HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP xã hội CHO TRẺ EM có HOÀN CẢNH đặc BIỆT TRONG hệ THỐNG AN SINH xã hội tại NGỌC hồi – HUYỆN THANH TRÌ – TP hà nội HIỆN NAY - Pdf 47

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
tr-ờng ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-------------------------------------

NGUYễN HữU QUÂN

HOạT ĐộNG THựC HIệN CHíNH SáCH TRợ GIúP CHO TRẻ EM
Có HOàN CảNH ĐặC BIệT TRONG Hệ THốNG AN SINH Xã HộI
TạI Xã NGọC HồI HUYệN THANH TRì TP. Hà NộI HIệN NAY

LUậN VĂN THạC Sĩ CÔNG TáC Xã HộI

Hà Nội 2013

1


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
tr-ờng ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-------------------------------------

NGUYễN HữU QUÂN


Nguyễn Hữu Quân

3


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................9
2. Lược sử vấn đề nghiên cứu ...............................................................................10
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ..............................................................................28
4. Mục đích và nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu ....................................................................29
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu .......................................................30
6. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................31
7. Giả thuyết nghiên cứu .......................................................................................31
8. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................31
NỘI DUNG CHÍNH ................................................................................................36
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ..................................................36
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ..................................................................................36
1.1.1. Khái niệm công cụ ...................................................................................36
1.1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ...........................................40
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ...............................................................................42
1.2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu .................................................................42


5


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Số liệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ........................................................43
Bảng 1.2. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng trợ giúp xã hội ......................46
Bảng 1.3. Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội cho trẻ em hiện nay ........................49
Bảng 1.4. Nhóm trẻ em và chính sách trợ giúp xã hội cho trẻ em hiện nay .............54
Bảng 1.5. Hệ số xác định mức trợ giúp xã hội theo Nghị định 13 cho từng
nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .........................................................55
Bảng 2.1. Đánh giá mức độ hiệu quả của trợ giúp đối với gia đình .........................85

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Sơ đồ cấp bậc nhu cầu theo Maslow .................................................................... 41
Hình 2.1. Lưu đồ quy trình thực hiện việc xét duyệt danh sách trẻ em nhận trợ giúp ........ 59
Hình 2.2. Sơ đồ sinh thái của những hộ khó khăn có trẻ em trong nhóm thụ hưởng tại
xã Ngọc Hồi ........................................................................................................ 67

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Nguồn thông tin về chính sách trợ giúp xã hội cho trẻ em ............................. 65
Biểu đồ 2.2. Khó khăn gặp phải trong quá trình xét duyệt để nhận trợ giúp ....................... 69

tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

: An sinh xã hội

BVCS&GDTE

: Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em

CTXH

: Công tác xã hội

LĐ – TB & XH

: Lao động – Thương binh và Xã hội

Unicef

: Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

UBND

: Ủy ban Nhân dân

trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho trẻ [12]. Điều này không những chỉ ảnh
hưởng đến sự phát triển của trẻ em nói chung mà còn làm gia tăng bất bình đẳng xã
hội.
Hiện nay, hệ thống chính sách trợ giúp được xây dựng nhiề u tiế n bô ̣ và bước
đầ u thể hiê ṇ sự bao phủ khá toàn diện. Dù vậy, để các nhóm trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt có thể tiếp cận và thụ hưởng một cách tối đa từ hệ thống trợ giúp thì vẫn
còn là một quá trình dài. Công tác xã hội (CTXH) là một trong những ngành khoa

