Tiểu luận công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt - Pdf 57

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CSII)
---o0o---

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Hệ Đại học – Ngành Công tác xã hội
MÔN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

Đề tài:
THỰC TRẠNG TRẺ EM VI PHẠM PHÁP LUẬT HIỆN NAY
NHỮNG NGUYÊN NHÂN, HỆ LỤY VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

Giảng viên hướng dẫn

: ThS. Nguyễn Minh Phúc

Lớp

: Đ15CT2

MSSV

: 1557601010084

Khóa

: 2015 - 2019
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Ghi bằng chữ

Giảng viên 1

Giảng viên 2


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................3
2.1. Mục đích nghiên cứu..........................................................................................3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................3
3.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................3
3.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................3
4. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn...................................................................3
4.1. Ý nghĩa lý luận...................................................................................................3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn................................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................4
5.1. Phương pháp sưu tầm tài liệu.............................................................................4
5.2. Phương pháp quan sát, so sánh...........................................................................2
5.3. Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp........................................................4
6. Kết cấu đề tài.......................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG..................................................................................................5
Chương 1: Cơ sở lý luận về trẻ em vi phạm pháp luật.........................................5
1.1 Một số khái niệm cơ bản...................................................................................5
1.1.1. Khái niệm “Trẻ em”........................................................................................5
1.1.2. Khái niệm “Vi phạm pháp luật”......................................................................5
1.1.3. Khái niệm “Quyền trẻ em”..............................................................................5

1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là người chủ tương lai của đất
nước. Trong đời sống xã hội từ xưa đến nay gia đình được xem là tế bào của xã hội, nó
luôn giữ vai trò và vị trí quan trọng, được xem là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi
trường thuận lợi để hình thành và giáo dục nhân cách cho trẻ em, góp phần vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong một đất nước đang đẩy mạnh
phát triển kinh tế như Việt Nam hiện nay, các chính sách mở cửa thị trường, hội nhập
Quốc tế là bản lề then chốt để nâng cao vị thế quốc gia trong khu vực và thế giới. Điều
đó đã và đang thôi thúc con người ta lao vào guồng quay của cuộc sống, bận rộn với
công việc để kiếm thật nhiều tiền nếu không muốn bị tuột hậu đằng sau. Dần dần, cái
mà con người theo đuổi là một đời sống vật chất đầy đủ mà họ quên đi rằng các giá trị
tinh thần là thứ không thể tách rời trong cuộc sống. “Cơm – Áo – Gạo – Tiền” một
vòng luẩn quẩn không có điểm đầu, điểm kết làm cho những người cha, người mẹ
trong gia đình không còn nhiều thời gian cho mái ấm thân yêu của mình nữa. Thay vào
đó, họ phó mặc con mình cho trường lớp, thầy cô, bạn bè. Cứ như vậy, những đứa trẻ
sống trong gia đình ngày càng ít đi tình thương, sự quan tâm của cha mẹ. Đó là nói đến
những đứa trẻ vẫn còn may mắn để có một gia đình mặc dù đó chưa hẳn là một gia
đình đúng nghĩa. Mà đâu đó trong xã hội này, còn nhiều lắm những đứa trẻ kém may
mắn hơn khi các em không biết cha mình là ai, mẹ mình đang ở đâu, tình thương, mái
ấm là gì. Chính tất cả những điều đó làm cho nhận thức của các em về môi trường xã
hội ngày càng sai lệch. Thiếu phương pháp giáo dục hợp lý, thiếu sự chỉ dạy về đạo
đức, lối sống, nhân cách đã biến các em thành những đứa trẻ vị kỷ, tư lợi, vì một lợi
ích cá nhân nhỏ hay thậm chí vì một chút bất hòa không đáng cũng khiến các em dùng
tới vũ lực, “thủ đoạn” để giải quyết các vấn đề đó.
Thực tế những năm gần đây cho thấy, tình trạng trẻ em phạm tội có chiều
hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ phạm tội. Hành vi phạm tội của
các em không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đôi khi là đã có sự tính
toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi. Thậm chí một số trẻ em, đặc biệt nhiều là ở
nhóm trẻ em lang thang đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao.
Số lượng các vụ án tăng nhanh, cùng với tính chất phức tạp của từng vụ án là những

luật hiện nay – Những nguyên nhân, hệ lụy và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu cho
bài tiểu luận của mình.

