Tìm hiểu khả năng tái hoà nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi ở làng trẻ SOS hà nội sau khi trưởng thành - Pdf 19

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là tương lai của đất nước, đầu tư cho trẻ em là đảm bảo cho sự phát
triển bền lâu của mỗi quốc gia. ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
chú trọng tới công tác nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Trong công cuộc CNH-HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những
thành tựu đạt được thì đất nước chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề xã
hội như: sự phân hoá giàu nghèo, vấn đề việc làm các tệ nạn xã hội đang có
chiều hướng gia tăng, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân
nhất là đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó đối tượng đầu
tiên chịu tác động là trẻ em mồ côi.
Trẻ mồ côi là một hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả quốc gia trên thế giới,
là nhóm trẻ đặc thù của công tác xã hội, là nhóm trẻ dễ bị tổn thương và chịu
nhiều thiệt thòi; các em ít có cơ hội để phát triển và hoàn thiện nhân cách cũng
như hoà nhập với cộng đồng.
Hiện nay, đại bộ phận trẻ em mồ côi ở nước ta đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ của Nhà nước, của cộng đồng và của toàn xã hội. Đã có rất nhiều các
trung tâm bảo trợ xã hội, các tổ chức từ thiện được thành lập để nuôi dạy trẻ em
mồ côi, trong đó phải kể đến mô hình làng trẻ SOS - Hà Nội. Ở đây, các em có
điều kiện để học tập, để vui chơi giải trí, phát triển toàn diện về nhân cách.
Nhưng tất cả những điều đó chỉ là sự chăm sóc, giúp đỡ ban đầu, còn khi các em
hoà nhập với cộng đồng trở về địa phương, số phận của các em ra sao? Các em
1
có tự lập được hay không? thì cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nào đi sâu vào
nghiên cứu, tìm hiểu.
Với lý do như vậy mà em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu khả
năng tái hoà nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi ở làng trẻ SOS Hà Nội sau
khi trưởng thành”. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng em mong rằng đề tài này
sẽ đưa lại cái nhìn chính xác hơn, hiểu hơn về cuộc sống thực tại của các em mồ
côi sau khi đã trưởng thành. Đồng thời cũng qua bài viết này em mạnh dạn đưa

+ Giúp đỡ để các em có điều kiện sống trong tình thương của gia đình, được
chăm sóc và bảo vệ.
Về đề tài về trẻ em luôn là đề tài được rất nhiều người quan tâm, ở lĩnh vực
nào cũng có rất nhiều bài viết về trẻ em mồ côi:
-Tác giả Nguyễn Thị thanh với công trình nghiên cứu" Khảo sát trẻ mồ côi
trên địa bàn Hà Nội" và "Mô hình chăm sóc trẻ mồ côi ở Hà Nội" với mục đích
hướng đến việc tìm ra một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề trẻ mồ côi trên địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay.
-"Trẻ em gia đình xã hội" của tác giả Mai Quỳnh Nam đề cập đến vai trò của
gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tìm hiểu thực trạng trẻ em khó
khăn và những giải pháp cho vấn đề này.
-"Lạm dụng trẻ em Việt Nam, báo cáo bước đầu về khái niệm, bản chất và
mức độ lạm dụng trẻ em ở Việt Nam" của tác giả Reina Michaelon chuyên gia
UNICEF của Liên Hợp Quốc (tháng 6 năm 2003).
3
-“Đoàn thanh niên cộng sản HCM với việc chăm sóc, giáo dục trẻ có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn” của tác giả Đặng Cảnh Khanh.
-“Khả năng tái hoà nhập cộng, xã hội và gia đình” của tác giả Nguyễn Văn
Buồn. Với những công trình nghiên cứu này cho chúng ta hiểu rõ hơn về nhu
cầu, nguyện vọng, tâm tư tình cảm của trẻ em mồ côi, qua đó sẽ đưa ra cách giúp
đỡ thiết thực hơn cho trẻ em mồ côi.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu và những trang bị kiến thức về công
tác xã hội, em đã chọn cho mình đề tài:”Tìm hiểu khả năng tái hoà nhập cộng
đồng của trẻ em mồ côi ở làng trẻ SOS Hà Nội sau khi đã trưởng thành”.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Đề tài sử dụng kiến thức của các môn khoa học chuyên ngành như:
CTXH cá nhân, CTXH nhóm, tham vấn, phát triển cộng đồng, tâm lý học…nên
giúp cho việc so sánh giũa lý thuyết với thực tiễn, từ đó có những nhận xét, bổ
sung cho hệ thống lý thuyết về CTXH vốn còn rất mới mẻ ở nước ta, đồng thời

