NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á (ADB)
DỰ ÁN TƯ VẤN KỸ THUẬT "PHÁT TRIỂN TRẺ THƠ TRONG CÁC
GIA ĐÌNH NGHÈO Ở VIỆT NAM"
(TA VIE-4205)
BÁO CÁO BAN ĐẦU
Phụ chương trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu kỹ thuật sơ bộ.
Chuyến công tác đầu tiên của Đoàn bao gồm việc tìm hiểu làm quen vớ
i ECD ở Việt Nam của
Trưởng nhóm với mạng lưới chuyên sâu, các ban ngành liên quan chính (phụ lục 1), và một
bản tổng quan sơ bộ các tài liệu về ECD (phụ chương 1).
Bối cảnh ECD ở Việt NamMục đích của Dự án hiện nay là tiến hành phân tích sâu và toàn diện về nhu cầu Phát triển trẻ
thơ của trẻ em nghèo ở Việt Nam. Mục đích của phân tích này là phân tích tình hình về nhu cầu
chăm sóc, giáo dục và sức khoẻ của trẻ thơ, đồng thời đề xuất các khuyến nghị về chính sách
và chiến lược cho các nhà quản lý quốc gia và quốc tế để xây dựng một kế hoạch hành động
qu
ốc gia về ECD. Đầu ra của Dự án sẽ là tập hợp các lựa chọn về chương trình và chiến lược
để tập trung cung cấp ECD tốt hơn cho trẻ em nghèo.
Chính phủ Việt Nam cam kết xây dựng nền tảng công bằng về vốn con người. Việt Nam đã đạt
những tiến bộ nhanh chóng về phát triển con người qua nhiều chỉ báo , bao gồm giảm tỷ lệ tử
vong mẹ, trẻ sơ
sinh và trẻ dưới 5 tuổi, giảm tỷ lệ tăng dân số, đạt giáo dục phổ cập tiểu học và
giảm tỷ lệ nghèo đói xuống hơn một nửa trong một thập kỷ. Tuy nhiên, dưới thời kỳ đổi mới,
trong khi trình độ vốn con người có sự cải thiện đáng kể, thì chính sách “xã hội hoá” cũng làm
giảm đáng kể ngân sách nhà nước dành cho các dịch vụ chăm sóc trẻ thơ
. Chính sách Nhà nước
khuyến khích mở rộng dịch vụ tư nhân chăm sóc trẻ thơ đã làm cho người nghèo lâm vào hoàn
cảnh khó khăn, vì phải phụ thuộc vào nguồn ngân sách hạn chế. Trong khi việc mở rộng sự
tham gia của khu vực tư nhân trong cung cấp dịch vụ ECD mang lại lợi ích cho người khá giả
ở các thành phố và các trung tâm đô thị, thì các vùng nghèo nhất, và các dân tộc thiểu số khó
ợ các nỗ lực của Chính
phủ trong lĩnh vực này. Hiện tại, Ngân hàng Thế giới đang quản lý 1.9 tỷ quỹ JSDF để phát
triển ECD thông qua Save the Children Anh, Nhật Bản và Mĩ. Ngoài ra, UNICEF và Enfant et
Development cũng đang có các chương trình tiền học đường tích cực và các thử nghiệm hợp
tác với Bộ Giáo dục -Đào tạo và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Tiếp theo Dự án giáo dục
tiểu học cho trẻ em thiệt thòi, với kh
ả năng lồng ghép ECD vào các sáng kiến trong tương lai,
Ngân hàng Thế giới đã thiết lập một nhóm các nhà tài trợ để tham gia vào những hoạt động còn
trống trong lĩnh vực này.
Trong khi đây là một cơ hội để Việt Nam củng cố cam kết của mình về ECD, có một vài yếu tố
thách thức đối với vấn đề này và cả với việc phát triển của dự án hiện tại. Cơ cấu d
ọc của các
bộ ngành hiện nay là một thách thức đặc biệt đối với việc xây dựng thành công các chương
trình quốc gia về ECD. Điều này đặc biệt đúng tại cấp trung ương. Tại cấp huyện và xã, có
nhiều hoạt động được lồng ghép hơn, dù chưa phải là các chương trình lớn. Do đó, cơ cấu dọc
tại các cấp trung ương đòi hỏi phát triển một khung chính sách đa ngành, lồ
ng ghép về ECD.