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

2


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu về thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật hiện nay, những nguyên
nhân, huệ lý của nó đến đời sống xã hội từ đó nhằm tìm ra những điểm khó khăn, hạn
chế của vấn đề.
- Đưa ra các quan điểm, giải pháp thực hiện nhằm hạn chế, ngăn ngừa tình trạng
trẻ em vi phạm pháp luật.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiến hành thu thập số liệu về thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật hiện nay,
những nguyên nhân, hậu quả, khó khăn của vấn đề này.
- Từ những số liệu thu thập được, tiến hành phân tích tổng hợp, đánh giá số liệu
về tình hình trẻ em vi phạm pháp luật.
- Bằng sự hiểu biết và những nghiên cứu của bản thân, đưa ra những đề xuất,
giải pháp cho các cấp chính quyền về những biện pháp thực hiện hiệu quả hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của việc trẻ em vi phạm pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu

pháp hay, hiệu quả để ngăn ngừa tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp sưu tầm tài liệu
Thu thập các số liệu, báo cáo, vấn đề có liên quan trên Internet, tổng cục thống
kê, niên giám thống kê, các trang báo Online uy tín,... làm số liệu, cơ sở lý luận cho
bài tiểu luận.
5.2. Phương pháp quan sát, so sánh
Quan sát số liệu đã thu thập, so sánh các số liệu với nhau từ đó đưa ra những ví
dụ cụ thể hơn, dẫn chứng xác đáng về vấn đề nghiên cứu.
5.3. Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp
Thống kê lại tất cả các số liệu, báo cáo liên quan sau đó phân tích tổng hợp một
cách kĩ lưỡng các số liệu đã nêu để làm sáng tỏ vấn đề.
6. Kết cấu báo cáo
- Phần Mở đầu
- Phần Nội dung
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về trẻ em vi phạm pháp luật
+ Chương 2: Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật hiện nay, những
nguyên nhân, hệ lụy và giải pháp
- Phần Kết luận và kiến nghị

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

4


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

PHẦN NỘI DUNG

hành vi.

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

5


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

1.1.3. Khái niệm “Quyền trẻ em”
- Theo từ điển bách khoa toàn thư mở (Wikipedia): “Quyền trẻ em là những
quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ
em được hưởng quyền và gánh vác những nghĩa vụ khác nhau. Việc xem xét quy định
và thực hiện quyền trẻ em phải xuất phát từ quan điểm của trẻ em, vì vậy quyền trẻ em
là những đặc lợi mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật”.
1.2. Một số chính sách, pháp luật về trẻ em hiện nay
1.2.1. Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em
Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định
các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em. Các quốc gia phê
chuẩn công ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc tế.
Cơ quan giám sát thi hành công ước này là Ủy ban quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc bao
gồm các thành viên từ các quốc gia trên khắp thế giới. Trong đó, trẻ em có 10 quyền
cơ bản như sau:
- Quyền được đối xử bình đẳng và bảo vệ chống lại sự kỳ thị phân biệt tôn giáo,
nguồn gốc và bình đẳng giới;
- Quyền có tên gọi và quốc tịch;
- Quyền về sức khỏe và y tế;
- Quyền được giáo dục và đào tạo;

