PHẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
1. Tên cơ sở thực tập
Trung tâm Giáo dục lao động xã hội số 2 là đơn vị sự nghiệp có thu, đơn
vị dự toán cấp I trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản
tại Kho bạc và Ngân hàng Nhà nước Thành phố Hải Phòng.
Trung tâm có trụ sở chính tại xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng, Thành phố
Hải Phòng.
Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm Giáo dục lao động xã hội số 2 được
khởi công xây dựng từ tháng 1 năm 2006 trên diện tích 40,27ha với các công
trình đồng bộ liên hoàn đảm bảo cho việc tiếp nhận từ 900 – 1200 đối tượng.
Trung tâm chính thức đi vào hoạt động, tiếp nhận quản lý học viên từ tháng 3
năm 2008 sau gần 5 năm đi vào hoạt động đã đạt được 1 số kết quả cụ thế như
sau:
2. Cơ cấu tổ chức của cơ sở thục tập
Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội số 2 được thành lập theo Quyết
định số 2321/QĐ-UB ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban nhân dân Thành
phố Hải Phòng trực thuộc Sở Lao Động – Thương binh và Xã hội Thành Phố
Hải Phòng.
- Bộ máy của Trung tâm gồm: Giám đốc, 4 Phó Giám đốc và 11 Phòng,
Đội trực thuộc như: Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Kế toán Tài chính,
Phòng Dạy nghề Lao động sản xuất, Phòng Y tế, Phòng Thăm nuôi – Tư vấn
Giáo dục Hòa nhập cộng đồng, Phòng Bảo vệ, Phòng Hậu cần và 4 Đội Quản lý
học viên.
- Tổng số cán bộ công nhân viên Trung tâm đến nay là 230 người, trong
đó trình độ Đại học 57 người, Cao đẳng các ngành 21 người, Trung cấp 115
người, lao động tự do và bộ đội xuất ngũ 37 người.
1
1.1 Công tác lao động sản xuất, tiếp nhận, tư vấn, quản lý giáo dục
học viên
* Công tác lao động, sản xuất tạo cảnh quan môi trường
Tính đến nay trong quá trình tiếp nhận, cắt cơn, giải độc công việc đều
diễn ra an toàn không có sai sót về chuyên môn, song song với công tác điều trị
cắt cơn và nắm bắt tâm lý học viên là việc khám chữa bệnh cho các học viên
sau giai đoạn cắt cơn. Mỗi ngày y tế điều trị cho vài chục lượt học viên mắc các
bệnh nhiễm trùng cơ hội và các bênh thông thường khác. Những học viên bệnh
nặng được theo dõi chặt chẽ, những trường hợp bệnh nặng vượt quá khả năng
điều trị của Trung tâm đều được chuyển tuyến trên kịp thời.
* Công tác tư vấn giáo dục, đảm bảo an ninh trật tự.
- Hàng tháng Trung tâm tổ chức cho học viên sinh hoạt tập thể 1 lần do
các thầy tư vấn chủ trì tham gia sinh hoạt còn có các thầy y tế, hậu cần, dạy nghề
để lắng nghe ý kiến tham gia đóng góp của học viên về công tác dạy nghề lao
động sản xuất, chế độ chăm sóc sức khỏe, chế độ ăn uống, chế độ thăm gặp để
cùng trao đổi đúc rút kinh nghiệm. Sau đó tổ chức chiếu phim cho học viên xem.
