Bài 1: QUAN NIỆM VỀ TRẺ EM VÀ TRẺ EM CÓ
HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
I. Quan niệm về trẻ em
(3 tiết)
1. Quan niệm về trẻ em
a. Quan niệm trẻ em theo công ước quốc tế về quyền trẻ em
- Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi trong giai đoạn đầu của
sự phát triển con người. Đó là “những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ,
dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý
trước cũng như sau khi ra đời”.
- Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với
tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội
quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục.
b. Quan niệm trẻ em theo các bộ luật của Việt Nam
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam (2004). Trẻ em là công dân Việt Nam
dưới mười sáu tuổi, mọi trẻ em không phân biệt đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đó là trách
nhiệm của gia đình, nhà trường, các cơ quan nhà nước và công dân.
- Luật Phổ cập giáo dục tiểu học của Việt Nam (1991). Nhà nước thực hiện chính sách phổ cập giáo
dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14
tuổi.
- Bộ Luật Hình sự của Việt Nam (1999). Qui định người đủ 14 tuổi, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự về những tội nghiêm trọng do cố ý, và người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
- Bộ Luật Lao động của Việt Nam (2003). Qui định trẻ em là người chưa đủ 15 tuổi và người lao
động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi.
- Bộ Luật Dân sự của Việt Nam (2005). Qui định trẻ em không thể là chủ thể của quan hệ pháp luật
dân sự khi chưa đủ 16 tuổi, từ sau 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì được coi là người có năng lực hành
vi hạn chế.
- Nhiệm vụ chăm sóc tình cảm cho trẻ là giúp trẻ phát triển các cảm xúc, phân biệt và biểu lộ các
cảm xúc một cách hòa hợp.
2.3. Nhu cầu chăm sóc về mặt tâm lý
a. Khái niệm
- Thuật ngữ tâm lý ở đây nhằm nói đến những hiểu biết và đánh giá của một người về chính bản
thân mình.
b. Biểu hiện
- Trẻ có thể tự đặt ra những câu hỏi như:
+ Mình là ai? – Self identity
+ Mình có giá trị gì? – Self value
+Mình có khả năng gì? – Self efficacy
c. Nhiệm vụ của người chăm sóc
- Nhiệm vụ chăm sóc tâm lý cho trẻ là giúp trẻ hình thành và phát triển nhận thức đúng đắn trẻ là
ai, trẻ mang những giá trị gì và trẻ có những khả năng gì trong cuộc sống. Sự phản hồi của những
người chăm sóc và giáo dục trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ nhận thức về giá trị và
khả năng của chính bản thân mình.
2.4. Một số điểm cần chú ý
- Mức độ chăm sóc trẻ không mang tính tuyệt đối.
- Chuẩn “tốt” trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc trẻ không có mức chung.
- Mặc dù sự chăm sóc trẻ ở một mặt nào đó không được tốt nhưng có thể sự chăm sóc trẻ ở mặt
khác lại rất tốt.
2.5. Đặc điểm môi trường sống của trẻ
+ Tính liên tục nhằm mô tả sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc trẻ được diễn ra liên tục theo thời gian
và diễn ra như mong đợi.
+ Tính ổn định nhằm nói đến khả năng làm cho trẻ cảm thấy gắn bó lâu dài và tin tưởng với môi
trường và với những nơi mà ở đó trẻ sinh sống và được chăm sóc.
+ Tính dự đoán được nhằm nói đến khả năng làm cho trẻ dự đoán được là mình an toàn trong
tương lai và nhờ đó tránh được sự lo âu hay căng thẳng.
vào hoàn cảnh đặc biệt.
-Tổ chức quốc gia có dịch vụ bảo vệ trẻ em
+ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam
+ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam
+ Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam
Tổ chức quốc tế (hoạt động tại VN)
- Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc - UNICEF
- Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển (Sweden)
- Tổ chức Cứu trợ nhi đồng Anh (UK)
Các hệ thống bảo vệ trẻ em quốc gia có liên hệ với hệ thống bảo vệ trẻ em thế giới và hệ thống
bảo vệ trẻ em vùng miền.