niên của Toà án gia đình giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 20 tuổi. Mục
đích của Luật người chưa thành niên là không trừng phạt những người chưa thành niên
phạm tội mà "giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay
đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục
để điều chỉnh người chưa thành niên đã chót mắc phải sai lầm".
Ở Hà Lan, Luật hình sự đối với người chưa thành niên đã góp phần tích cực vào
việc hoàn thiện ngành luật hình sự của Hà Lan. Khi người chưa thành niên phạm tội,
người ta cân nhắc và áp dụng các chế tài thay thế, chỉ được phép tiến hành theo thủ tục
tố tụng hình sự khi không còn cơ hội nào để có thể áp dụng chế tài thay thế. Có hai
loại chế tài thay thế được áp dụng với người chưa thành niên, đó là các dự án công tác
(dịch vụ của cộng đồng đối với người chưa thành niên) và các dự án đào tạo. Mục tiêu
chung của các chế tài thay thế là tăng cường hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý xét
xử người chưa thành niên mà hệ thống này sẽ giúp cho các em hạn chế được tái phạm.
1.2.3. Quyền trẻ em trong Pháp luật Việt Nam
Tại nước ta, trong Hiến Pháp có nêu rõ “Mọi trẻ em đều phải được bình đẳng,
được hưởng các quyền cơ bản của trẻ em, được học tập, được chăm sóc sức khỏe,
được vui chơi và phát triển toàn diện”. Khoản 1, Điều 37, Hiến Pháp quy định “Trẻ em
được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào
các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng,
bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.
Theo đó, năm 1991 Đảng và nhà nước đã lần đầu tiên ban hành một luật pháp
chính thức cho trẻ em có tên là Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (1991).
Đây là bước ngoặc lớn nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển của các chính sách pháp luật
khác dành cho trẻ em về sau này. Tuy nhiên luật này do còn khá mới nên chỉ có vỏn
vẹn 05 chương và 26 điều. Đến năm 2004, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em
được sửa đổi bổ sung bao gồm 05 và 60 điều, nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi.

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

7

Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người
chăm sóc.

Chương 2: Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật hiện nay, những nguyên nhân,
hệ lụy và giải pháp

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

8


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

2.1. Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật và các chính sách hiện nay tại nước ta
2.1.1. Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật
Những năm gần đây tại nước ta, tình hình tội phạm do trẻ em và người chưa
thành niên gây ra rất nhiều và diễn biến phức tạp. Phân tích các số liệu về tình hình tội
phạm chưa thành niên trong thời gian qua thì thấy đáng báo động về số trẻ em phạm
tội đang "gia tăng nhanh và trẻ hóa" thực sự trở thành mối lo ngại. Tình hình tội phạm
trong lứa tuổi chưa thành niên gia tăng đến mức báo động. Trung bình mỗi năm xảy ra
khoảng 10 nghìn vụ vi phạm pháp luật với hơn 13.000 đối tượng trẻ em có liên quan.
Biểu đ ồ 2.1: Bi ểu đồ thể hi ện số vụ tr ẻ em vi phạm pháp luật phân theo giai đo ạn
Số vụ

67200

61720


9


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

trẻ em và người chưa thành niên gây ra. Trong đó, nổi lên các tội danh như: Giết người
có 36 vụ, 63 đối tượng; Cướp tài sản 59 vụ, 103 đối tượng; Cưỡng đoạt tài sản 14 vụ,
25 đối tượng; Hiếp dâm, cưỡng dâm: 35 vụ, 36 đối tượng; Cố ý gây thương tích 302
vụ, 574 đối tượng; Trộm cắp tài sản 896 vụ, 1.200 đối tượng; Tổ chức sử dụng ma túy
224 vụ, 265 đối tượng; Gây rối trật tự công cộng 84 vụ, 223 đối tượng; Đánh bạc 71
vụ, 101 đối tượng; Mua bán ma túy 90 vụ, 103 đối tượng,…(cụ thể theo Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tội danh, số vụ và số đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật
trong 06 tháng cuối năm 2018
Tội danh

Số vụ
vi phạm

Tỉ lệ
(%)