Ngoài ra hàng tuần các thầy quản lý trực tiếp tại các buồng đều tổ chức sinh hoạt
phòng với học viên để chấn chỉnh, nhắc nhở viếc chấp hành nội quy, quy chế
Trung tâm đề ra, tổ chức tư vấn theo nhóm, học tập pháp luật, đấu tranh phê
bình, bài trừ tệ nạn xã hội. Mỗi tháng học viên được gọi điện thoại về nhà 1 lần,
thư từ không hạn chế và được gặp gia đình một tháng 2 lần. Hàng quý Trung
tâm thuê các Đoàn nghệ thuật vào biểu diễn văn nghệ 1 lần để tạo sân chơi giao
lưu giữa các nghệ sĩ với học viên, giữa học viên và cán bộ Trung tâm. Ngoài ra
tại mỗi đội và khu thăm gặp Trung tâm đều có thùng thư tham gia đóng góp ý
kiến xây dựng Trung tâm cho cán bộ công nhân viên và học viên tự nguyện
tham gia góp ý kiến vào quá trình điều hành của lãnh đạo Trung tâm, việc chấp
hành nội quy, quy định của cán bộ và học viên để có cơ sở chấn chỉnh và uốn
3
nắn kịp thời những vi phạm của cán bộ và học viên trong quá trình công tác, học
tập và lao động để rút kinh nghiệm và xử lý dứt điểm các biểu hiện sai lệch.
- Hiện tại Trung tâm đang quản lý giáo dục 536 học viên, trong thời
gian này tư tưởng học viên ổn định, tích cực tham gia lao động sản xuất, không
có việc gây gổ đánh nhau, hủy hoại thân thể, không có học viên bỏ cơm, bỏ trốn,
phẩm…ký kết hợp đồng liên doanh, liên kết hoặc thực hiện các dự án, tổ chức
hạch toán kinh tế, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư mua nguyên vật liệu,
công cụ tổ chức lao động sản xuất…đảm bảo các hợp đồng đã ký kết. Thông qua
lao động sản xuất nhằm giáo dục, phục hồi hành vi, nhân cách, hướng nghiệp
cho đối tượng chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, tạo điều kiện ổn định cuộc sống
cho đối tượng.
- Tổ chức phối hợp các cơ sở dạy nghề hoặc tổ chức kiểm tra sát hạch, thi
cấp bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, chứng chỉ nghề cho đối tượng đủ điều kiện
theo quy định.
- Tổ chức tham gia nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực nghiệm các quá
trình dạy nghề áp dụng vào hoạt động lao động sản xuất cho hoccj viên cai
nghiện tại Trung tâm.
- Sơ tổng kết, đánh giá công tác dạy nghề, công tác lao động sản xuất của
đối tượng tại Trung tâm và khả năng tái hòa nhập cộng đồng của đối tượng.
1.2. Phòng Y tế - Phục hồi sức khỏe.
*/ Nhiệm vụ cụ thể
- Tổ chức cụ thể các quy định về chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật của
Ngành Y tế vá quy trình cai nghiện, chữa trị phục hồi sức khỏe của ngành Lao
động – Thương binh và Xã hội ban hành theo thẩm quyền để triển khai tại Trung
tâm.
- Tổ chức khám, chuẩn đoán bệnh, lập hồ sơ bệnh án cai nghiện, chữa trị
cho đối tượng theo phác đồ điều trị, phục hồi sức khỏe cho đối tượng.
5
- Tổ chức theo dõi khả năng phục hồi sức khỏe, tuổi, giới tính, trình độ,
nghề nghiệp (nếu có) cho đối tượng.
- Cung ứng dược, quản lý thuốc phát bệnh, bảo quản và sử dụng các trang
thiết bị y tế theo đúng quy định của Ngành Y tế, tổ chức vệ sinh môi trường.
- Phối hợp với các cơ sở y tế tuyến trước và sau trong việc tổ chức khám
chữa bệnh cho học viên. Tổ chức vệ sinh phòng dịch và các hoạt động hỗ trợ
chữa bệnh, điều trị cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS nhằm nâng cao hiệu quả
- Tổ chức xây dựng và tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, truyền
thông về tác hại của tệ nạn ma tuý, phòng ngừa và khắc phục các tệ nạn xã hội,
phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trên các phương tiện thông tin, sách báo, ti
vi, băng hình; phổ biến kết quả cai nghiện, chữa trị, xây dựng những tấm gương
cho các đối tượng noi theo. Đảm bảo hiệu quả công tác chữa trị, cai nghiện phục
hồi tại Trung tâm.
