PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là tương lai của đất nước, đầu tư cho trẻ em là đảm bảo cho sự phát
triển bền lâu của mỗi quốc gia. ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
chú trọng tới công tác nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Trong công cuộc CNH-HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những
thành tựu đạt được thì đất nước chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề xã
hội như: sự phân hoá giàu nghèo, vấn đề việc làm các tệ nạn xã hội đang có
chiều hướng gia tăng, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân
nhất là đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó đối tượng đầu
tiên chịu tác động là trẻ em mồ côi.
Trẻ mồ côi là một hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả quốc gia trên thế giới,
là nhóm trẻ đặc thù của công tác xã hội, là nhóm trẻ dễ bị tổn thương và chịu
nhiều thiệt thòi; các em ít có cơ hội để phát triển và hoàn thiện nhân cách cũng
như hoà nhập với cộng đồng.
Hiện nay, đại bộ phận trẻ em mồ côi ở nước ta đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ của Nhà nước, của cộng đồng và của toàn xã hội. Đã có rất nhiều các
trung tâm bảo trợ xã hội, các tổ chức từ thiện được thành lập để nuôi dạy trẻ em
mồ côi, trong đó phải kể đến mô hình làng trẻ SOS - Hà Nội. Ở đây, các em có
điều kiện để học tập, để vui chơi giải trí, phát triển toàn diện về nhân cách.
Nhưng tất cả những điều đó chỉ là sự chăm sóc, giúp đỡ ban đầu, còn khi các em
hoà nhập với cộng đồng trở về địa phương, số phận của các em ra sao? Các em
1
có tự lập được hay không? thì cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nào đi sâu vào
nghiên cứu, tìm hiểu.
Với lý do như vậy mà em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu khả
năng tái hoà nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi ở làng trẻ SOS Hà Nội sau
khi trưởng thành”. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng em mong rằng đề tài này
Đối với trẻ em mồ côi Luật pháp nước ta nhấn mạnh:
+ Tránh mọi hình thức phân biệt đối xử với trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi
được đăng ký khai sinh.
+ Giúp đỡ để các em có điều kiện sống trong tình thương của gia đình, được
chăm sóc và bảo vệ.
Về đề tài về trẻ em luôn là đề tài được rất nhiều người quan tâm, ở lĩnh vực
nào cũng có rất nhiều bài viết về trẻ em mồ côi:
-Tác giả Nguyễn Thị thanh với công trình nghiên cứu" Khảo sát trẻ mồ côi
trên địa bàn Hà Nội" và "Mô hình chăm sóc trẻ mồ côi ở Hà Nội" với mục đích
hướng đến việc tìm ra một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề trẻ mồ côi trên địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay.
-"Trẻ em gia đình xã hội" của tác giả Mai Quỳnh Nam đề cập đến vai trò của
gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tìm hiểu thực trạng trẻ em khó
khăn và những giải pháp cho vấn đề này.
-"Lạm dụng trẻ em Việt Nam, báo cáo bước đầu về khái niệm, bản chất và
mức độ lạm dụng trẻ em ở Việt Nam" của tác giả Reina Michaelon chuyên gia
UNICEF của Liên Hợp Quốc (tháng 6 năm 2003).
3
-“Đoàn thanh niên cộng sản HCM với việc chăm sóc, giáo dục trẻ có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn” của tác giả Đặng Cảnh Khanh.
-“Khả năng tái hoà nhập cộng, xã hội và gia đình” của tác giả Nguyễn Văn
Buồn. Với những công trình nghiên cứu này cho chúng ta hiểu rõ hơn về nhu
cầu, nguyện vọng, tâm tư tình cảm của trẻ em mồ côi, qua đó sẽ đưa ra cách giúp
đỡ thiết thực hơn cho trẻ em mồ côi.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu và những trang bị kiến thức về công
tác xã hội, em đã chọn cho mình đề tài:”Tìm hiểu khả năng tái hoà nhập cộng
đồng của trẻ em mồ côi ở làng trẻ SOS Hà Nội sau khi đã trưởng thành”.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khả năng hoà nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi ở làng trẻ SOS- Hà Nội
sau khi trưởng thành
4.2. Khách thể nghiên cứu của đề tài:
Những trẻ em mồ côi tại làng trẻ SOS đã trưởng thành đang hoà nhập
cộng đồng.