9


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

học và một nghề trợ giúp đặc thù có vai trò quan trọng trong việc trợ giúp cho
những cá nhân, nhóm, cộng đồng khó khăn vượt qua khó khăn trong cuộc sống và
hoà nhập xã hội. Một trong những đối tượng được CTXH hướng tới quan tâm đó là
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Đối với các nhân viên CTXH, nắm vững hệ thống
chính sách, các dịch vụ xã hội hỗ trợ liên quan đến trẻ em là chìa khóa then chốt
trong quá trình can thiệp, huy động nguồn lực trợ giúp đối với thân chủ của mình.
Hiện nay, trong lĩnh vực bảo trợ cho trẻ em thì chưa có nhiều nghiên cứu mang tính
khoa học về các chính sách trợ giúp xã hội liên quan. Bên cạnh đó, thông tin, nghiên
cứu liên quan đến vấn đề này còn nhiều hạn chế dẫn tới khó khăn trong việc tiếp
cận, tìm hiểu và ứng dụng trong thực tiễn một cách hợp lý. Từ các lý do trên, chúng
tôi lựa chọn vấn đề: “Hoạt động thực hiện chính sách trợ giúp cho trẻ em có hoàn

phân tích đóng góp cho việc tìm hiểu tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và
thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở
Việt Nam. Nội dung báo cáo đã bao quát, phân tích và nhận diện vấn đề trẻ em trên
nhiều mặt, từ bối cảnh phát triển của Việt Nam cho đến bối cảnh và thể chế của
quốc gia. Dựa trên cách tiếp cận quyền được sinh tồn và được chăm sóc sức khỏe
nghiên cứu cho thấy được tình hình sức khỏe của trẻ em, sức khỏe bà mẹ và sức
khỏe sinh sản, sức khỏe vị thành niên cùng những mối đe dọa đến sức khỏe trẻ em
như căn bệnh thế kỷ, tai nạn thương tích, nguồn nước và vệ sinh. Phân tích tìm hiểu
Quyền được học tập và Phát triển của trẻ em Việt nam thông qua thể chế giáo dục,
đặc biệt nghiên cứu cũng quan tâm đến vấn đề giáo dục cho trẻ em có nhu cầu đặc
biệt. Trên khía cạnh quyền được tôn trọng và bảo vệ nghiên cứu chỉ ra những vấn
đề ảnh hưởng đến trẻ em cần được cơ quan chức năng và nhà nước bảo vệ. Đặc biệt,
nghiên cứu còn tiếp cận dựa trên quyền tham gia của trẻ em trong bối cảnh kinh tế,
văn hóa chính trị xã hội của nước ta qua các môi trường, gia đình, nhà trường và
cộng đồng. Báo cáo phân tích khá toàn diện tình hình trẻ em nước ta năm 2010, từ
cách tiếp cận dựa trên quyền, phân tích có nhiều những đóng góp quan trọng về mặt
cung cấp những hiểu biết về tình hình trẻ em nước ta và những khuyến nghị để bảo
vệ quyền trẻ em được hiệu quả.
Cũng kết quả khảo sát của Bộ LĐ – TB &XH kết hợp với Unicef năm 2010
trong ”Báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em ở Việt
Nam” đã đưa ra cái nhìn tổng thể về gánh nặng tai nạn thương tích cho trẻ em, xem
xét các chiến lược phòng chống, và đưa ra khuyến nghị cho các vấn đề liên quan
đến phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em tại Việt Nam. Tai nạn thương tích
là vấn đề nổi cộm của y tế công cộng và cũng là vấn đề của sự phát triển. Trong
chiến lược chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đối tượng trẻ em bị tai nạn thương tích không

11


Ket-noi.com

bạo lực gia đình, bạo lực với phụ nữ và trẻ em; những phụ nữ, trẻ em bị bạo lực;
thực trạng bạo lực gia đình, giải pháp hiện hành nhằm hạn chế bạo lực gia đình
đối với phụ nữ và trẻ em; kinh nghiệm quốc tế trong công tác phòng, chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em. Nghiên cứu được thực hiện 3/2008 đến
tháng 12/2009. Kết quả cho thấy bạo lực gia đình đang là một vấn đề xã hội bức
xúc và đang diễn ra ở cả nông thôn và thành thị. Nạn nhân của bạo lực gia đình
chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Đồng thời, kết quả chỉ ra rằng kinh tế nghèo nàn