cộng đồng.
4.3 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng khả năng tái hoà nhập cộng đồng của trẻ em tại Làng
trẻ SOS sau khi trưởng thành.
5
- Phân tích những yếu tố tác động đến khả năng tái hoà nhập cộng đồng
của các em, đồng thời chỉ ra những mặt được, hạn chế của Làng trẻ em SOS Hà
Nội trong công tác chuẩn bị cho trẻ tái hoà nhập cộng đồng sau khi trưởng thành.
- Xây dựng kế hoạch và đề xuất những biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao
khả năng tái hoá nhập cộng đồng cho trẻ em trong làng trẻ SOS Hà Nội.
4.4. Phạm vi nghiên cứu
4.4.1 Không gian
Làng trẻ em SOS- Phường Mai dịch- Cầu giấy- Hà Nội
4.4.2. Thời gian
Từ ngày 01/03/2008 đến 30/04/2008.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp luận nghiên cứu.
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử tất cả mọi hiện tượng nảy sinh trong xã hội
đều có quá trình phát sinh, phát triển, sự phát triển của nó trong các thời kỳ khác
nhau, dưới các hình thức kinh tế - xã hội khác nhau sẽ có sự biến đổi khác nhau.
Việc sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử là đặt các hiện tượng xã hội, các quá
trình xã hội trong hoàn cảnh lịch sử của đời sống xã hội. Dựa trên quan điểm đó
có thể thấy nghiên cứu về trẻ em mồ côi cần phải đặt nó trong điều kịên cụ thể về
tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của làng trẻ SOS, cũng như trong điều kịên
chung của cả nước. Trong mỗi điều kiện này thì vấn đề về trẻ em mồ côi sẽ có
những biến đổi khác với các hình thức khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện
cụ thể của địa phương, phù hợp vơi các nhu cầu cũng như những khó khăn của
trẻ em mồ côi tại làng.

sở nghiên cứu cho khoá luận.
5.2.3. Phương pháp quan sát
Quan sát là nhu cầu của con người để sống, làm việc và hiểu nhiều hơn về
con người cũng như thế giới. Nghiều nghiên cứu kết luận rằng, có đến 2/3 thông
tin mà con người nhận được là thông qua đôi mắt. Người làm công tác xã hội cần
có kỹ năng quan sát con người và những giao tiếp không lời của đối tượng mà
mình làm việc với họ. Có rất nhiều sự trao đổi thông tin, giao tiếp trong các cử
chỉ không lời không nằm trong ý thức của người tham gia giao tiếp. Khi làm việc
với đối tượng, người làm công tác xã hội cần quan sát để biết được đối tượng
phản ứng thế nào với hoạt động mà mình cung cấp và quan hệ giữa họ như thế
nào. Dựa vào những thông tin này, chúng ta có thể quyết định khi nào cần phải
thay đổi, can thiệp điều gì trong hoạt động để đối tượng được thúc đẩy một cách
tốt nhất.
Trong quá trình tìm hiểu thu thập thông tin từ các em mồ côi, do hoàn
cảnh và sự mặc cảm về gia đình nên nhiều thông tin không được thể hiện bằng
lời nói mà phải dựa vào khả năng quan sát tinh tế mới nhận diện được những tâm
tư, tình cảm của các em, cũng như hoàn cảnh sống của các em.
8
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Quan điểm Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo "Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi
ích trăm năm phải trồng người". Bác luôn luôn quân tâm đến chăm sóc, giáo dục
trẻ em nói chung và thiếu niên nhi đồng nói riêng.
Bác nói "Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy
chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân". (HCM.
Toàn tập. Nxb chính trị Quốc gia).
Bác yêu cầu "Trước hết các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh chị) phải
làm tốt công việc ấy" "Uỷ ban thiếu niên, nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành
giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo

trong việc nghiên cứu về trẻ em mồ côi. Đây cũng là cơ sở quan trọng trong việc
nghiên cứu, thực hiện đề tài khóa luận này.
1.2 Các khái niệm làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm cộng đồng
Trong các tài liệu khoa học xã hội thuật ngữ cộng đồng được hiểu theo ba
tuyến nghĩa:
- Cộng đồng được nhìn nhận với tư cách là một chỉnh thể của các mối
quan hệ xã hội (quan hệ huyết thống, quan hệ thân tộc, quan hệ tình cảm cộng
10
đồng, quan hệ láng giềng, quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, con người với
môi trường )
- Cộng đồng được coi là một kiểu loại riêng biệt của quan hệ xã hội với
những tổ chức nhất định trên cơ sở tình cảm, tinh thần và ý thức cộng đồng.
- Cộng đồng được hiểu như là một địa vực hay một vùng đất, trên đó có sự
định cư của một nhóm người, có sự chia sẻ giá trị văn hóa quần chúng.
Với tư cách là một khái niệm được nhiều ngành khoa học xã hội &nhân
văn nghiên cứu nên có rất nhiều khái niệm về cộng đồng.
Theo J. Fichter ông cho rằng có thể áp dụng rộng rãi cuộc sống tập thể
cộng đồng gồm 4 yếu tố:
+ Là những mối tương quan mật thiết đối với người khác, tương quan mặt
đối mặt, thẳng thắn cởi mở và chân tình.
+ Có sự liên hệ về mặt tình cảm, cảm xúc một khi mà nó thực hiện các
nhiệm vụ hay công tác tập thể.
+ Có sự hiến dâng hay một sự dấn thân để theo đuổi một giá trị xã hội.
+ Yếu tố đoàn kết với những người khác trong cộng đồng và cho đến ngày
nay đoàn kết vẫn là một mục đích đi lên của cộng đồng.
Từ các quan điểm trên cho thấy cộng đồng là một khái niệm rộng tuy
nhiên trong CTXH cộng đồng cần được hiểu là một hình thức tổ chức với những
đặc trưng cơ bản sau:
1- Tỷ lệ dân cư

thân (cha hoặc mẹ) do cha hoặc mẹ bị chết, hoặc cả cha và mẹ đều bị chết gọi là
trẻ mồ côi thực tế.
- Trẻ em mồ côi xã hội: Là đứa trẻ bị đột ngột chia ly vĩnh viễn hoặc tạm
thời trong một thời gian dài với cha, mẹ dù họ vẫn còn sống.
- Theo bộ luật dân sự: Trẻ em mồ côi là đứa trẻ dưới 16 tuổi, mồ côi cả
cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân
thích để nương tựa, cha hoặc mẹ, những người còn lại là mẹ hoặc cha bị mất
tích.
Với các khái niệm này có thể đưa ra 3 tiêu trí để nhận dạng trẻ em mồ côi:
+ Mất cả cha lẫn mẹ: Cha mẹ đều chết hoặc chết một người, một người
mất tích.
+ Mất cha: cha chết hoặc bỏ đi mất tích.
+ Mất mẹ: Mẹ chết hoặc bỏ đi mất tích.
1.3. Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
1.3.1. Lý thuyết hành vi
Đại biểu của lý thuyết này là Max Weber, Parson, họ cho rằng hành động
xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, đồng thời là cơ sở
của đời sống xã hội của con người. Chúng ta có thể giải thích hành vi con người
bằng hành vi có tổ chức của các nhóm xã hội. Hành vi xã hội không thể thiếu
được nếu xây dựng nó từ tác nhân. nó cần được phân tích hoặc có thể phân tích
độc lập. Như vậy lý thuyết hành vi xuất phát từ quan niệm về mối quan hệ giữa
con người với môi trường xã hội, nó cho phép phân tích khái quát về sự hình
hành và phát triển nhân cách bên trong các cơ cấu xã hội và nhấn mạnh rằng sự
13
phát triển nhân cách xảy ra trong quá trình trao đổi giữa một hiện thực bên ngoài
và hiện thực bên trong.
1.3.2. Lý thuyết thân chủ trọng tâm:
Lý thuyết thân chủ trọng tâm do Carl Rogers nhà tâm lý học người Mỹ
sáng lập. Lý thuyết này cho rằng cá nhân có sự khó khăn về tâm lý xã hội là do
tập nhiễm những cách ứng xử không phù hợp và họ cần giúp đỡ để phát triển

phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu
cầu cao hơn. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh,
đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu
+ Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi con người đã
được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt
đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiển trong cả thể chất
lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình
khỏi các nguy hiểm, các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như
chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác
an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về. Nhu cầu này được
thể hiện qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có
pháp luật, có nhà cửa để ở
+ Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu
mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó, hoặc nhu cầu về tình
cảm, tình thương. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm
15
kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi
làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm
+ Nhu cầu về được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự
trọng, vì nó thể hiện hai cấp độ
Một là: Nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành
quả của bản thân.
Hai là: Nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình,
có lòng tự trọng, sự tin tưởng vào khả năng của bản thân.
Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến một đứa trẻ học tập tích
cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn.
+ Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
Maslow mô tả nhu cầu này như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốn
được là chính mình, được làm những cái mà mình " sinh ra để làm". Nói một
cách đơn giản, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của

17
nghề đảm bảo công ăn việc làm, có thu nhập ổn định và đảm bảo cuộc sống,
nhiều cháu đã xây dựng gia đình có con và đã có tổ ấm riêng của mình.
Thành công của các em là kết quả nỗ lực phấn đấu của bản thân các em,
của sự quan tâm nuôi dưỡng, giáo dục chu đáo hết mức, đặc biệt là tình cảm yêu
thương, tình mẫu tử của các bà mẹ. Bên cạnh đó, làng luôn được sự quan tâm
giúp đỡ của các lãnh đạo Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội và các
doanh nghiệp TW và địa phương.
2.1. Giới thiệu chung về làng trẻ SOS- Hà Nội:
2.1.1. Lịch sử hình thành của SOS quốc tế , làng trẻ SOS Việt Nam, làng trẻ
SOS Hà Nội
* Lịch sử hình thành làng trẻ SOS quốc tế:
Herman Gmeiner (1919-1986) sinh tại Voraiberg của nước Aó. ông là
người sớm phải chịu thiệt thòi khi mất đi người cha và mẹ của mình. Trở thành
một đứa trẻ mồ côi từ sớm tuy nhiên Hermain lại may mắn có được một người
chị gái vô cùng nhân hậu, người đã thay vai trò của mẹ và chăm sóc, nuôi dạy
Hermain lên người. Chính từ hoàn cảnh đặc biệt của mình và đồng thời chịu ảnh
hưởng sâu sắc từ chính trái tim nhân hậu của chị gái Elsa lên Hermain Gmeiner
đã sớm có những suy nghĩ và cách hành động mang tính nhân đạo và đầy tình
thần trách nhiệm hơn hẳn những người bạn cùng thời lúc bấy giờ.
Chiến tranh thế giới thứ 2 đã kết thúc năm 1945 tuy nhiên những hậu quả
mà cuộc chiến này để lại cho nhân loại thì thật vô cùng tàn khốc. Cuộc chiến đã
cướp đi hàng triệu người ở khắp nơi trên thế giới, phá hủy hàng triệu ngôi nhà
cũng như các cở sở vật chất mà loài người đã tạo dựng lên trước đó. Về mặt xã
hội nó đã tạo lên biết bao những cảnh thương tâm, những sự chia ly và những
gánh nặng tệ nạn xã hội vô cùng trầm trọng. Là người đương thời phải chứng
18
kiến những hậu quả nặng nề của chiến tranh gây ra cho nhân loại, thấm thía
những nỗi đau khổ đặc biệt là đối với trẻ thơ. Chính điều này đã thôi thúc
Hermain đi đến một chuỗi những hành động mà chính nó sau này đã tạo dựng và

Qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, làng trẻ SOS quốc tế đã có
hơn 130 nước thành viên, 400 làng với số trẻ đón nhận là hơn 7 vạn trẻ em.
* Lịch sử hình thành của SOS Việt Nam
Năm 1967 làng trẻ em SOS đầu tiên ở Việt Nam đã được xây dựng tại Gò
Vấp và ở Đà Lạt do ông Kutin làm giám đốc điều hành. Tuy nhiên do hoàn cảnh
lịch sử chung lúc bấy giờ lên đến năm 1975 khi mà miền Nam Việt Nam được
giải phóng thì 2 làng trẻ này đã tạm ngừng hoạt động.
Đến năm 1987 được sự chấp thuận của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội đã ký với SOS quốc
tế hiệp định hợp tác và phát triển các làng trẻ ở Việt Nam, tiến hành khôi phục
và cho hoạt động trở lại hai làng trẻ ở Gò Vấp và Đà Lạt đồng thời sau quãng
thời gian đó thì một loạt những làng trẻ trong nhiều tỉnh, thành phố của nước ta
đã được xây dựng và đi vào hoạt động.
Cho đến nay, tổng số dự án làng trẻ em SOS ở Việt Nam là 39, trong đó
có 12 làng trẻ SOS, 10 trường phổ thông Herman Gimener, 10 trường mẫu giáo,
6 khu lưu xá thanh niên, 1 trung tâm y tế khám chữa răng. Hiện nay, dự án làng
trẻ em SOS Điện Biên Phủ đang được xây dựng và là tỉnh thứ 13 ở Việt Nam
20
tiếp nhận tài trợ của tổ chức làng trẻ em SOS quốc tế. Dự kiến, Làng trẻ em SOS
Điện Biên Phủ sẽ tiếp nhận đón trẻ đầu tiên vào năm 2009.
Danh sách các làng trẻ em SOS trong cả nước:
STT Tên làng Năm Thành lập
1 Làng trẻ em Hà nội 1990
2 Làng trẻ em Gò Vấp- TPHCM 1990
3 Làng trẻ em Đà Lạt- Lâm Đồng 1990
4 Làng trẻ em vinh- Nghệ An 1991
5 Làng trẻ em Đà Nẵng 1994
6 Làng trẻ em Hải Phòng 1997
7 Làng trẻ em Cà Mau 1997
8 Làng trẻ em Việt Trì- Phú Thọ 1999

đến 10 em nhỏ ở trong đó. Trong làng có một khu lưu xá thanh niên dành cho
các em nam được chuyển ra khi đến tuổi thanh thiếu niên. Làng có một trường
mẫu giáo, có văn phòng dành cho cán bộ công nhân viên, một thư viện, một
phòng tranh, một phòng truyền thống, một phòng máy và một số các phòng chức
năng khác. Lãnh đạo cao nhất hiện nay của làng trẻ Hà Nội là ông Dũng, giám
đốc điều hành của làng.
22
2.1.2. Mục đích của việc thành lập làng trẻ em SOS Hà Nội.
Làng trẻ em SOS Hà Nội được thành lập theo ý tưởng cũng như mục đích
chung của mô hình SOS trên toàn thế giới đó là nhằm giúp đỡ cho những trẻ em
mồ côi có hoàn cảnh khó khăn hoặc không nơi nương tựa, mang lại cho các em
một ngôi nhà mới và lâu dài, cung cấp và đảm bảo cho các em những yếu tố cần
thiết để sinh tồn và tiếp tục phát triển được trong điều kiện mới. Trong một ngôi
nhà chung này các em sẽ được tiếp cận với một nền giáo dục phù hợp cho bản
thân mình, được xã hội hóa toàn diện để có thể phát triển lành mạnh và ổn định
cả về thể chất và cả tinh thần. Được định hướng nghề nghiệp cũng như tạo điều
kiện tốt để tái hòa nhập vào cộng đồng xã hội chung khi các em đã trưởng thành,
khôn lớn.
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của làng trẻ SOS Hà Nội
2.1.3.1. Chức năng của làng trẻ SOS Hà Nội
Làng trẻ SOS Hà Nội chịu sự quản lý của sở lao động thương binh xã hội
thành phố Hà Nội về mặt hành chính. Nó có chức năng quản lý số lượng trẻ mồ
côi về mặt hành chính đồng thời giúp văn phòng SOS Việt Nam trong việc chăm
sóc và nuôi dạy cho trẻ nhỏ mồ côi tại đây.
2.1.3.2.Nhiệm vụ của làng trẻ SOS Hà Nội
Căn cứ vào mục tiêu chung của toàn mô hình SOS lên trong quá trình hoạt
động thì Làng trẻ em Hà Nội cũng được định hướng để thực hiện những nhiệm
vụ có tính chung, nhất quán đối với tất cả các làng trẻ em trong toàn quốc đó là
tiếp nhận và nuôi dạy những trẻ em mồ côi có hoàn cảnh khó khăn, tạo điều kiện
cho các em phát triển toàn diện và tiến tới một cái đích cuối cùng là giúp các em

25

Trích đoạn Hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề. Hoạt động văn nghệ, thể dục, thể tha o: Hoạt động hình thành kỹ năng giao tiếp và hoạt động nhóm cho trẻ. Những hạn chế Biện pháp 1: Nâng cao hoạt động giáo dục của làng dành cho trẻ em.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status