4.3 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng khả năng tái hoà nhập cộng đồng của trẻ em tại Làng
trẻ SOS sau khi trưởng thành.
5
- Phân tích những yếu tố tác động đến khả năng tái hoà nhập cộng đồng
của các em, đồng thời chỉ ra những mặt được, hạn chế của Làng trẻ em SOS Hà
Nội trong công tác chuẩn bị cho trẻ tái hoà nhập cộng đồng sau khi trưởng thành.
- Xây dựng kế hoạch và đề xuất những biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao
khả năng tái hoá nhập cộng đồng cho trẻ em trong làng trẻ SOS Hà Nội.
4.4. Phạm vi nghiên cứu
4.4.1 Không gian
Làng trẻ em SOS- Phường Mai dịch- Cầu giấy- Hà Nội
4.4.2. Thời gian
Từ ngày 01/03/2008 đến 30/04/2008.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp luận nghiên cứu.
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử tất cả mọi hiện tượng nảy sinh trong xã hội
đều có quá trình phát sinh, phát triển, sự phát triển của nó trong các thời kỳ khác
nhau, dưới các hình thức kinh tế - xã hội khác nhau sẽ có sự biến đổi khác nhau.
Việc sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử là đặt các hiện tượng xã hội, các quá
trình xã hội trong hoàn cảnh lịch sử của đời sống xã hội. Dựa trên quan điểm đó
tượng.
5.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu
7
Trong nghiên cứu đề tài của mình, ngoài việc thu thập thông tin từ các em
mồ côi ở cơ sở thực tập, tác giả đã sử dụng các thông tin, các số liệu từ các báo
cáo của làng trẻ SOS, các giáo trình, tạp chí liên quan đến trẻ em, các trang Web
về trẻ em, các trang tìm hiểu về khả năng hoà nhập của trẻ em mồ côi… làm cơ
sở nghiên cứu cho khoá luận.
5.2.3. Phương pháp quan sát
Quan sát là nhu cầu của con người để sống, làm việc và hiểu nhiều hơn về
con người cũng như thế giới. Nghiều nghiên cứu kết luận rằng, có đến 2/3 thông
tin mà con người nhận được là thông qua đôi mắt. Người làm công tác xã hội cần
có kỹ năng quan sát con người và những giao tiếp không lời của đối tượng mà
mình làm việc với họ. Có rất nhiều sự trao đổi thông tin, giao tiếp trong các cử
chỉ không lời không nằm trong ý thức của người tham gia giao tiếp. Khi làm việc
với đối tượng, người làm công tác xã hội cần quan sát để biết được đối tượng
phản ứng thế nào với hoạt động mà mình cung cấp và quan hệ giữa họ như thế
nào. Dựa vào những thông tin này, chúng ta có thể quyết định khi nào cần phải
thay đổi, can thiệp điều gì trong hoạt động để đối tượng được thúc đẩy một cách
tốt nhất.
Trong quá trình tìm hiểu thu thập thông tin từ các em mồ côi, do hoàn
cảnh và sự mặc cảm về gia đình nên nhiều thông tin không được thể hiện bằng
lời nói mà phải dựa vào khả năng quan sát tinh tế mới nhận diện được những tâm
tư, tình cảm của các em, cũng như hoàn cảnh sống của các em.
8
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Quan điểm Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
và giáo dục trẻ em đạt mục đích đề ra như luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, luật hôn nhân gia đình, luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, luật giáo dục, luật lao
động
Hiến pháp và hệ thống luật đều khẳng định sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em là sự nghiệp của toàn xã hội và các quyền cơ bản của các em là
quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, học tập, vui chơi giải trí được sống
chung với bố mẹ.
Một số quan điểm, tư tưởng của Bác Hồ và của Đảng cũng như hiến pháp
và hệ thống pháp luật của nước ta về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói
chung, trẻ em mồ côi nói riêng là cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học
trong việc nghiên cứu về trẻ em mồ côi. Đây cũng là cơ sở quan trọng trong việc
nghiên cứu, thực hiện đề tài khóa luận này.