12


cũng là một trong những yếu tố tác động khá lớn. Bạo lực gia đình đã xâm phạm
quyền và làm tổn thương thể chất và tinh thần của trẻ em và phụ nữ. Trong thời
gian qua, mặc dù nước ta đã có những hình thức can thiệp bạo lực gia đình với
phụ nữ và trẻ em tuy nhiên chưa thực sự có hiệu quả. Một trong những lý do đó là
các hình thức can thiệp của xã hội với bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em còn
thiên về hòa giải tình cảm, tính pháp lý chưa cao. Từ việc đánh giá thực trạng bạo
lực gia đình, các biện pháp can thiệp, đề tài đã nghiên cứu và đề xuất hệ thống giải
pháp từ vĩ mô tới trung mô và vi mô như hoàn thiện khung pháp lý, tác động nâng
cao nhận thức về bình đẳng giới, luật về Phòng chống bạo lực gia đình, hình thành
hệ thống dịch vụ trợ giúp trong cộng đồng xã hội và giải pháp cải thiện kinh tế hộ
gia đình qua xóa đói giảm nghèo.
Đề tài “Xây dựng mô hình mạng lưới bảo vệ trẻ em và người chưa thành
niên dựa vào cộng đồng”của Bộ LĐ – TB & XH thực hiện tháng 12/2008 tập trung
vào các văn bản, chính sách liên quan đến bảo vệ trẻ em, các cán bộ làm công tác
bảo vệ trẻ em, trẻ em trong nhóm tuổi chưa thành niên. Nghiên cứu chú trọng vào
việc phân tích cơ chế, chính sách về bảo vệ trẻ em, thực trạng công tác bảo vệ trẻ
em tại cộng đồng, chủ yếu tại tuyến xã , phường, thôn bản. Ở các tỉnh trọng điểm đã
hoặc đang tiến hành các thử nghiệm mô hình mạng lưới phục vụ công tác xây dựng
chính sách bảo vệ trẻ em. Nghiên cứu đi sâu vào phân tích thực trạng của đối tượng

phân tích sâu về nguyên nhân bỏ học của trẻ em dựa trên cách tiếp cận về các nhân
tố tác động, kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều nguyên nhân dân đến tình trạng
bỏ học của các em: đó là nguyên nhân từ phía gia đình, nhà trường, nguyên nhân từ
cộng đồng xã hội và nguyên nhân từ chính bản thân trẻ. Nghiên cứu cũng tiếp cận
nguyên nhân bỏ học theo khía cạnh vị trí địa lý trong đó được chia ra làm các vùng:
nông thôn, thành thị và vùng dân tộc ít người. Nghiên cứu cũng phân tích những nỗ
lực của chính phủ trong việc phổ cập giáo dục và hạn chế tình trạng trẻ em bỏ học.
Với phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu đã tổng hợp và phân tích được
những tài liệu liên quan đến vấn đề bỏ học của trẻ em, từ những khía cạnh rời rạc
báo cáo đã tổng hợp khá đầy đủ tình hình bỏ học của trẻ em và phân tích những
nguyên nhân của tình trạng này. Tuy nhiên, do những nguồn tài liệu còn hạn chế
báo cáo chưa chỉ ra được những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của nhóm
trẻ em yếu thế : trẻ em nghèo, trẻ em khuyết tật, trẻ bị nhiễm HIV. Kết quả nghiên
cứu mang tính chất tổng hợp và mô tả chưa có sự đi sâu vào phân tích cụ thể thái
độ, hành vi của những đối tượng liên quan.
Nghiên cứu“ Tình hình lao động trẻ em thực trạng và giải pháp” của Bộ LĐ
– TB & XH do TS. Nguyễn Hải Hữu làm chủ biên thực hiện vào năm 2010. Nghiên
cứu đánh giá thực trạng về tình hình lao động trẻ em, đưa ra một số giải pháp phục
vụ nhu cầu quản lý, hoạch định chính sách, xây dựng chương trình mục tiêu bảo vệ
trẻ em và hạn chế tình trạng lao động trẻ em. Đối với những lao động trẻ trong một
số ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và các chính sách, luật pháp liên quan
đến lao động trẻ em. Nghiên cứu chỉ ra rằng rất khó để xóa bỏ hoàn toàn tình trạng
lao động trẻ em ở Việt Nam, vì trên thực tế trẻ em còn phải sống trong hoàn cảnh