- Hệ thống là sự phối hợp các thành phần:
+ Các tổ chức về bảo vệ trẻ em.
+ Các luật pháp liên quan trẻ em
+ Các chính sách về bảo vệ trẻ em.
+ Các chương trình, dự án bảo vệ trẻ em.
4. Sự hình thành công tác xã hội với trẻ em
a. Qúa trình hình thành
- Trẻ em không những có quyền được bảo vệ về an sinh mà còn có quyền có ý kiến và kể cả có ước
mơ và cảm xúc.
- Những người làm công tác chuyên môn cần phải đáp ứng nhu cầu trẻ em được xác định là trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt.
- NVXH chịu trách nhiệm xây dựng các giải pháp thay thế đời sống cho trẻ, loại trừ hoặc hạn chế
những đặc điểm hoàn cảnh đặc biệt tái xuất hiện.
- NVXH phải được đào tạo và tập huấn một cách phù hợp về các giá trị chuyên môn, kiến thức chuyên
môn và kỹ năng chuyên môn.
- Ngày nay, nhà nước ta ban hành nhiều chính sách, chương trình dịch vụ để bảo vệ tối đa quyền lợi
cho trẻ em
b. Khái niệm
+ Trẻ em vi phạm pháp luật.
2. Trẻ em lang thang
2.1. Khái niệm, nhận diện và phân loại trẻ em lang thang
a. Khái niệm
- Là những trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi thường trú không ổn định;
trẻ em cùng với gia đình đi lang thang (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, 2004).
- Ở một số nước trẻ em lang thang còn gọi là trẻ em đường phố.
b. Nhận diện trẻ em lang thang
- Trẻ bán hàng rong, bán vé số, bán mỳ gõ.
- Trẻ đánh giày.
- Trẻ làm nghề thu gom phế liệu từ rác.
- Trẻ có thể đi cùng gia đình.
- Trẻ có thể vừa đi học, vừa đi làm.
- Trẻ có thể vừa đi làm, tối về ngủ gia đình.
c. Những trẻ không xem là TELT
- Trẻ giúp việc trong các gia đình (dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, trông coi em nhỏ,…)
- Trẻ làm thuê trong các nhà hàng, cơ sở sản xuất, nhà máy, hầm mỏ.
Các trẻ trên không xem là TELT vì có việc làm, nơi ở ổn định. Tuy nhiên trẻ bị thiệt thòi vì không
ở với gia đình, dễ bị lạm dụng, ngược đãi, lao động trong điều kiện nặng nhọc.
d. Phân loại trẻ em lang thang
- TELT kiếm sống và bỏ hẳn gia đình, không quan hệ gì với gia đình.
- TELT kiếm sống có liên hệ với gia đình, nhưng ít khi về thăm do không có điều kiện.
- TELT kiếm sống và đi cùng gia đình (thường là gia đình di dân từ nông thôn về thành thị).
- TELT kiếm sống ban ngày, tối về ngủ tại gia đình (thường là gia đình nghèo ở thành thị)
2.2. Nguyên nhân trẻ em đi lang thang
Hai nhóm nguyên nhân chính có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau:
a. Nhóm nguyên nhân về kinh tế
- Sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa khu vực nông thôn và thành thị (chênh lệch ngày càng
- Khi lớn lên trẻ không có công việc và nghề nghiệp ổn định dẫn đến cuộc sống khó khăn.
- Trẻ có nhiều khả năng trở thành người phạm pháp hoặc nghiện hút, mại dâm.
- Hậu quả lâu dài gây ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội.
3. Trẻ em bị xâm hại tình dục
3.1. Khái niệm
Là những trẻ em bị lạm dụng tình dục hoặc bóc lột tình dục bởi một người hoặc một nhóm người
trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm mục đích thỏa mãn dục vọng, trục lợi gây nên những ảnh hưởng xấu
cho trẻ em cả về thể chất lẫn tinh thần (nhận thức và tâm lý).