Giết người
Cướp tài sản
Cưỡng đoạt tài sản
Hiếp dâm, cưỡng dâm
Cố ý gây thương tích
Trộm cắp tài sản
Tổ chức mua bán, sử dụng ma túy

vi phạm

Tỉ lệ
(%)

63
1.9
103
3.1
25
0.7
36
1.1
574
17.2
1200
35.9
368
11.0
223
6.7
101
3.0
647
19.4
3340
100.0
(Nguồn: Tự tổng hợp)

Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy rằng, tội danh có nhiều vụ vi phạm với số


Từ 16 - 18 tuổi

Nhìn vào biểu đồ trên, ta thấy một thực trạng đáng lo ngại là hầu hết trẻ em vi
phạm pháp luật tập trung ở lứa tuổi từ 14 đến dưới 18 tuổi. Tình trạng trẻ phạm tội có
xu hướng ngày càng trẻ hóa như: Dưới 14 tuổi có 174 đối tượng, chiếm 5,2%; Từ 14 dưới 16 tuổi: 818 đối tượng, chiếm 24,5%; Từ 16 - dưới 18 tuổi: 2.348 đối tượng
chiếm 70,3%. Đặc biệt, phạm tội lần đầu chiếm tỷ lệ đa số với 3.009 đối tượng; phạm
tội lần thứ 2 trở lên là 331 đối tượng. (Biểu đồ 2.2).
Theo báo cáo khác của Tòa án Nhân Dân tối cao thì trong tổng số trẻ em và
người chưa thành niên phạm tội được đưa ra hội đồng xét xử trong 5 năm (từ năm
2013 – 2018) thì các đối tượng chủ yếu là ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 87%
(12.439 bị cáo), từ 14 đến dưới 16 tuổi chiếm 12 % (1.832 bị cáo). Trong đó, một số
tội danh thường gặp như trộm cắp tài sản 4.379 bị cáo chiếm 31%, cướp tài sản 2.372
bị cáo chiếm 17%, cố ý gây thương tích 2.035 bị cáo chiếm 14,2%, cướp giật tài sản
1.627 bị cáo chiếm 11,4%, giết người 713 bị cáo chiếm 5%. Dù các vụ vi phạm pháp
luật do trẻ em và người chưa thành niên gây ra được kéo giảm nhưng các vụ án có tính
chất nghiêm trọng lại có xu hướng gia tăng như: án giết người tăng 66,67%; án hiếp
dâm, cưỡng dâm tăng 33,33%.
2.1.2. Chính sách – pháp luật đối với trẻ em vi phạm pháp luật hiện nay
2.1.2.1. Một số chính sách, pháp luật có liên quan đến trẻ em vi phạm pháp luật
Tại nước ta hiện nay, việc áp dụng các chính sách, pháp luật đối với trẻ em vi
phạm pháp luật được thực hiện theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, Hiến Pháp
nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Luật trẻ em 2016, Bộ luật Hình sự (2015)

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

11


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt được
áp dụng như sau:
1. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì
hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt theo quy định tại Điều 74.
2. Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình
phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội”.
2.1.2.2. Tình hình thực hiện các chính sách, pháp luật đối với trẻ em vi phạm pháp luật
GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

12


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

Trong những năm qua, các Tòa án Nhân Dân, Tòa án Nhân Dân tối cao, Viện
Kiểm sát Nhân Dân, Viện Kiểm sát Nhân Dân tối cao, Bộ Công an,... đã hết sức chú ý
đảm bảo về chất lượng xét xử đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự
do trẻ em và người chưa thành niên thực hiện nói riêng, ngoài xét xử tại trụ sở Tòa án,
các Tòa án địa phương cũng tăng cường công tác xét xử lưu động các vụ án điểm do
trẻ em và người chưa thành niên thực hiện, nhằm tăng cường công tác giáo dục, phổ
biến pháp luật, góp phần phòng ngừa tình trạng trẻ em phạm tội. Cụ thể từ năm 2012
đến 2015 số vụ án hình sự do trẻ em và người chưa thành niên thực hiện được đưa ra
xét xử trong toàn ngành Tòa án là 10.403 vụ án với 14.271 bị cáo. Xét xử lưu động là
726 vụ, các hình thức xử lý khác là 109 đối tượng.
Bi ểu đ ồ 2.3: Bi ểu đ ồ thể hi ện m ức phạt hình sự c ủa tr ẻ em
vi phạm pháp luật t ừ năm 2012 - 2015