14


khó khăn, gia đình thiếu thốn và không đủ điều kiện để sống, học tập và phát triển.
Đối với Việt Nam, cần có một hệ thống pháp luật, chính sách đồng bộ, phù hợp và
có hiệu lực. Trong giai đoạn vừa qua, với sự nỗ lực của các nhà hoạch định chính


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

tội phạm trẻ em. Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng trong việc đóng góp những kiến
thức xã hội học nghiên cứu về trẻ em, những nghiên cứu này mang sự quan tâm
đậm chất quốc tế..
Trong nghiên cứu “Phân tích tình hình trẻ em của tỉnh An Giang” được thực
hiện vào năm 2012 của Unicef. Đây là nghiên cứu Phân tích tình hình trẻ em ở tỉnh
An Giang, một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tìm hiểu cũng như
xác định sự bất bình đẳng và tính dễ bị tổn thương của hộ gia đình trong tỉnh ảnh
hưởng tới tình hình trẻ em. Đồng thời đi sâu phân tích từng ngành và các nhóm
quyền của trẻ em: Sức khỏe và sự sống còn của trẻ em, phát triển và giáo dục, bảo
vệ và tham gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số hoạt động sau: Thứ nhất, triển
khai đồn bộ các nỗ lực, thực hiện thắng lợi mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non để
tạo tiền đề xây dựng một “văn hóa đi học” cho trẻ em các thế hệ tiếp sau; Thứ hai,
ưu tiên tăng cường hỗ trợ và nâng cao hệ thống dạy nghề, tạo việc làm trên địa bàn
cho lao động trẻ và học sinh mới tốt nghiệp. Theo số liệu Điều tra Dân số năm
2009, chỉ có 1,8 % dân số lứa tuổi trên 15 ở An Giang tốt nghiệp các trường dạy
nghề. Trong khi đó 30 % dân số An Giang có độ tuổi từ 15 đến 29. Bên cạnh đó
nghiên cứu chỉ ra chất lượng của các chương trình dạy nghề vẫn còn nhiều hạn chế
và nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị sau: Cần nâng cao lợi ích cho các doanh
nghiệp, công ty tư nhân để họ tham gia trực tiếp vào công tác đào tạo nghề, gắn
nhiều hơn nữa các chương trình dạy nghề và tạo việc làm sau khi tốt nghiệp, nâng
cao chất lượng của các lớp dạy nghề về phương pháp đào tạo, thời gian đào tạo cho

quát về hình thức chăm sóc tại các trung tâm và hình thức chăm sóc thay thế khác
dành cho trẻ cần được bảo vệ đặc biệt. Dựa trên những hướng dẫn của Liên hợp
quốc trong công ước về quyền trẻ em, nghiên cứu này nhằm hỗ trợ và khuyến
khích chính phủ Việt Nam đưa ra các chính sách và xây dựng các chương trình và
dành nhiều nguồn lực hơn nữa để hỗ trợ cho các hoạt động chăm sóc trẻ dựa vào
gia đình và cộng đồng. Theo hướng này, nghiên cứu áp dụng kết hợp phương pháp
môi trường bảo vệ với khuôn khổ dựa trên quyền của trẻ nhằm có những tiếng nói
trong quá trình xây dựng các chính sách nhằm tiếp tục phát triển các hình thức
chăm sóc khác ở Việt Nam thay thế cho hình thức chăm sóc tập trung tại các trung
tâm. Nghiên cứu tập trung vào các chính sách và pháp luật xã hội hiện nay, các
chính sách xã hội có liên quan và việc phân bổ ngân sách nhà nước và tiêu chí cho
các chương trình chăm sóc tại các trung tâm và các chương trình chăm sóc thay