3.2. Nhận diện trẻ bị xâm hại tình dục
a. Dấu hiệu về thể chất nơi trẻ bị XHTD
- Trẻ gặp khó khăn trong việc ngồi hoặc đi lại.
- Quần áo lót trẻ có vết máu không bình thường.
- Trẻ bị đau rát khi đi tiểu, hoặc có thai.
- Trẻ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Trẻ kêu đau ở vùng sinh dục, hậu môn.
- Trẻ đau bụng, đau đầu bất thường.
b. Dấu hiệu về hành vi nơi trẻ bị XHTD
- Trẻ tái diễn đái dầm hoặc ị đùn bất thường.
- Trẻ từ chối cởi trang phục hoặc đồ lót.
- Trẻ rất né tránh các đụng chạm về cơ thể.
- Trẻ hay giật mình, cô lập, xa lánh mọi người; không tập trung, hay mơ hồ.
- Trẻ không quan hệ với bạn cùng trang lứa.
- Trẻ có ý định, hành vi tự hủy hoại hay tự sát.
- Trẻ trở nên hết sức tự ti; dửng dưng, không có phản ảnh tình cảm.
- Trẻ muốn chạy trốn khỏi gia đình.
- Trẻ suy sụp, học hành sút kém bất thường…
c. Dấu hiệu về hành vi nơi người chăm sóc
- Giải thích mơ hồ về các tổn thương ở trẻ.
c.Hậu quả về mặt tâm lý
- Trẻ không tin vào bản thân, vào người khác và môi trường xung quanh.
- Trẻ mất khả năng chia sẻ.
- Hình thành ý muốn lợi dụng người khác và điều khiển người khác.
- Trẻ thiếu lòng tự trọng về bản thân.
4. Trẻ em lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm
4.1 Khái niệm
a. Trẻ em lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại nguy hiểm (gọi tắt là trẻ em lao động nặng nhọc) là
những trẻ em phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào những công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm,
gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về mọi mặt của trẻ (thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội).
b. Phân biệt trẻ tham gia làm việc và tham gia hoạt động kinh tế với trẻ lao động nặng nhọc
- Trẻ em tham gia làm việc (phụ giúp gia đình, học nghề ở các cơ sở dạy nghề,…) mà không gây
hại cho trẻ, góp phần làm trẻ phát triển lành mạnh thì không xem là trẻ lao động nặng nhọc.
- Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế nhằm nói đến trẻ em thực hiện các công việc sinh lợi, bất kể
công việc đó được trả lương hay không, hợp pháp hay bất hợp pháp, thường xuyên hay không
thường xuyên.
- Tùy theo tính chất và và môi trường công việc mà trẻ tham gia hoạt động kinh tế được xem là trẻ
lao động nặng nhọc hay không.
4.2 Nhận diện trẻ em lao động nặng nhọc
- Trẻ đào đãi sa khoáng ở các mỏ.
- Trẻ làm thợ hoặc phụ nề xây dựng.
- Trẻ tham gia sản xuất vật liệu xây dựng.
- Trẻ phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn.
- Trẻ phục vụ trong các bar, cơ sở mát xa.
- Trẻ tham gia sản xuất, vận chuyển ma túy.
Khi đánh giá một công việc có nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm hay không đối với trẻ, ta cần xem
xét các khía cạnh:
- Tính chất loại hình công việc.
5.1. Khái niệm
- Trẻ em làm việc xa gia đình là những trẻ em có gia đình nhưng phải đi làm kiếm sống, không
được ở chung cùng gia đình…
- Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có trẻ em phải làm việc xa gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện để
trẻ em được sống trong môi trường an toàn, được chăm sóc sức khoẻ, học văn hoá, tu dưỡng đạo
đức, phẩm chất.