- Tổ chức các hoạt động tư vấn trong quá trình cai nghiện, chữa trị, xây
dựng những tấm gương cho các đối tượng noi theo. Đảm bảo bảo hiệu quả công
tác chữa trị, cai nghiện phục hồi tại Trung tâm.
- Tổ chức các hoạt động tư vấn trong quá trình cai nghiện, chữa trị, phục
hồi sức khoẻ theo nhóm, cá nhân. Hình thành mạng lưới tư vấn cho đối tượng tại
Trung tâm và cộng đồng; tổ chức đánh giá phục hồi về ý thức, sức khoẻ, trách
nhiệm, những thay đổi về nhận thức, khả năng điều chỉnh hành vi của tưng đối
tượng và nhóm đối tượng.
- Tham gia nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực nghiệm các chương
trình giáo dục, kĩ năng tư vấn có hiệu quả cho đối tượng.
- Sơ tổng kết công tác giáo dục, tư vấn cho đối tượng và công tác chuẩn bị
hoà nhập cộng đồng, đánh giá kết quả và hiệu quả các hoạt động này tại Trung
tâm.
1.4. Phòng Tổng hợp - Tổ chức Hành chính.
*/ Nhiệm vụ cụ thể
7
- Tổ chức xây dựng quy chế, nội quy quản lý, giáo dục đối tượng tại
Trung tâm về chế độ lao động, học tập, chữa trị và các quy chế khác liên quan,
quy chế tiếp nhận, phân loại, lập hồ sơ theo dõi và quản lý đối tượng cai nghiện
tại trung tâm. Quy trình bàn gia đối tượng sau cai nghiện, chữa trị trở về với gia
đình và cộng đồng; xử lý vụ việc xảy ra tại cơ sở.
- Tổ chức xây dựng hoặc thực hiện các quy trình của đề án, dự án dài hạn,
ngắn hạn theo đúng mục tiêu, đôn đốc triển khai thực hiện các dự án của Trung
tâm.
và kinh phí được cấp hàng năm.
- Đảm bảo công tác kế hoạch tài chính của đơn vị, thực hiện theo đúng
chế độ hiện hành, lập dự đoán, tổng hợp báo cáo, thanh, quyết toán các nguồn
kinh phí của Trung tâm, thực hiện đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo theo quy
định của đơn vị và của ngành.
- Tổ chức quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí: kinh phí sự nghiệp,
chương trình dự án, viện trợ( nếu có), lao động sản xuất theo đúng chế độ hiện
hành.
1.6. Phòng bảo vệ.
*/ Nhiệm vụ cụ thể:
- Thường xuyên thực tập phương pháp bảo vệ, dự kiến các tình huống và
xử lý các tình huống có thể xảy ra như: vi phạm các quy định: đánh nhau, bạo
loạn, đe doạ, chống đối cán bộ, bỏ trốn, và các hoạt động gây rối khác và giải
quyết cá vụ việc xảy ra tại trung tâm.
- Xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ tài sản, vật tư,
trang thiết bị của Trung tâm.
- Xây dựng phương án và tổ chức thực hiện phương án bảo vệ, giữ gìn trật
tự, an toàn cho cán bộ quản lý và đối tượng trong quá trình chữa trị học tập, lao
động, sản xuất tại Trung tâm, ngăn chặn các vụ việc xảy ra, lập biên bản bàn
giao theo quy định, phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý rứt điểm.
9
- Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giám sát đảm bảo an toàn về mọi mặt
trong quá trình thăm hỏi của gia đình đối tượng; chống thẩm lậu ma tuý, dược
phẩm gây nghiện, các vật phẩm khác. Xử lý các vấn đề phát sinh khi đưa đối
tượng vào trung tâm cai nghiện chữa trị.
- Phối hợp với các cơ quan quản lý, truy bắt đối tượng, xử lý các tình
huống vượt khả năng của Trung tâm; duy trì tốt các quy định của Nhà nước và
trung tâm về công tác bảo vệ.
- Tổ chức bảo vệ việc tiếp nhận, quản lý, bàn giao đối tượng sau khi hết
hạn cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm cho gia đình và cơ sở.
