Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013; ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu” - Pdf 23

Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………2
B.NỘI DUNG……………………………………………………………………………….2
I.Khái quát chung về thuế nhập khẩu và pháp luật thuế nhập khẩu…………………………2
1.Khái quát chung về thuế nhập khẩu……………………………………………………… 2
2.Khái quát chung về pháp luật thuế nhập khẩu…………………………………………… 3
II.Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013… 4
1.Những yếu tố tích cực…………………………………………………………………… 4
2.Những yếu tố tiêu cực………………………………………………………………….….5
III. Ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu………………………… 11
1.Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật……………………………………………… 11
2.Nâng cao trình độ cũng như phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ hải quan……… 12
3.Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật…………………………… 13
4.Nâng cao ý thức của các nhà nhập khẩu………………………………………………… 13
C.KẾT LUẬN………………………………………………………………………….… 13
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………….… 14.
1
Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, hội nhập là một xu thế tất yếu của mọi quốc gia trong đó có Việt
Nam ta. Hội nhập kinh tế đồng nghĩa với việc các quốc gia dỡ bỏ những hàng rào thuế quan
giúp lưu thông hàng hóa trở nên thuận lợi hơn. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống
pháp luật của mỗi quốc gia, đặc biệt là thuế nhập khẩu.Để hiểu rõ hơn những quy định của
pháp luật hiện nay về thuế nhập khẩu em xin đi sâu phân tích đề bài: “ Phân tích những yếu
tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013; ý kiến pháp
lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu”
Bài làm của em không tránh khỏi những sai sót, em kính mong thầy cô góp ý để bài làm và
kiến thức của em được hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG

thuế.
Trong xu hướng tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc hình
thành, thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến thuế nhập khẩu là điều tất yếu.Chính
vì vậy, chúng ta phải hiểu khái niêm pháp luật về thuế nhập khẩu theo nghĩa rộng, không chỉ
bao gồm các văn bản trong pháp luật quốc gia mà bao gồm cả các quy định trong pháp luật
quốc tế
Xét về phương diện hình thức, pháp luật về thuế nhập khẩu bao gồm các văn bản quy phạm
pháp luật như văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định và nghị quyết của chính phủ;
quyết định và chỉ thị của thủ tướng… hiện nay Việt Nam đang tích cực hội nhập quốc tế do
vậy ngoài các quy định của pháp luật trong nước thì pháp luật TNK còn bao hàm cả các quy
định trong pháp luật quốc tế có liên quan trực tiếp đến vấn đề thuế nhập khẩu.
Xét về phương diện nội dung, pháp luật về thuế nhập khẩu lại bao hàm các vấn đề chủ yếu
như: phạm vi áp dụng (được thể hiện thông qua các quy định về chủ thể nộp thuế, đối tượng
3
Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
chịu thuế, đối tượng không chịu thuế); căn cứ tính thuế; trình tự, thủ tục tiến hành thu thuế;
chế độ miễn giảm thuế; hoàn thuế; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp…
b) Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu Việt Nam
• Thành tựu đạt được: Tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các
chính sách thuế, góp phần thúc đẩy hoạt động nhập khẩu hành hóa.Nó đã phản
ánh chủ trương mở rộng kinh tế quốc tế, mở rộng ngoại giao của nước ta. Nguồn
thu từ TNK là một nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Luật này ra đời đã
góp phần đáng kể trong việc nâng cao sự minh bạch trong hoạt động hải quan,
theo hương hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
• Hạn chế còn tồn tại: Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, rườm rà và còn chưa thống
nhất với các cam kết quốc tế, cơ sở vật chất còn nghèo nàn…đã khiến cho việc
thực thi pháp luật khó khăn, tạo kẽ hở cho các nhà nhập khẩu chốn thuế, gây thất
thu cho ngân sách nhà nước.
II.Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm
2013.

nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau với giá cả cạnh tranh. Luật TXK,TNK đã quy định
các biện pháp về thuế bổ sung như thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế chống trợ cấp và
thuế chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa nhằm bảo vệ doanh nghiệp trong
nước. Tuy nhiên, trên thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới ban hành ba pháp lệnh: Pháp
lệnh thuế tự về năm 2002, Pháp lệnh thuế chống bán phá giá năm 2004 và Pháp lệnh thuế
chống trợ cấp năm 2004. Tuy nhiên, đến nay, mới chỉ có một nghị định hướng dẫn cho thuế
chống bán phá giá. Riêng thuế chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa chưa có một
văn bản nào quy định cụ thể mà mới chỉ tồn tại trong Luật TXK,TNK. Việc thiếu sót những
văn bản quy định cụ thể, văn bản hướng dẫn như vậy gây nên rất nhiều khó khăn trong quá
trình thực thi pháp luật TNK nói riêng và Luật TXK,TNK nói chung. Điều này còn tạo ra bất
lợi lớn trong quá trình bảo hộ hợp lý các ngành sản xuất trong nước
Thứ hai, một số quy định của pháp luật chưa thực sự phù hợp với các hiệp định của WTO,
do đó, tính thực tiễn của các quy định này là không cao. Trong điều kiện nước ta đã gia nhập
WTO, ngày càng mở cửa nền kinh tế, nếu những quy định không phù hợp đó vẫn tiếp tục tồn
tại thì sẽ là một yếu tố có ảnh hưởng xấu, gây khó khăn cho quá trình thực thi luật thuế nhập
5
Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
khẩu với mục đích bảo hộ nền sản xuất trong nước. - Thứ ba, quy định của pháp luật thuế
nhập khẩu còn chưa thống nhất. Ví dụ như quy định về thuế suất thông thường không thống
nhất, thậm chí còn dễ gây khó hiểu. Trong Luật TXK,TNK, thuế suất thông thường là không
quá 70% thuế suất ưu đãi (điểm c khoản 2 Điều 10 Luật TXK,TNK). Theo tư duy thông
thường, nếu chỉ đọc luật mà không đọc các văn bản hướng dẫn, người đọc sẽ dễ hiểu là thuế
suất thông thường thấp hơn thuế suất ưu đãi, chỉ bằng 70% thuế suất ưu đãi, chứ không phải
là 170% như ý nhà làm luật muốn truyền tải. Như vậy, theo quy định này của Luật
TXK,TNK, Bộ Tài chính có thể quy định một mức thuế suất trong một khung lớn từ 100%
đến 170% so với thuế suất ưu đãi của hàng hóa tương ứng. Những Bộ Tài chính đã tỏ ra cứng
nhắc khi quy định “Thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế
suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi” (điểm b.3
khoản 3 Điều 92 Thông tư 194/2010/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám
sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,