1.2 Các khái niệm làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm cộng đồng
Trong các tài liệu khoa học xã hội thuật ngữ cộng đồng được hiểu theo ba
tuyến nghĩa:
- Cộng đồng được nhìn nhận với tư cách là một chỉnh thể của các mối
quan hệ xã hội (quan hệ huyết thống, quan hệ thân tộc, quan hệ tình cảm cộng
10
đồng, quan hệ láng giềng, quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, con người với
môi trường )
- Cộng đồng được coi là một kiểu loại riêng biệt của quan hệ xã hội với
những tổ chức nhất định trên cơ sở tình cảm, tinh thần và ý thức cộng đồng.
- Cộng đồng được hiểu như là một địa vực hay một vùng đất, trên đó có sự
định cư của một nhóm người, có sự chia sẻ giá trị văn hóa quần chúng.
Với tư cách là một khái niệm được nhiều ngành khoa học xã hội &nhân
văn nghiên cứu nên có rất nhiều khái niệm về cộng đồng.
Theo J. Fichter ông cho rằng có thể áp dụng rộng rãi cuộc sống tập thể
cộng đồng gồm 4 yếu tố:
thì "Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" (Điều 11, Luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em năm 2004).
1.2.3. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường
về thể chất và tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa
nhập với gia đình, cộng đồng.( Điều 3, khoản 1, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em)
1.2.4. Khái niệm trẻ em mồ côi
Hiện nay khái niệm trẻ em mồ côi vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh
cãi. Đã có nhiều ngành, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đưa ra những cách hiểu
khác nhau về khái niệm này. Nhưng phổ biến nhất là hai khái niệm:
12
- Trẻ em mồ côi thực tế: Là một đứa trẻ chia ly vĩnh viễn với một người
thân (cha hoặc mẹ) do cha hoặc mẹ bị chết, hoặc cả cha và mẹ đều bị chết gọi là
trẻ mồ côi thực tế.
- Trẻ em mồ côi xã hội: Là đứa trẻ bị đột ngột chia ly vĩnh viễn hoặc tạm
thời trong một thời gian dài với cha, mẹ dù họ vẫn còn sống.
- Theo bộ luật dân sự: Trẻ em mồ côi là đứa trẻ dưới 16 tuổi, mồ côi cả
cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân
thích để nương tựa, cha hoặc mẹ, những người còn lại là mẹ hoặc cha bị mất
tích.
Với các khái niệm này có thể đưa ra 3 tiêu trí để nhận dạng trẻ em mồ côi:
+ Mất cả cha lẫn mẹ: Cha mẹ đều chết hoặc chết một người, một người
mất tích.
+ Mất cha: cha chết hoặc bỏ đi mất tích.
+ Mất mẹ: Mẹ chết hoặc bỏ đi mất tích.
1.3. Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
1.3.1. Lý thuyết hành vi
Đại biểu của lý thuyết này là Max Weber, Parson, họ cho rằng hành động
xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, đồng thời là cơ sở
của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu ở mức độ
cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn
trước.
14
Trong bài khóa luận này tác giả đã vận dụng 5 nấc thang nhu cầu cơ bản
của con người theo giai đoạn đầu của lý thuyết Maslow.
+ Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu này được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu
cầu sinh lý (physiological need), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như
ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải
mái, đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Maslow
cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những
nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối
thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được.Ông
bà ta cũng sớm nhận ra điều này khi cho rằng "có thực mới vực được đạo", cần
phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu
cầu cao hơn. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh,
đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu
+ Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi con người đã
được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt
đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiển trong cả thể chất
lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình
khỏi các nguy hiểm, các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như
chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác
an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về. Nhu cầu này được
thể hiện qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có
pháp luật, có nhà cửa để ở
+ Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu
mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó, hoặc nhu cầu về tình
cảm, tình thương. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm
tươnglai của tổ quốc. Trẻ em là lớp người kế tiếp thế hệ cha anh trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chính vì vậy cho ta thấy tầm quan trọng của việc
nuôi dưỡng chăm sóc và bảo vệ trẻ em của mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Nhưng trong thực tế cuộc sống trẻ em đang gặp rất nhiều khó khăn, có
hoàn cảnh vô cùng đặc biệt: Đó là trẻ em lanh thang , trẻ em khuyết tật, trẻ em
mồ côi, trẻ em lao động sớm…trong đó trẻ em mồ côi ngày một gia tăng, hiện
nay cả nước có hơn 160.000 trẻ em mồ côi trong đó có 16.000 trẻ em mồ côi
không nơi nương tựa chiếm 0,67% so với tổng số trẻ nói chung.