0.68% 4.07%


SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

thành niên phạm tội chủ yếu là mang tính giáo dục thể hiện sự nhân đạo của pháp luật
xã hội chủ nghĩa, đã được quy định cụ thể trong Chương X những quy định đối với
người chưa thành niên phạm tội của Bộ luật hình sự (2015).
Số lượng các vụ án và người chưa thành niên phạm tội được phát hiện là rất lớn
song số vụ án và người chưa thành niên phạm tội được đưa ra xét xử là rất thấp chỉ
chiếm 21% (14.271 bị cáo/67.200 đối tượng phạm tội). Sở dĩ có tình trạng này thì
nguyên nhân chủ yếu xuất phạt từ quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy
định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự (2015) thì
tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Việt Nam là từ đủ 14 tuổi và từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và đặc
biệt nghiêm trọng. Thực tiễn hiện nay, có rất nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng do
người dưới 14 tuổi gây ra nhưng không thể xử lý bằng hình sự được.
Hay còn rất nhiều vụ án do người chưa thành niên phạm tội không thể đưa ra
xét xử được vì các đối tượng này mới chỉ ở độ tuổi đủ 14 đến dưới 16 tuổi nhưng chỉ
phạm các tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng dẫn đến họ có phạm tội những chỉ xử
lý hành chính, chứ không thể xử lý bằng hình sự được. Ngoài ra, lực lượng Công an
cũng đã xử lý hình sự 833 vụ, 1.067 đối tượng, xử lý hành chính 1.425 vụ, 2.273 em,
trong đó: giao cho gia đình quản lý, giáo dục 952 em; giáo dục tại xã phường thị trấn
215 em, lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng 157 em,…

2.2. Nguyên nhân – Hệ lụy – Giải pháp cho vấn đề trẻ em vi phạm pháp luật
2.2.1. Nguyên nhân
Như chúng ta đã biết, người chưa thành niên là người chưa ổn định về tâm sinh
lý, còn bị hạn chế về nhận thức, thiếu kinh nghiệm sống, chưa có khả năng đánh giá
đúng đắn sự việc, nhất là đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội, thì chưa nhận
thức được đầy đủ tính chất, không lường hết được hậu quả của nó. Với đặc điểm tâm
lý lứa tuổi ở giai đoạn này nhu cầu học theo, bắt chước những gì các em thấy thông

+ Thiếu sự kèm cặp, giáo dục của gia đình cho nên các em quen với lối
sống tự do, buông thả, dễ tiếp thu những mặt trái, từ đó các em dễ đi vào con đường
phạm tội.
- Nguyên nhân xuất phát từ môi trường giáo dục ở nhà trường:
+ Giáo dục hiện nay chưa chú trọng một cách toàn diện, kiến thức đặt
nặng lý thuyết làm cho các em lười học và bỏ học, từ đó nảy sinh tình trạng tụ tập,
chơi bời, dấn thân vào con đường phạm tội.
+ Việc dạy kiến thức thực tiễn và kỹ năng sống, kỹ năng làm người về
đạo đức truyền thống, nên các em sẽ phân biệt được đâu là thiện, đâu là ácừ đó dễ dẫn
đến sai lầm trong cuộc sống.
+ Công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường được triển khai rộng
khắp nhưng phần lớn mang tính hình thức, nên hiệu quả mang lại không cao, các em
học sinh không nhận thức được nhiều về pháp luật.