vừa lòng khách hàng để giữ giao dịch. Do đó, hiện nay xuất hiện tình trạng một giao dịch
được thực hiện theo hai hay nhiều hợp đồng để đối phó với hải quan.
Trường hợp tháng 3/2009, một doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục nhập
khẩu lô hàng qua Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1. Lô hàng gồm 520 chiếc ghế
ngồi dùng để sửa xe ô tô, khung nhôm có đệm và 70 chiếc ghế nằm dùng để sửa xe ô tô
khung nhôm có đệm, mới 100% xuất xứ từ Trung Quốc (đây là mặt hàng mới). Theo giá khai
báo nhập khẩu, giá mỗi chiếc ghế nêu trên chỉ có 2USD, theo đó số thuế phải nộp chỉ khoảng
9,2 tỷ đồng. Trong khi kết quả tham vấn giá trị tính thuế của hải quan đối với ghế ngồi dùng
để sửa xe ô tô được xác định là 138 USD/chiếc (tăng 69 lần so với giá khai báo) và ghế nằm
dùng để sửa xe ô tô giá 124 USD/chiếc (tăng 62 lần so với giá khai báo của doanh nghiệp).
Như vậy, với mức thuế suất nhập khẩu 33% và thuế giá trị gia tăng 10%, với lô hàng gần 600
chiếc ghế chuyên dùng nêu trên, số thuế doanh nghiệp phải thực nộp tăng thêm hơn 623 tỷ
đồng so với mức 9,2 tỷ đồng theo khai báo ban đầu www.ktckhanhhoa.com/Tron-thue-noi-
lo-canh-canh-cua-nganh-hai-quan.htm - Khai thấp về chất lượng hàng hóa: ví dụ như doanh
nghiệp nhập khẩu hàng vải, sợi, sắt, thép… khai báo hàng hóa của họ là hàng thứ phẩm, hàng
tồn kho, hàng loại A,B,C,D hoặc hàng vỡ vụn nhiều…nhằm làm giảm giá khai báo, trốn
thuế. - Khai báo hàng không thanh toán, hàng hỗ trợ tiếp thị quảng cáo: vì theo công văn
hướng dẫn của ngành hải quan, nếu doanh nghiệp có hàng hóa khuyến mãi thì sẽ được miễn
7
Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
thuế đối với hàng hóa đi kèm. Do đó, nhiều doanh nghiệp đã biến hàng hóa của mình thành
hàng khuyến mãi để trốn thuế.
• Khai thấp dần trị giá khai báo so với các lô hàng cùng loại, tương tự nhập khẩu trước
đó.
• Dựa vào danh mục dữ liệu giá của cơ quan hải quan để khai báo trị giá các lô hàng
giống hệt, tương tự với giá thấp hơn giá dao dịch thực tế
• Dựa vào xác nhận giá của sứ quán, tham tán thương mại, phòng thương mại tại nước
xuất khẩu để khai trị giá thấp hơn giá giao dịch thực tế.
• Khai thấp trị giá đối với hàng nhập thử, sau đó ồ ạt nhập theo trị giá thấp đã khai
trước đó.

tạp.Trở ngại lớn nhất là các hình thức biến hóa của các nhà nhập khẩu nhằm trốn thuế, hưởng
thuế suất thấp hơn để thoát khỏi hoặc giảm bớt một phần nghĩa vụ thuế với nhà nước.
- Gian lận thuế qua xuất xứ hàng hóa
- Khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để được áp mã và hưởng thuế suất thấp
hơn.
2.3. Quy định pháp luật về quy trình hành thu thuế nhập khẩu bị lợi dụng
a.Kê khai thuế nhập khẩu
Theo quy định của pháp luật thì nó phải do chủ thêt tiến hành hoạt động nhập khẩu tự thực
hiện, đòi hỏi sự trung thực, nghiêm chỉnh từ phía nhà nhập khẩu.
Việc kiểm tra của cán bộ hải quan tiến hành rất khó khăn. Trong khi đó hàng nhập khẩu rất
phong phú và đa dạng, khó có thể phân biệt và mã hóa một cách chính xác.Phần lớn các lô
hàng nhập về đều thừ về số lượng và có hàng lậu kèm theo trong lô hàng hay không, đặc biệt
đối với nguyên liệu dệt may.
b.Nộp thuế nhập khẩu
Thời hạn được quy định rõ rang trong điều 15 Luật TNK, TXK, nhưng việc thực hiện quy
định này gặp không ít khó khăn.Nhiều nhà nhập khẩu đã lwoij dụng chính sách ân hạn thuế
để gây thất thu thuế cho Nhà nước.
2.4.Các nhà nhập khẩu lợi dụng ưu đãi miến giảm, thuế nhập khẩu để trốn thuế
9
Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
• Theo quy định tại khoản 5 Điều 16 Luật TXK, TNK năm 2005, hàng hóa nhập khẩu
trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế của người nhập cảnh được miễn thuế.Lợi dụng
quy định này, nhiều vụ nhập lậu, đặc biệt là điện thoại theo đường phi mậu dịch và
sách tay qua các sân bay đã được thực hiện trót lọt, gây thất thu hàng trục tỷ đồng
thuế của nhà nước.
• Theo quy định tại khoản 4 Điều 16 Luật TXK, TNK thì hàng hóa nhập khẩu theo
một hợp đồng gia công cho bên nước ngoài cũng nằm trong diện được miễn
thuế, chính vì vậy một số doanh nghiệp đã làm giả hợp đồng gia công nhằm trốn
thuế, gây thất thu thuế cho Nhà nước.Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng xấu đến
việc thực thi luật thuế nhập khẩu ở nước ta còn một phần do quy định của pháp luật