6. Trẻ em mồ côi
6.1. Khái niệm
- Trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa và bị bỏ rơi là những trường hợp trẻ không có được sự chăm
sóc, giáo dục của gia đình và người giám hộ như:
+ Sau khi sinh con, cha mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng;
+ Cha mẹ, người giám hộ để trẻ em cho người khác nuôi, cắt đứt quan hệ, không thực hiện nghĩa vụ
đóng góp nuôi dưỡng trẻ em mặc dù có khả năng thực hiện nghĩa vụ (trừ trường hợp cho trẻ em làm
con nuôi);
+ Cha mẹ, người giám hộ bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục trẻ em, để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
6.2. Đặc điểm tâm lý
- Đặc trưng tâm lý của trẻ mồ côi là : mặc cảm , cô đơn , cảm thấy mất mát trong cuộc đời , cảm
thấy bị bỏ rơi trong cuộc đời , thường hay co ro , rụt rè.
+ Do những mất mát mà các em phải gánh chịu, nên đời sống tình cảm thường bị xáo trộn và nếu
không được ai giúp đỡ sẽ dẫn đến chố nghi hoặc, bất cần.
6.3. Một số biện pháp hỗ trợ trẻ mồ côi
*Mục đích: Giúp các em ổn định tình cảm và có lòng tin vào bản thân.
+ Hình thành các xu hướng, động cơ, nhu cầu cần thiết cho sự phát triển sau này.
+ Tự khẳng định mình và bộc lộ năng lực.
- Các dịch vụ hỗ trợ:
+ Tổ chức nuôi các em tại cộng đồng:
+ Cho trẻ làm con nuôi.
phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc
phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và
điểm b khoản này.
7.3. Dấu hiệu giúp phát hiện sớm trẻ khuyết tật
- Trẻ hay quấy khóc, khó ăn khó bú, hay bị sặc sữa, nuôi kém phát triển.
- Trẻ có nét mặt hay dáng người khác thường: Ví dụ: vành tai vểnh, lông mày rậm, dư ngón, ngón
dính hay ngón quẹo ( ngón cong)
- Trẻ mềm nhão hoặc trẻ quá gồng cứng
- Trẻ châm phát triển vận động theo độ tuổi: Ví dụ: trẻ 6 tháng mà chưa biết nâng đầu, chưa biết lật.
- Trẻ có phát triển vận động bất đối xứng, ví dụ: trẻ chỉ lật được một bên, chỉ sử dụng một tay để
cầm nắm.
- Trẻ chậm nói theo độ tuổi
- Trẻ không có hoặc ít giao tiếp với người khác, ví dụ: Trẻ không quay đầu lại nhìn khi kêu trẻ, trẻ
không biết cười khi mẹ nhìn mặt trẻ cười lúc trẻ 5-6 tháng.
- Trẻ bị thoái triển: Đang phát triển tốt thì từ từ châm lại và mất chức năng,ví dụ: trẻ đang biết nói
tự nhiên không nói nữa, trẻ đang có giao tiếp tự nhiên mất khả năng giao tiếp không nhìn người
khác,…
- Các trẻ có nguy cơ cao: Trẻ sinh non tháng, Trẻ có mẹ bị suy dinh dưỡng, mẹ nghiện rượu, thuốc
lá hay thuốc phiện, mẹ phải dùng thuốc chống động kinh lâu dài, trẻ bị vàng da nhân, trẻ bị sinh
ngạt…
8. Trẻ em phạm pháp
8.1. Khái niệm
- Trẻ phạm pháp là người từ đủ 12 tuổi trở nên và dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật. Trẻ em thuộc
nhóm tuổi này có thể phải chịu trách nhiện hình sự với những hành vi phạm pháp của mình.
8.2. Thực trạng
- Con số tỉ lệ tội phạm trẻ em chiếm đến 15 ->18% (16.000 - 18.000 trẻ) (nguồn: tại diễn đàn Quốc
hiểu
sống
hưởng
biết
thụ
về
một
pháp
cách
cực
đoan
luật.
b. Nguyên nhân khách quan
- Cha mẹ thiếu quan tâm đến con cái. Nhiều gia đình quá nuông chiều con cái, thiếu quan tâm trong
việc quản lý và giáo dục, ỷ lại cho nhà trường và xã hội “dạy dỗ”.
- Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (Học viện
Cảnh sát nhân dân) thì có tới 46% số đối tượng phạm tội có gia đình phức tạp, 18% có hoàn cảnh
cha mẹ ly dị...
- Nguyên nhân từ tác động của nền kinh tế thị trường.
- Nguyên nhân từ phía các cơ quan quản lý, tuyên truyền:
còn nhiều sơ hở, thiếu sót.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục để người dân, gia đình, tổ chức, đoàn thể nâng cao nhận
thức và chủ động phòng chống ma tuý chưa đủ mạnh, còn dàn trải, mạnh ai nấy làm, thiên
về hậu quả, ít chú ý nhân rộng, phổ biến các kinh nghiệm, tấm gương tốt trong phòng ngừa
và đấu tranh chống ma tuý.
* Nguyên nhân về trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế.
Học kém, ý thức kỷ luật kém, coi thường việc học. hoặc không được đi học.
- Điều kiện kinh tế: rất giàu hoặc quá nghèo.
* Nguyên nhân từ phía gia đình, nhà trường:
- Nhiều gia đình thiếu phương pháp giáo dục thích hợp với tâm lý lứa tuổi
- Thiếu tri thức về phòng chống ma tuý, không giáo dục cho con em tránh xa tệ nạn này.
- Cấu trúc gia đình không hoàn hảo như bố mẹ chết, chỉ có bố hoặc chỉ có mẹ, bố mẹ ly dị,
sống trong cảnh dì ghẻ, bố dượng…
- Nhiều nơi nhà trường cũng có những yếu kém, sai lầm.
9.3. Hậu quả của trẻ nghiện ma túy
- Thể chất trẻ phát triển không bình thường chậm lớn, gầy còm, trí nhớ kém, trí thông minh giảm,
lười biếng, ngủ nhiều, thích nằm, không thích lao độn, khả năng hoạt động kém ...
- Gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự.
- Gây ra hội chứng loạn thần kinh
- Gây tổn hại về mặt kinh tế.
10. Trẻ en nhiễm HIV/AIDS
10.1. Khái niệm
a. HIV/AIDS
HIV là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, gây tổn thương hệ thống
miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn
đến chết người.
AIDS là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” do virút HIV gây ra.
b. Trẻ nhiễm HIV/AIDS
kim xăm mình, kim xuyên lỗ tai, …
- Không nên sử dụng chung lưỡi dao cạo, đồ dùng ngoái tai vì những đồ dùng này vẫn có thể gây
tổn thương da và lây nhiễm HIV/AIDS
- Dùng bao cao su khi có quan hệ tình dục
- Phát hiện sớm và chữa trị kịp thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Người phụ nữ bị nhiễm HIV thì không nên có thai, nếu đã có thai thì không nên sinh con.
- Muốn sinh con, cần đến cơ sở y tế để được tư vấn về cách phòng lây nhiễm HIV cho con.
- Sau khi đẻ nếu có điều kiện thì nên cho trẻ dùng sữa bò thay thế sữa mẹ.
11. Trẻ em là nạn nhân chất độc hóa học.
a. Thực trạng
Hiện nay, ước tính có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, sống tập
trung tại các tỉnh dọc đường Trường Sơn và biên giới với Campuchia. Hàng trăm nghìn người trong
số đó đã qua đời. Hàng triệu người và cả con cháu của họ đang phải sống trong bệnh tật, nghèo khó
do di chứng của chất độc da cam.
b. Nguyên nhân trẻ nhiễm chất độc hóa học
- Do ảnh hưởng di truyền từ thế hệ trước (cha, mẹ bị nhiễm chất hóa học) sang con (nhất là thời
chiến tranh để lại)
- Trẻ có thể bị nhiễm trực tiếp chất độc hóa học khi tiếp xúc với chất độc hóa học.
c. Hậu quả
- Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, thể chất của chính những trẻ em bị nhiễm.
