
Trẻ em có quyền được bảo vệ không phải làm những công việc gây tổn
hại đến sức khoẻ, giáo dục và sự phát triển của các em. Do vậy, Nhà nước
phải quy định đối với việc tuyển mộ lao động và quy định những điều kiện
lao động để tránh cho các em các đáng tiếc kể trên
Như vậy, quản lý Nhà nước đối với bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em là các hoạt động của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các gia đình có đối tượng
thông qua các chương trình phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo, vay
vốn, tạo việc làm, cứu trợ xã hội
Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
được học hành, chữa bệnh, vui chơi.
- Nhà nước quan tâm tới các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức
của nhân dân và tổ chức đào tạo những người làm công tác xã hội ở các cấp.
- Nhà nước trực tiếp hỗ trợ cho những đối tượng đặc biệt khó khăn
nhất và ban hành chính sách hỗ trợ gia đình nghèo, gia đình có trẻ em tàn tật,
trẻ em mồ côi, mở các trường lớp chuyên, các trung tâm phục hồi chức
năng để giúp các em học tập, chữa trị, có cơ hội bình đẳng như trẻ em khác
để hoà nhập cộng đồng.
- Nhà nước quản lý các tổ chức ở trong nước, ở các thành phần khác
nhau (tư nhân, từ thiện ) làm nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
khiếm thị.
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 18
Báo cáo tốt nghiệp
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO TRẺ
KHIẾM THỊ TẠI TỈNH HỘI NGƯỜI MÙ THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Thực trạng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em khiếm thị tại tỉnh Hội
2.1.1. Thực trạng đời sống của trẻ khiếm thị
Những trẻ em khiếm thị là những mảnh đời chịu rất nhiều thiệt thòi vì
các em chẳng thể thấy được những sắc màu tươi đẹp của cuộc sống bằng đôi
mắt của mình. Các em chỉ có thể cảm nhận thay cho việc nhìn thấy cuộc đời
thông qua đôi bàn tay, đôi tai lắng nghe để biết được rằng vạn vật xung quanh
có hình thù như thế nào. Bạn đã bao giờ nhắm mắt lại từ mò mẫm tìm đường
đi, sờ nắn những đồ vật bằng đôi tay để biết nó là vật gì thì bạn sẽ thấu hiểu
được những khó khăn của trẻ khiếm thị. Hay đơn giản như trò chơi bịt mắt bắt
dê thuở nhỏ ai chẳng từng chơi một lần cái cảm giác bước đi bằng đôi chân
nhưng đôi tay định hướng thay cho đôi mắt để tìm đến đối phương thật là khó
khăn. Nhưng nó chỉ là một trò chơi và ta chỉ trãi nghiệm nó trong một chốc lát
còn những trẻ em khiếm thị thì đối với các em bất cứ một trò chơi hay hoạt
động nào cũng là “bịt mắt bắt dê.”
Khi lần đầu tiên đến với Tỉnh Hội người mù Thừa Thiên Huế bước vào
các em là nơi các em nghĩ ngơi sinh hoạt như một gia đình mọi thứ đếu ngăn
nắp sạch sẽ và mọi thứ các em đều tự sắp xếp. Ban lãnh đạo nơi đây luôn trăn
trở làm sao cho các em có được một cuộc sống tốt nhất được chăm lo đầy đủ
như bao trẻ em khác.
Tuy rằng các em kém may mắn hơn những bạn nhỏ khác nhưng khi
nhìn thấy sự chăm sóc tận tình cũng như việc tạo điều kiện về mọi mặt để làm
sao cuộc sống của các em đầy đủ hơn nữa từ những tấm lòng đầy nhân hậu và
tâm huyết của tỉnh Hội người mù Thừa Thiên Huế thì phần nào đã bù đắp
được những mất mát mà các em gặp phải. Để các em trở thành những người
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 20
Báo cáo tốt nghiệp
con có ích cho xã hội, để các em có quyền hi vọng một cuộc sống tươi đẹp
trong tương lai như bao người bình thường khác. Và một điều minh chứng cụ
thể nhất đó là nhiều em đã trở thành những sinh viên xuất sắc những con
ngoan trò giỏi và là những tấm gương để nhiều người học tập và Tỉnh hội
người mù là ngôi trường đầu tiên nuôi dạy các em.