Thứ hai, cấu trúc của hệ thống lập kế hoạch và quản lý ECD giữa cấp TW và địa phương chưa
rõ ràng. Trong khi chính sách về phân cấp hành chính của chính phủ nhằm nâng cao năng lực
địa phương để chủ động giải quyết các nhu cầu của địa phương, đây là một bước tiến đúng
hướng, cần nâng cao năng lực địa phương để đạt được mục tiêu này. Hiệ
n tại, việc thiếu sự hợp
nhất các chỉ báo ECD từ cấp xã tới cấp trung ương đưa ra một thách thức đặc biệt đối với việc
thu thập và phân tích thông tin từ các hộ gia đình cho đến các cơ sở cung cấp dịch vụ ECD dựa
vào trung tâm và gia đình.
Khái niệm phát triển trẻ thơ, và đặc biệt là khái niệm lồng ghép phát triển trẻ thơ chưa được
hiểu đầy
Nhân sự
Việc tuyển chọn các chuyên gia tư vấn còn lại cho Dự án đã được thực hiện. Cả chuyên gia tư
vấn về giáo dục trẻ thơ và chuyên gia tư vấn về sức khoẻ trẻ thơ được xác định và tuyển chọn
trong thời gian diễn ra chuyến công tác đầu tiên của Đoàn. Hiện nay ADB đang xem xét lần
cuối để ký hợp đồng với hai chuyên gia này.
Sau khi tổng quan các tài liệu và các cuộc
điều tra hiện có, phương pháp thực hiện Dự án được
sửa đổi. Điều tra hộ gia đình về ECD sẽ không tiến hành trong gia đoạn Dự án hiện nay. Quyết
định lồng ghép điều tra hộ gia đình vào giai đoạn thực hiện dự án sau. Do đó, chính thức hoãn
hoạt động của chuyên gia tư vấn về điều tra khỏi các hoạt động hiện tại của dự
án từ 04/3/04-
05/3/05.
Chuyên gia tư vấn về phát triển xã hội, người có nhiệm vụ chính về mặt chất lượng của cuộc
điều tra cũng không được tuyển chọn trong giai đoạn này. Thay vào đó, nghiên cứu về các
nhóm dân tộc thiểu số và các nhóm thiệt thòi sẽ là nhiệm vụ chính của chuyên gia tư vấn về
giáo dục trẻ thơ cùng với sự hỗ trợ của Trưởng nhóm chuyên gia.
Nhóm chuyên gia tư v
ấn của ADB sẽ bổ sung các đầu vào kỹ thuật như tiến độ của Dự án và
như các nhu cầu cụ thể đã được xác định.
Phối hợp và sắp xếp về hành chính
Một vài cuộc họp giữa UBDSGĐTE, cán bộ Ban quản lý dự án, Giám đốc BQLDA và Phó
Chủ nhiệm UBDSGĐTE Phùng Ngọc Hùng đã được tổ chức. Đại diện Vụ Quan hệ Quốc tế,
cán b
ộ BQLDA, nhóm chuyên gia tư vấn ADB, và cán bộ phụ trách dự án của ADB, ông Erik
ễ bị tổn thương nhất ở Việt Nam, trẻ em
dân tộc thiểu số.
Phương pháp và kế hoạch công việc
Phương pháp nghiên cứu
Phân tích dựa trên một số các nguồn dữ liệu được phác thảo sau đây. Nghiên cứu kết hợp định
tính và định lượng. Nghiên cứu định tính dựa trên một số cuộc điều tra định tính về Kiến thức,
Thái độ và Hành vi (KAP) về ECD do các tổ chức quốc tế khác nhau tiến hành; UNICEF, Save
the Children Anh, Enfant & Development. Thảo luận nhóm tập trung tại cấp tỉnh và huyện sẽ
cung cấp thêm số liệ
u định tính.