- Ảnh hưởng đến giống nòi (di truyền)
- ảnh hưởng về di truyền sinh thái và gây ra tình trạng sẩy thai, lưu thai hoặc có con bị dị tật bẩm
sinh ở phụ nữ bị nhiễm đioxin
- Tăng thêm gánh nặng và là mối lo ngại cho xã hội
d. Chính sách của nhà nước
Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học được gia đình, Nhà nước và xã hội giúp đỡ, chăm sóc,
được tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; được nhận vào các lớp
học hòa nhập, lớp học dành cho trẻ em khuyết tật; được giúp đỡ học văn hóa, học nghề và tham gia
Giơnevơ ngày 20-11-1924 về quyền trẻ em, trong Tuyên ngôn về quyền trẻ em do Đại Hội
đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1959 và đã được thừa nhận trong Tuyên ngôn thế giới
về quyền con người, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (đặc biệt
trong các Điều 23 và 24), trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
(đặc biệt trong Điều 10), trong các điều lệ và văn kiện có liên quan khác của các cơ quan
chuyên môn và các tổ chức quốc tế chuyên trách về phúc lợi của trẻ em,
- “Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể
cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”,
- Các điều khoản của Tuyên ngôn về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc
bảo vệ và phúc lợi của trẻ em, đặc biệt đối với việc thu xếp nuôi con nuôi ở trong và ngoài
nước
- Tất cả các nước trên thế giới, vẫn còn những trẻ em sống trong những điều kiện khó khăn
khác thường và những trẻ em cần được quan tâm đặc biệt,
- Cân nhắc thích đáng tầm quan trọng của các truyền thống và giá trị văn hoá của mỗi dân
tộc nhằm bảo vệ và phát triển hài hòa trẻ em,
2. Quyền trẻ em được quy định trongcoong ước quốc tế.
Điều 7: Những quyền cơ bản của trẻ em.
1. Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi ra đời và có quyền có họ tên, có có quốc
tịch, và trong chừng mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc.
2. Các Quốc gia thành viên phải đảm bảo việc thực thi những quyền đó theo cách thức phù
hợp với luật pháp quốc gia, và những nghĩa vụ của họ theo các văn kiện quốc tế có liên
quan trong lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp, nếu không làm như thế thì trẻ em sẽ
không có quốc tịch.
Điều 12 : Quyền được có cơ hội bày tỏ ý kiến của cá nhân.
1. Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm
riêng của mình, được quyền tự do bày tỏ những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có tác
động đến trẻ em, những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng phù
hợp với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ em.
* Giới thiệu chung
- Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em gồm 5 chương, 60 điều. Luật này quy định các
quyền cơ bản, bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong
việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
* Đối tượng áp dụng
- Luật này được áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt
Nam (gọi chung là cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân); tổ chức nước ngoài hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc
tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp
dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
2. Các hành vi bị nghiêm cấm
- Điều 7, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1. Cha mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ;
2. Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi;
3. Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất
ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích
thích khác có hại cho sức khoẻ;
4. Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục
trẻ em;
5. Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hoá phẩm kích động bạo lực, đồi
trụy; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em; sản
xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em;
6. Hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm đoạt, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em; lợi dụng
trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, người giám hộ hoặc xâm
phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác;
7. Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc
3. Các bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với cơ
sở trợ giúp trẻ em trong việc giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ.
III. Bộ luật hình sự đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Bộ Luật hình sự số 15/1999/QH10 đã dành một
chương riêng để xử lý các vấn đề hình sự có liên quan đến trẻ vị thành niên phạm tội.
1. Quy định đối với các vấn đề hình sự của người chưa thành niên (Chương 10 của Bộ
Luật hình sự quy định) như sau:
* Mục đích
- Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa
chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
* Những trường hợp người chưa thành niên được miễn trách nhiệm hình sự
- Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành
niên, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về
tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội
phạm.
- Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
- Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình
phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất
của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa
tội phạm.
* Các biện pháp tư pháp giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội
- Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết Tòa án có thể quyết định áp dụng một trong các
biện pháp tư pháp có tính giáo dục, phòng ngừa sau đây: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
Đưa vào trường giáo dưỡng.