Trung bình mỗi năm có khoảng 300 đến 500 em bị mất cha mẹ hoặc cha
hoặc mẹ. Để bù đắp những thiếu thốn mất mát giúp các em vươn lên khói cuộc
sống bất hạnh thì Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội trong và ngoài
nước có nhiều chương trình chính sách nhắm chăm lo cuộc sống của các em.
Một trong những tổ chức được nhiều người biết đến là làng trẻ em SOS
Hà Nội. Đây là một trong những trung tâm đứng đầu cả nước đã hoàn thành tốt
công tác nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ em mồ côi. Các em được nuôi dưỡng giáo
dục tại làng đã trưởng thành nhanh chóng và trở thành người có ích cho xã hội.
Tính đến thời điểm hiện nay đã có hơn 100 cháu tự lập hoàn toàn, đều có tay
17
nghề đảm bảo công ăn việc làm, có thu nhập ổn định và đảm bảo cuộc sống,
nhiều cháu đã xây dựng gia đình có con và đã có tổ ấm riêng của mình.
Thành công của các em là kết quả nỗ lực phấn đấu của bản thân các em,
của sự quan tâm nuôi dưỡng, giáo dục chu đáo hết mức, đặc biệt là tình cảm yêu
thương, tình mẫu tử của các bà mẹ. Bên cạnh đó, làng luôn được sự quan tâm
giúp đỡ của các lãnh đạo Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội và các
doanh nghiệp TW và địa phương.
2.1. Giới thiệu chung về làng trẻ SOS- Hà Nội:
2.1.1. Lịch sử hình thành của SOS quốc tế , làng trẻ SOS Việt Nam, làng trẻ
SOS Hà Nội
* Lịch sử hình thành làng trẻ SOS quốc tế:
điểm gặp gỡ, giao lưu của tất cả các nhân viên chăm sóc trẻ em tại các cơ sở của
SOS lúc bấy giờ.
Năm 2005 ở Pakistan đã xảy ra một trận động đất với một cường độ cực
mạnh. Trận động đất này đã làm cho toàn bộ đời sống xã hội của quốc gia vùng
Trung Đông này bị đảo lộn. Những hậu quả đằng sau nó thật vô cùng to lớn,
chính vào thời điểm này thì tổ chức SOS quốc tế đã tiến hành một loạt những
hoạt động cứu trợ nhằm tới đối tượng chính là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Điều này lại một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của tổ chức SOS đồng thời cụ
thể hóa hơn về đối tượng giúp đỡ của SOS ra toàn thế giới. Trẻ em chính là sự
quan tâm chính yếu của SOS.
19
Trong quá trình hỗ trợ, giúp đỡ những trẻ em mồ côi có hoàn cảnh khó
khăn thì SOS cũng luôn nhận được những sự quan tâm và hưởng ứng rất rộng rãi
trong nhiều ngành, nhiều giới. Họ có những người bạn, những người luôn song
hành, kề vai cùng nhau trong sự nghiệp mang tính nhân đạo cao cả này. Một
trong những người bạn quý đó là liên đoàn bóng đá thế giới FIFA tổ chức này đã
nhiều lần tài trợ cho SOS thực hiện những dự án lớn như xây dựng cơ sở vật
chất, giúp đỡ dưới các hình thức khác nhau cho trẻ em khó khăn. Những cống
hiến của họ quả thật vô cùng to lớn.
Qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, làng trẻ SOS quốc tế đã có
hơn 130 nước thành viên, 400 làng với số trẻ đón nhận là hơn 7 vạn trẻ em.
* Lịch sử hình thành của SOS Việt Nam
Năm 1967 làng trẻ em SOS đầu tiên ở Việt Nam đã được xây dựng tại Gò
Vấp và ở Đà Lạt do ông Kutin làm giám đốc điều hành. Tuy nhiên do hoàn cảnh
lịch sử chung lúc bấy giờ lên đến năm 1975 khi mà miền Nam Việt Nam được
giải phóng thì 2 làng trẻ này đã tạm ngừng hoạt động.
Đến năm 1987 được sự chấp thuận của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội đã ký với SOS quốc
tế hiệp định hợp tác và phát triển các làng trẻ ở Việt Nam, tiến hành khôi phục
Insbuck đến năm 1985 ông được bầu chọn đảm nhiệm chức vụ chủ tịch của SOS
quốc tế.