- Trực tiếp tham gia quản lý đối tượng thực hiện ác biện pháp chống vi
phạm quy định bạo loạn, đánh nhau gây rối mất trật tự an toàn, tham gia truy bắt
đối tượng trốn khỏi Trung tâm.
- Xây dựng môi trường chữa trị, cai nghiện phục hồi đảm bảo những liệu
pháp giáo dục tâm lý có hiệu quả để tháy đổi hành vi nhân cách cho đối tượng
nhằm chuyển đổi nếp nghĩ, nếp sống, thói quen lao động, tạo điều kiện cho đối
tượng hoà nhập cộng đồng ổn định chống tái nghiện, tái phạm.
1.7. Phòng hậu cần.
*/ Nhiệm vụ cụ thể:
- Chủ trì đề xuất kế hoạch, xây dựng mức tiền ăn cho đối tượng, CBCNV,
thực đơn bữa ăn hàng ngày đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng từng bữa ăn,
quản lý giám sát thực đơn, thực phẩm không để nấm mốc, ôi thiu đưa vào bữa
ăn hàng ngày, chấp hành nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh an toàn thực
phẩm.
- Phối hợp với phòng Kế toán tài vụ theo dõi cung cấp hàng hoá, thanh
quyết tới cho các nhà cung cấp.
- Phối hợp với các đội cử học viên hỗ trợ.
- Tổ chức nhập, xuất lương thực, thực phẩm, giám sát giá cả thị trường về
số lượng, chất lượng hàng nhập kho, xuất kho.
11
- Xây dựng kế hoạch phối hợp với phòng Y tế thường xuyên kiểm tra
giám sát chất lượng bữa ăn chống ngộ độc thực phẩm cho đối tượng CBCNV.
12
PHẦN 2: NỘI DUNG BÁO CÁO
TÊN ĐỀ TÀI: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHUẨN
BỊ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA HỌC VIÊN TẠI TRUNG TÂM
GIÁO DỤC LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ 2 TIÊN LÃNG
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo quyết định số 19/1998/QĐ – TTG của thủ tướng Chính phủ ngày
24/01/1998 về quản lý và thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và các chương trình quốc
ảnh hưởng đến việc tái hòa nhập cộng đồng của học viên rất nhiều. Đây cũng chính
là cơ hội để các học viên xích lại gần cộng đồng hơn và có thể trở lại cuộc sống
bình thường mà quên đi việc mình đã từng nghiện ma túy đồng thời giảm bớt được
tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, người ta rất khó để có một cái nhìn thiện cảm hơn với
những đối tượng này. Đây như là một sự trừng phạt đối với những người một lần
đã sa vào lầm lỗi và tạo cho họ những khó khăn thực sự trong suy nghĩ nên trở lại
với cộng đồng để trở thành những con người lương thiện hay trở lại con đường cũ.
Hiện tại, học viên cai nghiện tại các trung tâm khó khăn nhất vẫn là vấn đề tái hòa
nhập cộng đồng sau khi đã hoàn thành chương trình rèn luyện. Do vậy cũng tạo
cho cán bộ trung tâm phải suy nghĩ rất nhiều và mong muốn tìm ra cách giải quyết
để quá trình giáo dục cho học viên đạt hiệu quả và có được kết quả cuối cùng là họ
có thể bắt đầu lại cuộc sống mới.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Những yếu tố ảnh hưởng đến việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng của
học viên tại trung tâm Giáo dục lao động xã hội số 2 Tiên Lãng”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận và thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến việc tái hòa
nhập cộng đồng của học viên cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động số 2
Tiên Lãng, đề xuất những biện pháp tác động góp phần giúp cho học viên chuẩn
bị tốt hơn trong việc tái hòa nhập cộng đồng.
14
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng của
học viên tại trung tâm Giáo dục lao động xã hội số 2 Tiên Lãng.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa các khái niệm công cụ, các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuẩn
bị tái hòa nhập cộng đồng của học viên, các mô hình giáo dục, chính sách hỗ trợ tái hòa
nhập cộng đồng của học viên.