* Những hình phạt không áp dụng đối với người chưa thành niên
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Không áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi.
IV. Bộ luật dân sự đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em.
1. Quy định về năng lực dân sự
- Bộ Luật Dân sự đã quy định khẳng định năng lực chủ thể của người chưa thành niên
trong quan hệ pháp luật dân sự.
- Mọi người có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự; mọi cá nhân đều có năng lực dân sự
như nhau, năng lực dân sự có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.
- Do đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ em còn non nớt về trí tuệ, chưa có khả năng nhận thức
đầy đủ mọi hành vi của mình,
- Bộ Luật Dân sự quy định: trẻ em chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự, trẻ em
từ 6-dưới 18 tuổi có năng lực hành vi hạn chế, giao dịch dân sự của họ do người đại diện
theo quy định của pháp luật xác lập và thực hiện và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
nếu trẻ em từ 6-dưới 18 tuổi gây ra.
- Quy định như vậy không phải là tước bỏ quyền dân sự của các em mà nhằm để bảo vệ
quyền lợi của các em không bị xâm hại.
2. Quan hệ chủ thể pháp luật dân sự
- Trẻ em có thể là chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật dân sự phát sinh từ quyết định
của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, từ sự kiện pháp lý do luật định khi
sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
3. Những chế định nhằm bảo vệ quyền trẻ em.
- Bộ Luật Dân sự quy định nhiều chế định nhằm bảo vệ quyền trẻ em: chế định giám hộ,
chế định về hộ tịch như quyền được khai sinh, quyền khai sinh của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi,
quyền có họ tên, quyền cho trẻ em là con ngoài giá thú, chế định về việc nuôi con nuôi.
- Các văn bản dưới Luật như nghị định, thông tư đã hướng dẫn chi tiết, giao trách nhiệm
cho các cơ quan có liên quan, quy định trình tự thủ tục để đảm bảo cho trẻ em được hưởng
đầy đủ các quyền dân sự mà Bộ Luật Dân sự đã quy định.
V. Bộ luật lao động đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em
1. Quy định về độ tuổi lao động
a. Độ tuổi lao động quy định trong Luật
5. Gói kẹo dừa.
c. Mức độ công việc
- Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những
công việc phù với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách, …
- Cấm sử dụng lao động chưa thành niên vào những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc
tiếp xúc với các chất độc hại.
d. Thời gian lao động của trẻ
- Thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên không được vượt quá bảy giờ
một ngày hoặc 42 giờ trong một tuần (Điều 122).
- Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên làm thêm giờ,
làm việc ban đêm trong một số nghề và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội quy định.
e. Một số điều kiện lao động khác có hại cấm sử dụng đối với lao động trẻ em
1. Lao động thể lực quá sức (mức tiêu hao năng lượng lớn hơn 4 Kcal/phút, nhịp tim
120/phút);
2. Tư thế làm việc gò bó, thiếu dưỡng khí;
3. Trực tiếp tiếp xúc với hoá chất có khả năng gây biến đổi gen gây ảnh hưởng xấu đến
chuyển hóa tế bào, gây ung thư, gây tác hại sinh sản lâu dài;
4. Tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh truyền nhiễm;
5. Tiếp xúc với chất phóng xạ (kể cả các thiết bị phát tia phóng xạ);
6. Tiếp xúc với điện từ trường ở mức quá giới hạn cho phép;
7. Trong môi trường có độ rung ồn ào hơn tiêu chuẩn cho phép;
8. Nhiệt độ không khí trong nhà xưởng trên 40 0C về mùa hè và trên 350C về mùa đông,
hoặc chịu ảnh hưởng của bức xạ nhiệt cao;
9. Nơi có áp xuất không khí cao hơn hoặc thấp hơn áp xuất khí quyển;
10. Trong lòng đất;
11. Nơi cheo leo, nguy hiểm;
12. Nơi làm việc không phù hợp với thần kinh, tâm lý người chưa thành niên;
Nơi gây ảnh hưởng xấu tới việc hình thành nhân cách.
f. Ý nghĩa