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

15


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

+ Việc xử lý học sinh vi phạm nội quy nhà trường cũng như vi phạm
pháp luật còn chưa thường xuyên, kiên quyết và triệt để. Đáng lưu ý là tình trạng học
sinh bỏ học có chiều hướng gia tăng là nguy cơ, điều kiện để tội phạm lợi dụng xâm
hại hoặc dụ dỗ lôi kéo các em vào con đường phạm tội .
+ Việc kết hợp trong giáo dục giữa nhà trường và gia đình để quản lý học
sinh đã được thiết lập, nhưng hiệu quả chưa cao.
- Nguyên nhân xuất phát từ môi trường xã hội:



Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

SV: Nguyễn Trọng Hoàng Ân

khác khi đã vi phạm pháp luật thì tương lai của các em sau này cũng bị ảnh hưởng do
những tiền án hoặc tiền sự mà các em gây ra hôm nay.
Còn đối với gia đình của trẻ có hành vi phạm pháp luật sẻ bị ảnh hưởng lớn đến
đời sống kinh tế của gia đình, và chịu nhiều tác động áp lực từ họ hàng, người thân,
xóm làng và dư luận của xã hội,… chính những điều đó làm cho hạnh phúc ấm gia
đình tan vỡ, mất đi giá trị thực chất của gia đình.
Đối với xã hội: “Trẻ em là tương lai đất nước” nhưng nếu trẻ em vi phạm pháp
luật thì cũng đồng nghĩa với việc đất nước sẽ mất đi một phần nguồn lực cho tương lai,
làm suy giảm chất lượng lao động của xã hội. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh
trật tự xã hội, nếp sống văn minh của xã hội, phá bỏ tính cố kết của cộng đồng, mất đi
các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc từ xưa đến nay.
2.2.3. Giải pháp cho vấn đề trẻ em vi phạm pháp luật
- Đối với bản thân: Các em phải tự ý thức được các việc làm của mình, nên có
một nếp sống lành mạnh ngay từ nhỏ. Các em cần tự rèn luyện cho mình bản lĩnh để
có thể “đề kháng” trước các cám dỗ, các tệ nạn xã hội. Nên chăm học, hiếu với cha
mẹ, ông bà, thuận thảo với anh chị em trong gia đình, kết bạn với những người bạn tốt,
thân cận thầy cô để được sự quan tâm và chỉ dạy những điều tốt đẹp.
- Đối với gia đình:
+ Những người làm bố, mẹ cần phải gương mẫu về đạo đức, lối sống,
cách hành xử phải có chuẩn mực, đúng với đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà
nước và cần có thời gian hợp lý để chăm sóc, giáo dục con em mình, phải là chỗ dựa
tinh thần cho con em mình là người chưa thành niên và phải thường xuyên kết hợp
chặt chẽ với nhà trường, đoàn thể, chính quyền, cơ quan pháp luật để kịp thời uốn nắn,
giáo dục khi có hành vi vi phạm pháp luật do con em mình gây ra.