- Đánh giá thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc
chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng của học viên tại trung tâm GDLĐXH số 2 Tiên
đến ma túy. Không chỉ dừng lại ở việc nghiện ma túy mà tác giả còn cho thấy rõ
sự lệ thuộc, mê muội của người nghiện ma túy và những khó khăn mà người
nghiện phải trải qua khi cai nghiện [10].
“Stop using crack/Cocaine and reclaim your life” (Ngừng sử dụng ma túy một
cách xuất sắc và làm lại cuộc đời) là kết quả nghiên cứu trong suốt 20 năm của tác giả
người Mỹ, Louise Clarke. Có thể nói đây là một thành tựu lớn trong việc nghiên cứu
về cai nghiện ma túy. Bằng việc đưa ra những nghiên cứu thực tế từ những người
nghiện ma túy quyết tâm cai nghiện thành công, làm lại cuộc đời.
16
Là chuyên gia nghiên cứu sâu về ma túy và tác hại của ma túy, tác giả người
Anh, Melissa Hoegler đã làm rõ hơn sự nguy hiểm của ma túy qua: “Cocaine in the
Brain” (Ma túy ảnh hưởng đến bộ não). Tác phẩm đã chỉ ra sự khó khăn, nan giải khi
cai nghiện, bởi con người bị lệ thuộc vào ma túy về thể xác là một phần, phần quan
trọng và khó dứt điểm nhất là ở tâm trí con người [50].
Tóm lại, các nghiên cứu trên đã đề cập đến ma túy và ảnh hưởng của ma túy
đối với người sử dụng. Đây là những tài liệu quan trọng phục vụ cho quá trình
nghiên cứu của đề tài. Mặc dù các tác giả trên chưa nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh
hưởng đến tái hòa nhập cộng đồng nhưng đã đề cập đến những khía cạnh liên quan
đến việc cai nghiện, tác hại của ma túy, những khó khăn khi cai nghiện.
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt –Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về ma túy và cai nghiện
ma túy. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
“Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 – 2010, Ủy ban
Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm (2002).
Tài liệu cung cấp một hệ thống kiến thức về công tác cai nghiện và phục hồi
nhưng chưa trọng tâm trong vấn đề tái hòa nhập cộng đồng cho học viên, mới
chỉ dừng lại ở việc cai và phục hồi ở các trung tâm [26].
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố “Nghiên cứu các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý cai nghiện ma túy và sau cai Hà Nội” (02 – X07) của
Nguyễn Thành Công (2003). Nội dung đề tài đã đưa ra các giải pháp thiết thực trong
do nhóm sinh viên tình nguyện trường Đại học KHXH & NV (ĐH Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh) (2006). Đề tài này đã chỉ ra được tác động, ảnh hưởng của yếu tố phương
pháp quản lý đến việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng của học viên nhưng mới chỉ dừng
lại 1 yếu tố trong nhóm yếu tố khách quan. Chưa đi sâu nghiên cứu yếu tố chủ quan có ảnh
hưởng lớn đến việc tái hòa nhập cộng đồng của học viên cai nghiện.[19]
- “Tìm hiểu những chuẩn bị cho học viên trước khi hòa nhập cộng đồng tại
Trung tâm chữa bệnh Phú Văn”, do nhóm sinh viên tình nguyện trường Đại học
KHXH & NV (ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) (2006). Những đóng góp
18
của đề tài giúp cho các công trình nghiên cứu sau có được nền tảng để định hướng
tầm quan trọng, mức ảnh hưởng từ yếu tố khách quan đến việc chuẩn bị tái hòa
nhập cộng đồng của học viên. Việc chuẩn bị cho học viên của trung tâm để tái hòa
nhập cộng đồng sẽ đánh giá phần nào kết quả khi học viên trở về cộng đồng thích
ứng ra sao và tỷ lệ tái nghiện như thế nào [20].
Báo cáo “Tổng kết công tác cai nghiện phục hồi giai đoạn 2001 – 2005,
phương hướng nhiệm kỳ 2006 – 2010”, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và
phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm (2006) [27].