Sự chăm lo của các cô chú ở tỉnh Hội đối với các em là rất lớn nhưng
do số lượng của các em thì nhiều nhưng cô giáo và bảo mẫu ở đây lại rất ít
hiện tại thì có 43 trẻ nhưng chỉ có 3 cô giáo và 1 bảo mẫu nên việc chăm sóc
các em cũng gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh thiếu nhân lực là sự thiếu thốn
về vật chất để hỗ trợ các em trong các hoạt động đời sống thường ngày và
trong học tập như việc di chuyển hay là những đồ chơi cho các em ngoài
những giờ học văn hóa. Cũng do sự thiếu thốn về kinh phí nên nhiều lúc các
cô đã phải tính toán đắn đo làm sao cho bữa cơm của các em không thiếu vi
chất để các em được phát triển tốt như bao bạn nhỏ khác. Tỉnh hội người mù
là một môi trường chuyên biệt cho các em khiếm thị chính vì vậy các em ít
được giao lưu gặp gỡ cũng như tham gia vào các hoạt động bên ngoài để hòa
nhập được dễ dàng hơn. Chính vì vậy mà từ khi được thành lập và nuôi dạy
trẻ em khiếm thị tại Tỉnh hội thì việc nâng cao khả năng cũng như tạo cơ hội
cho trẻ ở đây được hòa nhập cộng đồng là vấn đề luôn được quan tâm hàng
chữ, được vui chơi cùng bạn bè và được các thầy cô chăm sóc, dạy dỗ”
Ông Đặng Công Chánh, Chánh văn phòng cho biết:” Khi các em đến
trung tâm, chúng tôi động viên các em làm tất cả mọi việc như trẻ bình
thường như ăn uống, tắm giặt, chăm sóc bản thân, đi lại mà không cần giúp
đỡ của người khác. 10 năm qua, có gần 140 em học sinh được học tập và sinh
hoạt tại trung tâm, trong đó có 13 em đã học lên đại học, đạt thủ khoa các
ngành học. Điển hình như em Nguyễn Văn Duy đã đỗ thủ khoa kỳ thi tuyển
sinh đại học năm 2007, ngành Luật, trường Đại học Khoa học Huế. Em Trần
Thị Mỹ Lài thủ khoa năm 2008, chuyên ngành Ngữ Văn, trường Đại học
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 22
Báo cáo tốt nghiệp
Khoa học Huế. Em Mai Thị Tư, thủ khoa năm 2008, bộ môn biểu diễn đàn
tranh, Học viện Âm nhạc Huế ”
Ngoài thời gian học văn hóa, các học sinh ở Trung tâm được định
hướng nghề nghiệp phù hợp với trình độ, sức khỏe, lứa tuổi, năng khiếu, với
các lĩnh vực như âm nhạc, ngoại ngữ,nhờ đó các em có đủ khả năng thi tuyển
vào các trường văn hóa nghệ thuật hoặc học nghề. Đến nay, trung tâm đã có 5
em được đào tạo và tốt nghiệp chính quy ở trường trung học văn hóa nghệ
thuật. Nhiều em được phục hồi chức năng đã trở về gia đình. Trung tâm cũng
tạo điều kiện cho những em không có khả năng học lên được học nghề và tạo
việc làm, giúp các em có thu nhập để có thể tự nuôi sống bản thân.
Chúng ta có thể thấy rằng ngoài việc chăm lo cho các em khiếm thị
có một cuộc sống tốt hơn với sự chăm sóc tận tình của các cô các chú ở
Tỉnh Hội người mù Thừa Thiên Huế. Thì Các em còn được tạo điều kiện để
được học những môn năng khiếu hay tin học hay tạo điều kiện cho các em
học nghề để có thể tự kiếm sống bàng dôi bàn tay và sức lao động của
chính bản thân mình mà không phụ thuộc vào người thân. Sự nỗ lực chăm
lo cho các em và tạo điều kiện cho các em hòa nhập cộng đồng xóa bỏ rào
cản mặc cảm tự ti là vô bờ bến của Ban lãnh đạo Tỉnh Hội người mù Thừa
Thiên Huế. Nhưng chúng ta cũng biết rằng mang trong mình những khuyết
giới xung quanh mình. Hay nói một cách khác thì chính những mặc cảm tự ti
của các em làm cho các em mất đi cơ hội hòa nhập cộng đồng của chính bản
thân mình.
2.2.2. Nhóm nguyên nhân từ gia đình trẻ
Gia đình là cái nôi quan trọng là môi trường đầu tiên của mỗi con
người và gia đình là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc
sống của mỗi cá nhân. Đối với người khuyết tật nói chung và trẻ em khiếm thị
nói riêng thì gia đình có yếu tố quyết định vô cùng lớn đối với cuộc sống của
SVTH: Lê Thị Ngọc Tú 24
Báo cáo tốt nghiệp
các em. Cũng chính vì thế mà gia đình cũng là một nguyên nhân trực tiếp làm
hạn chế khả năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ khiếm thị ở tỉnh hội người mù
Thừa Thiên Huế.
Một thực trạng có thể dễ nhận thấy ở những gia đình có con khiếm thị
đó là họ cũng mặc cảm tự ti với cộng đồng xung quanh khi có con bị khuyết
tật, họ ngại cho con mình tiếp xúc với người ngoài. Theo ông Phan Văn Quốc
phó chủ tịch Tỉnh Hội người mù Thừa Thiên Huế cho biết: “ Khi đi chiêu sinh
trẻ em mù hàng năm trên địa bàn toàn tỉnh thì luôn gặp những trường hợp gia
đình không đồng ý cho con mình về Tỉnh Hội học tập và sinh sống” . Có thể
trong tư tưởng những người làm cha làm mẹ có con khuyết tật thì họ lo sợ con
cái của mình không được chăm sóc chu đáo tận tình trong khi cuộc sống của
các con lại không thể tự chăm sóc mình. Hay cũng có thể là họ không tin vào
bản thân con cái của họ có thể tự lập như bao đừa trẻ không khuyết tật khác.
Suy cho cùng thì những bậc phụ huynh cũng là vì lo cho con cái của mình
nhưng chính vì cách yêu thương không đúng cách ấy khiến cho cánh của
bước ra ngoài xã hội được hưởng những quyền được hưởng của trẻ em khiếm
thị bỗng nhiên khép lại. Như đã nói ở trên gia đình có vai trò quyết định đến
cuộc sống của các em khiếm thị nên sự hạn chế khả năng hòa nhập cộng đồng
của trẻ khiếm thị một phần cũng xuất phát từ gia đình các em.
2.2.3. Nhóm nguyên nhân từ Tỉnh Hội