phường, thị trấn cần quản lý các tụ điểm vui chơi giải trí, nhà hàng, các quán internet,
… có nguy cơ tiềm ẩn các vi phạm pháp luật. Chủ động thông báo với các cơ quan
chức năng để xử lý, ngăn chặn kịp thời.
+ Cần có kế hoạch thống kê, giám sát, theo dõi riêng đối với người chưa
thành niên để sớm phát hiện điều chỉnh, uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch,
nhưng hành vi thái quá vi phạm các quy chuẩn đạo đức để ngăn chặn kịp thời, tránh
tình trạng để vi phạm xảy ra rồi mới lo xử lý.
+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong mọi tầng
lớp nhân dân, đặc biệt đối với trẻ em và người chưa thành niên. Cần coi trọng giáo dục
để người chưa thành niên hiểu rõ một số luật cơ bản liên quan tới quyền, nghĩa vụ của
mình mà người chưa thành niên hay phạm phải như: Luật giao thông, Luật trẻ em, Bộ
luật hình sự và Tố tụng hình sự,…
+ Các tổ chức doanh nghiệp, tập thể, cá nhân cần nâng cao trách nhiệm
xã hội của mình trong việc tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho trẻ em có các sân
chơi, bãi tập, các hình thức sinh hoạt bổ ích, lành mạnh nhằm thu hút các em tham gia
học tập, rèn luyện, sử dụng thời gian nhàn rỗi có ích và thiết thực.
+ Ở địa phương và tại các tổ chức sinh hoạt đoàn thể nơi các em tham
gia cần xây dựng các “tủ sách pháp luật tại địa phương”, thường xuyên cập nhật những
văn bản pháp luật mới giúp các em có khả năng tiếp cận với các thông tin về pháp luật
nhanh nhất, qua đó nâng cao được nhận thức về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã
hội và hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội của lứa tuổi mình qua đó sẽ hạn chế được
việc thực hiện tội phạm, bảo đảm tính chất phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng.

GVHD: ThS. Nguyễn Minh Phúc

18


Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt



liên quan đến việc giáo dục học sinh vẫn chưa theo kịp những diễn tiến phức tạp về
tâm lý nhóm trong sự biến chuyển của xã hội. Nhìn chung, việc trẻ em vi phạm pháp
luật liên quan chặt chẽ đến nhiều vấn đề khác nhau nhưng quan trọng nhất nó được
xem như là một hệ lụy của nền kinh tế, một xã hội chú trọng các giá trị vật chất.
Như vậy, trong bối cảnh thực tế này, công tác xã hội với trẻ em vi phạm pháp
luật đóng vai trò rất quan trọng. Bởi đây là lứa tuổi dễ bị sa ngã vào các con đường
xấu, lệch chuẩn nhất. Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ giúp đỡ các em vượt qua
lỗi lầm, nhận ra cái sai của mình để còn kịp khắc phục, sửa chữa lầm lỗi, tiếp tục hoà
nhập cộng đồng. Nhân viên công tác xã hội cần xác định rõ những nguồn lực vốn có
của thân chủ cũng như những thiếu thốn cần bổ sung khắc phục ở các em để có sự điều
trị hợp lý nhất. Bên cạnh đó là những hệ thống xã hội được khai thác triệt để nhất
nhằm tác động vào thân chủ. Tuy nhiên không phải trẻ em vi phạm pháp luật nào cũng
dễ nói chuyện và tiếp cận vì vậy đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải kiên trì và có
lòng vị tha. Trẻ em là mầm non, là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ kế tục sự
nghiệp vĩ đại của dân tộc. Vì vậy, cần có sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ của cả Đảng,
Nhà nước, gia đình, nhà trường và toàn xã hội trong việc giáo dục các em, định hướng
cho các em lý tưởng sống tốt đẹp, cung cấp những kỹ năng sống cần thiết để các em có
đủ bản lĩnh, tự tin khi bước vào cuộc sống. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội,
người chưa thành niên sinh ra và lớn lên thời gian chủ yếu là sống trong gia đình.
Truyền thống gia đình, đạo đức gia đình và tấm gương của bố, mẹ ảnh hưởng rất lớn
tới nhận thức, suy nghĩ của người chưa thành niên. Hãy tạo cho trẻ một môi trường
sống an toàn, những điều tốt đẹp, những giá trị nhân văn nuôi dưỡng thể chất, tinh thần
của thế hệ tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), NXB. Chính trị Quốc gia.
2. Bộ Luật tố tụng Hình sự (2003), NXB. Chính trị Quốc gia.
3. Bộ Luật Dân sự (2015), NXB. Chính trị Quốc gia.
4. Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1992), NXB. Tư Pháp.
4. Luật Trẻ em (2016), NXB. Chính trị Quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status