Tài liệu “Giới thiệu và hướng dẫn áp dụng mô hình cai nghiện có hiệu quả”
của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội (2007). Mặc dù tài liệu chưa chỉ rõ các yếu tố
ảnh hưởng nhưng đã có những đóng góp cho việc định hướng, chuẩn bị cho học
viên tái hòa nhập cộng đồng. Việc chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng của học viên đã
được bổ sung vào khung chương trình cai nghiện [6].
Một nghiên cứu khác: “Hiệu quả của hoạt động tái hòa nhập cộng đồng
đối với những người sau cai nghiện” của Nguyễn Hương Ngọc Quỳnh (2009).
Đề tài đã rút ra được một số kết luận về vấn đề tái hòa nhập cộng đồng, đưa
được ra một số kiến nghị về phòng chống tái nghiện cho những người sau khi
cai. Trong nội dung của đề tài vẫn chưa đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến
việc tái hòa nhập cộng đồng của học viên để từ đó giải quyết triệt để vấn đề. Nội
dung nghiên cứu chủ yếu ở mặt cộng đồng bên ngoài [17].
Nghiên cứu gần đây nhất: “ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
học viên sau cai tốt nhất và cộng đồng chào đón họ để các học viên được hòa nhập cộng
đồng là những người công dân có ích cho xã hội.
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NHỮNG YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG TỚI VIỆC TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA HỌC VIÊN
1.1.1. Khái quát về vấn đề nghiện ma túy của học viên
1.1.1.1. Ma túy
Theo Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, ham thích cái gì thành ra nghiện gọi là
“ma”, “túy” có nghĩa là say. Ma túy là danh từ, chúng để chỉ những chất gây nghiện.
20
Khái niệm khoa học: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên (morphin…); bán
tổng hợp (hêroin được bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp (amphetamine) có tác dụng
lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu…
mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu [44]
Ma túy là những chất tác động tinh thần mà người lạm dụng sẽ gây cho
mình sự lệ thuộc (viện Hàn Lâm khoa học 1990). Những chất này lấy từ thiên
nhiên hoặc được tổng hợp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thần kinh và bộ não,
tạo sự lệ thuộc về thể chất và tâm lý.
Theo cách hiểu thông thường trong xã hội Việt Nam hiện nay: Trong xã hội, ma túy
thường được hiểu là hêroin, bạch phiến. Một người nghiện ma túy sẽ bị mọi người hiểu là
nghiện hêroin hay ngược lại mà không có sự phân biệt về chất người đó lệ thuộc.
Thống nhất theo định nghĩa chung của tổ chức y tế Thế giới WHO: “Ma túy là
bất cứ thứ gì khi vào trong cơ thể, làm xáo trộn hoạt động bình thường của cơ thể,
tâm lý và trí óc con người”. Với cơ thể hoạt động bình thường khi sử dụng các loại ma
túy sẽ tạo cảm giác hưng phấn, mới lạ ban đầu, đánh lừa cảm giác… Khi lạm dụng,
dùng ma túy nhiều lần gây nghiện cơ thể sẽ bị lệ thuộc, tạo sự biến đổi về sinh lý, tâm
lý con người. Cơ thể trở nên gầy yếu, suy sụp, tinh thần bất an, không ổn định, lúc nào
cũng thèm nhớ ma túy, phát sinh nhiều chứng bệnh.
Tác hại của ma túy: với cá nhân người nghiện, gia đình và xã hội.
- Đối với cá nhân người nghiện: Gây các tổn hại về sức khỏe, thể trang,
các bệnh lý đường hô hấp, phổi suy yếu, dễ bị nhiễm trùng (với dạng hít); làm
về mặt tâm lý:
- Sự lệ thuộc ma túy về mặt thể chất: Người nghiện phải tiếp tục dùng ma
túy bằng bất cứ giá nào, bởi vì nếu ngưng ma túy sẽ đưa đến những cơn vật vã
do thiếu ma túy, có khi rất trầm trọng. Trong lệ thuộc ma túy về mặt thể chất
người ta thường thấy có hiện tượng tăng liều là khi người nghiện ma túy phải
tăng liều lượng mới có cảm giác sảng khoái giống như ban đầu.