17


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

thế khác. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ quốc gia mà chưa đi
sâu cụ thể vào từng đối tượng và nghiên cứu này cũng chưa thực sự hướng tới
những trẻ em nghèo và trẻ em khuyết tật trong khi những trẻ em này lại là những
đối tượng rất cần được nhận sự hỗ trợ để các em có được cuộc sống tốt và phát
triển như bao trẻ em bình thường khác.
Liên quan đến vấn đề của trẻ em khuyết tật, nghiên cứu “Ngân sách cho giáo

Năm 2003, Bộ LĐ - TB & XH thực hiện với sự hỗ trợ của Unicef đã nghiên
cứu trẻ em khuyết tật ở Việt nam. Nghiên cứu được thực hiện tại 3 tỉnh thuộc ba
vùng miền khác nhau: Phú Thọ (miền Bắc), Quảng Nam (Miền Trung), TP. Hồ Chí
Minh (Miền Nam) với phương pháp nghiên cứu bao gồm cả định tính và định
lượng. Kết quả thông tin thu được từ nguồn dữ liệu cho biết tỷ lệ khuyết tật ở nước
ta trong giai đoạn này là 6.3% tổng số dân. Nghiên cứu cho thấy trẻ em khuyết tật
vẫn sống trong những điều kiện nghèo đói, có tỷ lệ biết chữ và trình độ học vấn
thấp, các trẻ được tiếp cận với cơ hội việc làm, nghề nghiệp rất hạn chế. Nghiên cứu
cung cấp những dữ liệu tiềm năng về trẻ khuyết tật ở nước ta, tuy nhiên những dữ
liệu thuđược chưa có sự phân tích, nguồn thông tinh định lượng cần được bổ sung
để làm rõ số lượng và tình hình trẻ khuyết tật.
Nghiên cứu “Trẻ em đường phố và các cơ hội can thiệp tại đầu đi (Trường
hợp Tỉnh Thanh Hóa)” Do Trung tâm y tế công cộng và phát triển cộng đồng
(CEPHAD) và Tổ chức bánh mỳ cho thế giới thực hiện vào năm 2006 trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa với 3 huyện: Huyện Quảng Xương; Huyện Hậu Lộc; Huyện Cẩm
Thủy. Trong khuôn khổ dự án “Can thiệp nhằm ngăn ngừa và giải quyết tình trạng
trẻ em đường phố” kéo dài từ 2006-2008, Trung tâm y tế công cộng và phát triển
cộng đồng mong muốn đóng góp công sức trong việc hạn chế tình trạng này ở cả
đầu đi (Thanh Hóa) và điểm đến HN. Với mục tiêu dự án là: góp phần ngăn ngừa
tình trạng trẻ em rời gia đình ra TP và tạo cơ hội cho chúng có kỹ năng sống tích
cực, giúp các trẻ em trở về quê hương. Nghiên cứu này được thực hiện với các mục
đích sau: Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng cuộc sống của nhóm trẻ em đường phố; khả
năng các em hỗ trợ gia đình cùng với những khó khăn, nguy cơ gặp phải trong quá
trình kiếm sống. Thứ hai, tìm hiểu và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng hồi gia của các em. Các yếu tố này không chỉ bao gồm những ý kiến của bản
thân các em mà còn của thành viên gia đình và chính quyền sở tại. Thứ ba, đề xuất
những giải pháp và chương trình can thiệp cho hoạt động của dự án. Đây là nghiên
cứu định tính. Có 29 phỏng vấn sâu và 12 thảo luận nhóm đã được thực hiện với

19

cộng đồng sẽ gặp nhiều khó khăn, một phần do nguồn lực hạn chế của địa phương,
mặt khác, trình độ học vấn và chuyên môn hạn chế cũng có thể là trở lực của quá
trình hồi gia. Một trở ngại khác có thể xảy ra do sự chênh lệch về trình độ phát triển
văn hóa giữa đầu đi và đầu đến đặc biệt khi khoảng cách nông thôn và đô thị chưa
được rút ngắn. Từ kết quả của nghiên cứu trên cho thấy Đảng và Nhà nước ta cần có
những chính sách trợ giúp phù hợp và kịp thời cho trẻ em đặc biệt là trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt.”
Báo cáo về “Trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng” được
thực hiện vào tháng 11/2009 do Alison Dexter – Giám đốc nghiên cứu, Trần Liên
Phương – Giám đốc quản lý khách hàng và chuyên viên nghiên cứu định tính, Iean