Tổng thư ký hiện nay của SOS quốc tế là ông Richarch Bichler. Ông sinh
tại Tamswep của nước Áo năm 1961. Khi Richarch còn trẻ thì ông là một chuyên
21
gia quản lý giáo dục đại học sau đó ông đã quyết định chuyển sự nghiệp của
mình vào trong lĩnh vực hoạt động của SOS. Ông chính thức trở thành tổng thư
ký của SOS năm 1995.
* Lịch sử hình thành của SOS Hà Nội
Làng trẻ em SOS Hà Nội được thành lập theo quyết định 3286/QĐ-UB
ngày 12-7-1988 của Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội và được khởi công xây
dựng 14-7-1988 đến ngày 26-1-1990 thì làng trẻ đã chính thức đi vào hoạt động.
Làng trẻ Hà Nội chịu sự quản lý của Sở Lao Động Thương Binh Xã hội Hà Nội
và SOS Việt Nam. Toàn bộ nguồn kinh phí để duy trì hoạt động cho làng 100%
được cung cấp bởi SOS quốc tế.
Làng trẻ Hà Nội nằm trên địa bàn của phường Mai Dịch thành phố Hà
Nội. Toàn bộ làng có diện tích lên tới gần 2 ha với 16 ngôi nhà trong đó. Điểm
đáng chú ý là tên mỗi ngôi nhà đều được lấy theo tên của những loài hoa khác
nhau ( hoa Mơ. hoa Mận. Hoa Đào, hoa Thược Dược ), mỗi một ngôi nhà đều
có chung một kiểu kết cấu cũng như chung một cách bài trí các vật dụng khác
nhau trong đó. Diện tích của mỗi nhà đều là 12 m2, có 2 tầng, gồm 1 bà mẹ và 8
đến 10 em nhỏ ở trong đó. Trong làng có một khu lưu xá thanh niên dành cho
các em nam được chuyển ra khi đến tuổi thanh thiếu niên. Làng có một trường
mẫu giáo, có văn phòng dành cho cán bộ công nhân viên, một thư viện, một
phòng tranh, một phòng truyền thống, một phòng máy và một số các phòng chức
năng khác. Lãnh đạo cao nhất hiện nay của làng trẻ Hà Nội là ông Dũng, giám
đốc điều hành của làng.
22
* Nhiệm vụ đầu tiên là tập hợp và đưa các em nhỏ có đủ điều kiện, phù
hợp với những tiêu chí mà tổ chức SOS đề ra, đưa các em đó vào trung tâm và
tiến hành các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp. Nhiệm vụ này có thể
hiểu là các hoạt động nhằm duy trì sự sinh tồn và phát triển lành mạnh cho trẻ,
đồng thời giáo dục nhân cách cho các em để hình thành những yếu tố cần và đủ
của một công dân tốt sau này.
* Một nhiệm vụ khác đó là từng bước hướng dẫn cho các em những khả
năng để có thể dần sống tự lập. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm
tạo cho các em tâm thế cũng như những sự chuẩn bị cần thiết cho quá trình phát
triển lâu dài của chính các em. Để thực hiện nhiệm vụ này thì Làng thường
xuyên có những hoạt động nhỏ, phù hợp với từng lứa tuổi, phù hợp với thể trạng
của trẻ nhằm kích thích sự tham gia tích cực của các em. Qua những hoạt động
bổ ích và có tính giáo dục cao như vậy thì chính các em đã dần hình thành trong
nhân cách của mình, sự tự tin cũng như có được các kỹ năng thật sự cần thiết
trong cuộc sống.
* Nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và then chốt của Làng trẻ đó là giúp đỡ và
tạo điều kiện để tái hòa nhập cộng đồng cho các em. Để thực hiện nhiệm vụ này
thì không thể thiếu sự giúp đỡ, tạo cho các em những sự chuẩn bị cần và đủ khi
trở lại với môi trường xã hội bên ngoài. Nhiệm vụ thứ 3 này tập trung thông qua
những hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề một cách phù hợp với nguyện vọng
mong muốn của trẻ, bên cạnh đó có những sự tư vấn cần thiết để chỉ cho các em
24
thấy và nắm bắt được những nhu cầu chung mà xã hội đang cần đến. Đây thực
sự là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của Làng trẻ.
25