22
- Sự lệ thuộc ma túy về mặt tâm lý: Có sự thôi thúc tâm lý mạnh mẽ phải
sử dụng thuốc để đạt được những cảm giác dễ chịu do ma túy mang lại. Đây mới
chính là sự lệ thuộc nguy hiểm vì cho dù đã được điều trị không vật vã, người
nghiện vẫn dùng ma túy trở lại. Một số ma túy ít gây những cơn vật vã nhưng
người dùng vẫn nghiện không bỏ được vì sự lệ thuộc tâm lý này.
Ma túy đang ngày càng hoành hành và hủy hoại cuộc sống của con người và
ngày càng có nhiều thanh thiếu niên sa vào con đường nghiện ngập. Có nhiều
nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng này: Do bạn bè lôi kéo, thích tìm cảm
giác lạ, đua đòi lối sống ăn chơi, thích tìm khoái lạc, chơi trội, buồn chán căng
thẳng, không có giải pháp khi bị thất nghiệp hoặc bi quan trước cuộc sống, phong
tục tập quán, trình độ dân trí thấp, sự thiếu quan tâm của gia đình, do lạm dụng
thuốc giảm đau chữa bệnh hoặc có vấn đề sức khỏe tâm thần… Tựu chung lại
nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy có 5 nhóm nguyên nhân chính:
Thứ nhất: Do tác động của nền kinh tế thị trường.
Thứ hai: Do đặc điểm tâm lý của lứa tuổi.
Thứ ba: Do các cơ quan quản lý và tuyên truyền.
Thứ tư: Do trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế.
Thứ năm: Do từ gia đình và nhà trường.
1.1.1.3. Tái nghiện và nguyên nhân tái nghiện
Tái nghiện là không duy trì được sự thay đổi trong hành vi, có liên quan
đến việc quay trở lại việc sử dụng ma túy.
Việc tái nghiện hiểu rõ hơn đó là: sau khi được cai nghiên thành công
quay trở lại cộng đồng, người nghiện không duy trì được thể trạng, tâm lý ổn
và điều hành, điều chỉnh mọi hành vi, hành động, hoạt động của con người.
Tâm lý là toàn bộ những tinh thần nảy sinh và diễn biến ở trong não tạo
nên cái mà ta gọi là nội tâm của mỗi người và cần biểu lộ thành hành vi [33].
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hiểu: “Tâm lý là bao
gồm tất cả những hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não
sinh ra, nó gắn liền và điều hành mọi hoạt động của con người”
24
Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông
qua chủ thể: tâm lý người không phải do thượng đế, do trời sinh ra, cũng không
phải do não tiết ra như gan tiết mật, tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách
quan vào não con người thông qua “lăng kính chủ quan”. Mỗi con người có
những đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh và não bộ. Mỗi người
có hoàn cảnh sống khác nhau, điều kiện giáo dục không như nhau và đặc biệt là
mỗi cá nhân thể hiện mức độ tích cực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau
trong cuộc sống. Vì thế tâm lý người này khác tâm lý người kia.
Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não, là
kinh nghiệm xã hội lịch sử biến thành cái riêng của mỗi người. Tâm lý người có bản
chất xã hội và mang tính lịch sử. Tâm lý người có nguồn gốc là thế giới khách quan,
trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định. Tâm lý người là sản phầm của hoạt động
giao tiếp trong các mối quan hệ, là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh
nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp trong đó giáo dục
giữa vai trò chủ đạo. Tâm lý mỗi người hình thành, phát triển, biến đổi cùng với sự
phát triển lịch sử của cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng.
1.1.2.2. Tâm lý học viên “cai nghiện”
Tâm lý học viên “cai nghiện”: “Là hiện tượng tinh thần của người sử
dụng ma túy lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy
và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm
thấy sự bức bách phải dùng ma túy để có những hiệu ứng ma túy về mặt tâm
thần của ma túy và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma túy”
Người nghiện ma túy là người có tâm sinh lý bị rối loạn trong một thời gian