20


– Pierre Depasse – Giám đốc Bộ phận nghiên cứu xã hội và cộng đồng…..kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình xã hội về khuyết tật đề cao những giải pháp dựa trên
gia đình và cộng đồng hơn là cách chăm sóc y tế mà Việt Nam đã ứng dụng trong
một thời gian dài. Mặc dù chúng ta nhận thấy sự biến đổi từ cách tiếp cận xã hội
đang tiến triển trong các tổ chức địa phương và cả nước, vẫn sẽ cần nhiều nỗ lực
hơn nữa để hướng tới tính nhất quán trong ứng dụng và duy trì mô hình này ở các
cấp cơ sở, cộng đồng và quan trọng hơn cả là chính gia đình của trẻ khuyết tật. Báo
cáo cũng chỉ ra rằng dù vẫn còn nhiều việc phải làm nhưng điểm đáng nói chính là
tiềm năng thay đổi hành vi là hoàn toàn có cơ sở. Cần có các kế hoạch hỗ trợ tài
chính để người tiếp cận có thể nhận hỗ trợ một cách dễ dàng và thống nhất. Về mặt
y tế thì cần giáo dục tốt hơn về sức khỏe cho trẻ khuyết tật và gia đình trẻ cũng như
các nhân viên trong ngành, đồng thời cần nâng cao nhận thức của cộng đồng và
những cá nhân hoạt động trong ngành giáo dục bao gồn đội ngũ giáo viên để xóa bỏ
các rào cản hòa nhập, phát triển các tài liệu và chương trình hỗ trợ đối với từng
dạng khuyết tật, lứa tuổi và sự động viên đội ngũ giáo viên. Cuối cùng, báo cáo
cũng nêu lên mặt hạn chế về cơ sở hạ tầng cho những người khuyết tật cũng là một

Trẻ em lang thang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, bởi đây là
đối tượng dễ bị tổn thương cần sự trợ giúp của các nhà Chính sách xã hội. Bài viết
Tìm hiểu về nhóm đối tượng trẻ em lang thang (2012) đã cung cấp những thông tin
quan trọng từ nhóm đối tượng này, bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để
mô tả thực trạng trẻ em lang thang về mặt số lượng, trình độ học vấn của các em,
nghề nghiệp và những mối đe dọa từ các tệ nạn xã hội. Từ đó, tác giả tìm hiểu nhu
cầu của nhóm đối tượng này thông qua nhóm nhu cầu: nhu cầu tâm lý, nhu cầu an
toàn, yên ổn, nhu cầu được tự do – độc lập, nhu cầu tự khẳng định mình; nhu cầu
được giao lưu – học hỏi. Đó là những nhu cầu thiết yếu của các em cần được đảm
bảo, bài viết đã chỉ ra được những giải pháp cơ bản để cho các em có cuộc sống ổn
định hơn. Bài viết chủ yếu phân tích nguồn tài liệu có sẵn, những tài liệu nghiên cứu
mới ở mức điểm qua, chưa có nhiều sự phân tích sâu sắc; cần bổ sung thêm nguồn số
liệu định tính và định lượng để làm sáng tỏ hơn nữa chân dung của các em.
Nghiên cứu Mua bán trẻ em trai (2012) được tiến hành trong khuôn khổ hoạt
động của Chương trình chung về Bình đẳng giới do Chính phủ Việt Nam và Liên
hợp quốc tại Việt Nam thực hiện. Đây là nghiên cứu mới, có giá trị quan trọng trong
việc cung cấp những tri thức xã hội học về vấn đề xã hội đang diễn ra, mặc dù có
bằng chứng và tài liệu về trường hợp mua bán trẻ em trai nhưng chưa có nghiên cứu
nào được thực hiện ở Việt nam về nạn mua bán nam giới và trẻ em trai. Nghiên cứu
chỉ ra rằng tình trang buôn bán trẻ em trai có xảy ra ở Việt Nam cả trong và ngoài
nước. Trẻ em trai bị mua bán nhằm mục đích bóc lột sức lao động, làm ăn xin và
bán rong trên đường phố, bóc lột về mặt tình dục và làm con nuôi. Nghiên cứu chỉ
ra được những đặc điểm của nạn nhân trẻ em trai bị mua bán trong đó được phân
tích dựa trên khía cạnh vùng miền, độ tuổi, dân tộc, mục đích mua bán.Đồng thời
tác giả phân tích những thủ đoạn của những đối tượng buôn bán trẻ em trai và
những trải nghiệm của các em trong quá trình bị mua bán, trở về, phục hồi và tái