Đối với thành phần định lượng, nghiên cứu này dựa vào 3 nguồn tài liệu:
1. Phân tích cấp vĩ mô: Nghiên cứu của các cơ quan trong nước và quốc tế đã tiến
hành về tình hình chăm sóc, giáo dục và sức khỏe trẻ thơ ở Việt Nam. Rất nhiều tài
liệu trong số này trình bày mô tả sơ lược phân tích tình hình ECD ở Việt Nam, tập
trung đặc biệt vào các vấn đề liên quan đến trẻ em nghèo và thiệt thòi nh
ất. Các bộ
ngành và Tổng cục Thống kê sẽ được yêu cầu hợp tác trong việc cung cấp số liệu.
2. Phân tích cấp vi mô: Một số các cuộc điều tra cấp quốc gia quan trọng đã được tiến
hành ở Việt Nam và cung cấp nguồn thông tin đầy đủ. 3 tập hợp số liệu liên quan
đến vấn đề ECD sẽ giúp phân tích sâu hơn về xu hướng phát triển ECD tại các hộ
gia đình và cho phép so sánh giữa các nhóm dân số
khác nhau. Bao gồm Điều tra
mức sống dân cư (1993, 1998 và 2003), Điều tra Y tế Việt Nam(2004), Điều tra
1. Thống nhất về cơ cấu và thành phần Ban Điều hành Dự án vào 15/6/2004.
2. ADB Manilla cung cấp số liệu của Cuộc điều tra mức sống dân cư 1998 và mua số liệu của
cuộc điều tra mức sống dân cư 3/2002 vào 01/7/04.
3. ADB Manilla mở Tài khoản tạm ứng cho các hoạt động của Dự án tại ADB Việt Nam vào
1/5/2004. 4. Viện Khoa học dân số, gia đình và trẻ em cung cấp số liệu về tài chính vào 01/7/2004:
Nhóm chuyên gia yêu cầu tập hợp thông tin về tài chính, thông tin cần thiết cho việc phân
tích chi phí-lợi ích về ECD. Yêu cầu cung cấp các số liệu thô từ các nguồn đã xác định
(xem danh sách kèm theo).
Danh sách số liệu yêu cầu UBDSGĐTE cung cấp
Các số liệu sau là các số liệu bổ sung cần thu thập và phân tích trước chuyến công tác lần thứ 2
của Đoàn. Việc nhận được trước các thông tin này sẽ hạn chế tối đa thời gian Đoàn ở Việt Nam
và giúp xây dựng các mô hình nguồn vốn khác nhau.
Số liệu:
• Phân bổ ngân sách phụ thuộc vào số học sinh- công thức dựa trên số dân và h
ọc sinh. Tôi
đã nghe thấy điều này nhưng điều này có hay không và nó được thực hiện như thế nào.
• Sự phân chia giữa công lập và ngoài công lập trong chi tiêu và tham gia vào giáo dục và
ECD như thế nào.
• Lương của các giáo viên khác (ví dụ tiểu học) và giáo viên về ECD.
• Chi tiêu - định kỳ và vốn - số lượng đã được phân bổ chủ yếu là gì và tiếp theo.
• Sự phân bổ chi tiêu giáo dục và dự đoán dân số tại c
ấp trung ương/tỉnh và huyện. So sánh
sự phân bổ cấp quốc gia với chi tiêu tại cấp tỉnh/ huyện về ECD.
• Với vốn, chi phí định kỳ và số học sinh mẫu giáo (tại các lứa tuổi khác nhau) chúng ta có
thể tính toán chi phí cho mỗi học sinh và cho mỗi lớp học. Đây là một tính toán cấp vĩ mô
chung tuy áp dụng hạn chế nhưng nó cung cấp sự so sánh chung giữa các tỉnh.
• Tỷ lệ bỏ học và l
ưu ban tiểu học.
• Số giáo viên mẫu giáo trên toàn quốc - thời gian đào tạo, lương và phân bố theo địa lý.