thuế nhập khẩu càng trở nên khó khăn.
III. Ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu
1.Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất: Cần phải xây dựng hàng rào thuế quan phù hợp.Việc gia nhập WTO và các
cam kết của AFTA đang buộc chúng ta phải giảm hàng rào thuế quan.Do đó, việc xây
dựng, hoàn thiện quy định, văn bản hướng dẫn các loại thuế nhập khẩu bổ sung để điều tiết
kinh doanh, bảo hộ sản xuất trong nước…như thế tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp,
chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa là cần thiết
Thứ hai: Sửa đổi quy định của Luật TXK,TNK về thuế xuất ưu đãi.Thuế suất thông
thường được bộ tài chính quy định áp dụng thống nhất ở mức bằng 150% thuế suất ưu
đãi.Quy định này mang nặng tư duy ý chí, và vô tình lấn át cả quy định của Luật
TXK,TNK( luật cho phép dao động từ 100% đến 170%).Do đó, cần phải có những quy
định cụ thể, trường hợp, mức thuế suất thông thường nhằm khắc phục sự cứng nhắc trong
áp dụng thuế suất, đồng thời đảm bảo khung thuế không bị áp dụng tùy tiện, chủ quan trong
từng trường hợp riêng lẻ.
Thứ ba: Về truy thu thuế, hiện nay những quy định của pháp luật vẫn còn nhiều kẻ hở,
khiến cho các chủ thể nộp thuế trốn tránh hoặc gian lận thuế.Vì vậy, pháp luật cần quy định
một cơ chế giám sát phù hợp quá trình chuyển nhượng lại tài sản của đối tượng đáng lẽ bị
11
Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
truy thu thuế nhưng đã thực hiện việc chuyển nhượng cho các đối tượng thuộc diện miễn
thuế, xét miễn thuế…
Thứ tư: Về thời hạn nộp thuế, hiện nay luật đưa ra hai tiêu chí để xác định thời hạn nộp
thuế là thời hạn xác định theo sự chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế.Luật chủ nên lấy
một tiêu chí là mức độ chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế, như vậy sẽ phù hợp với
quy định của Hải quan.Đồng thời khuyến khích sự chủ động tự giác tuân thủ pháp luật của
chủ thể nộp thuế.
Thứ năm: Cần đơn giản hóa, minh bạch hóa thủ tục hải quan.Điều này giúp các doanh
nghiệp dễ dàng hơn trong nhập khẩu, giảm được tình trạng hối lộ, tránh sự thoái hóa, biến
chất của một số cán bộ hải quan

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay, chúng ta đang phải cắt giảm thuế nhập khẩu
theo đúng lộ trình.Tuy nhiên, loại thuế này vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo hộ
nền sản xuất trong nước, cũng như là một khoản thu không nhỏ của ngân sách.Chính vì
vậy, việc khắc phục những yếu tố bất lợi, gây ảnh hưởng không tốt tới việc thực thi luật
thuế nhập khẩu là rất quan trọng.Nó giúp cho những quy định pháp luật này đi vào thực tiễn
và đạt được mục đích mà các nhà làm luật mong muốn
13
Lê Thị Hoan, lớp N04 – TL4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thuế Việt Nam, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, 2011.
2. Luật thuế XK, thuế NK năm 2005.
3. Thực tế áp dụng luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam, Lê Minh Giang, khóa luận tốt
nghiệp năm 2007
4. Thông tư 184/2010 của Bộ Tài chính
5. Thông tư 194/2010/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải
quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status