22




23


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

hưởng quan trọng đến nguy cơ nghèo trẻ em đó, nghiên cứu cũng chỉ ta không có sự
liên hệ về mặt giới tính với nguy cơ nghèo.Trình độ học vấn ở cả nông thôn và
thành thị tỷ lệ nghịch với quy cơ trẻ em nghèo. Ngoài cách tiếp cận đa chiều, nghiên
cứu sử dụng phương pháp tiếp cận tiền tệ, từ những cách tiếp cận khác nhau giúp
cho nghiên cứu không bị “ bỏ sót” những trẻ em nghèo các khía cạnh như nước
sạch, vệ sinh, y tế, vui chơi giải trí. Báo cáo nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong
việc xác định tình trạng nghèo của trẻ em Việt nam từ đó tác giả đưa ra những vấn
đề cần ưu tiên giải quyết là nước sạch, vệ sinh, giải trí và y tế. Nghiên cứu còn tồn
tại những hạn chế nhất định về phương pháp luận, tác giả mới chú trọng đến việc
tính toán số trẻ em nghèo mà chưa có biện pháp đo lường cụ thể. Nghiên cứu cũng
cần thu thập thêm thông tin và phân tích những số liệu bổ sung để tránh bỏ xót
những đối tượng trẻ em dẽ bị tổn thương chưa có trong danh mục nghiên cứu,
nghiên cứu bổ sung thêm số liệu định lượng nhằm bổ sung thêm thông tin cho
nghiên cứu.
Nghiên cứu “Ngân sách cho giáo dục hòa nhập của trẻ khuyết tật (Phân tích
trường hợp tại cấp huyện)”của Ngô Huy Đức (2003) tập trung vào nhóm trẻ khuyết
tật đang ở độ tuổi đi học của ba xã huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, cuốn sách
đã làm rõ các nguồn lực tài chính từ Chính phủ được chi tiêu (cả trực tiếp và gián

trẻ em nhiễm HIV, đó là: Việc yêu cầu xét nghiệm HIV hoặc yêu cầu xuất trình kết
quả xét nghiệp HIV là vi phạm quyền của trẻ, trẻ em cần được giáo dục giới tính,
sức khỏe sinh sản, HIV và kỹ năng sống. Cuốn sách còn nhấn mạnh vai trò của
cộng đồng trong việc giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS.
Nhóm nghiên cứu về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ cho trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt
Theo báo cáo ”Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: đánh giá pháp
luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt
Nam” do Bộ LĐ – TB & XH kết hợp với Unicef tiến hành năm 2009, dựa trên cơ
sở đánh giá các luật, văn bản dưới luật cũng như những chính sách và chương trình
bảo vệ trẻ em, phân tích và đánh giá những văn bản quy phạm pháp luật đó trong
mối tương quan với Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em cũng như các tiêu chuẩn
quốc tế về bảo vệ trẻ em khác. Báo cáo cũng nhằm mục đích xác định những
khoảng cách giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, cũng như dự báo những

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status