ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THỦY
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN
TRẺ EM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THỦY
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN
TRẺ EM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Hải Đăng
Hà Nội, năm 2016
trong bất kỳ công trình nào khác. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã
thanh toán các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
4
MỤC LỤC
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
36
KẾT LUẬN CHƯƠNG II
68
KẾT LUẬN
86
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
HCĐB
Hoàn cảnh đặc biệt
TELT
Trẻ em lang thang
QĐTTCP
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
BLXH
Bạo lực xã hội
BVCSTE
bảo vệ, chăm sóc trẻ em
UBND
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20/2/1990. Từ
khi tham gia Công ước, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa tinh
thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và
pháp luật quốc gia. Nhờ vậy, trong những năm gần đây, trẻ em Việt Nam nói
chung, nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng được Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội quan tâm một cách toàn diện hơn, thiết thực hơn.
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất
hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với
gia đình, cộng đồng.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bao gồm 10 nhóm: trẻ em mồ
côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là
nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm
việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa
gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý;
trẻ em vi phạm pháp luật [2, Điều 1].
3
Ở mọi thời đại, mọi quốc gia, trẻ em luôn giữ vai trò là chủ nhân tương
lai của đất nước, vì vậy, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm
không thuộc về cá nhân hay tổ chức nào đó mà là sự chung tay góp sức của
toàn xã hội. Để đảm bảo được quyền lợi cho trẻ em, cần có những giải pháp
ngăn chặn, hạn chế trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đồng thời cần
có các biện pháp nhằm giúp đỡ các em đang trong hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn hòa nhập với cộng đồng, có cuộc sống ổn định và có cơ hội thực hiện
quyền trẻ em theo quy định của pháp luật.
Xuất phát từ suy nghĩ trên, em đã chọn đề tài “Các quy định của pháp
luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam đối với
bị bạo hành như một số địa phương khác ở các tỉnh vùng biên, vùng sâu, vùng
xa. Tuy nhiên, qua một số cuộc kiểm tra, khảo sát thực tế về công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em tại địa phương này, học viên nhận thấy điểm nổi
bật của Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là việc thực hiện rất tốt công
tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt. Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền tại địa phương này đặc biệt quan tâm và
luôn chú trọng đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Vì vậy, học
viên quyết định chọn địa bàn Thành phố Hải Dương (tỉnh Hải Dương) để
nghiên cứu.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là đánh giá chính sách, pháp luật của
Việt Nam tác động đến của quyền nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên
phạm vi cả nước và đánh giá chính sách an sinh xã hội của Thành phố Hải
Dương, tỉnh Hải Dương đối với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa
bàn Thành phố. Để đạt được mục tiêu trên, tác giả sẽ tập trung vào các nhiệm
vụ sau:
- Phân tích các quy định pháp luật quốc tế, quy định của pháp luật Việt
Nam về về quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam nói
chung và trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng.
5
- Phân tích thực trạng việc thực hiện pháp luật về quyền trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng.
4. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều các công trình nghiên cứu liên quan
đến vấn đề quyền con người nói chung, quyền trẻ em và đặc biệt là quyền của
Thị Vân, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2008); “Bảo vệ
quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật”, do Lâm Thị
Phương Thanh, Khoa Luật, ĐHQGHN (2009); “Quyền trẻ em trong giai đoạn
xây dựng nhà nước pháp quyền: những đảm bảo pháp lý”, do Phan Thị Lan
Phương, Khoa Luật, ĐHQGHN (2015); “Quyền trẻ em trên báo in hiện nay”,
do Nguyễn Thu Hà, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
ĐHQGHN (2014); “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam về phòng,
chông bạo lực gia đình”, do Nguyễn Thanh Hương, Khoa Luật, ĐHQGHN
(2014); “Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn
miền núi tỉnh Nghệ An”, do Ngô Thị Kiều Trang, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN (2016); “Bảo đảm quyền trẻ em sống chung
và bị ảnh hưởng bởi HIV/AID ở Việt Nam”, do Lê Thị Hà, Khoa Luật,
ĐHQGHN (2014); “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt – lý luận và thực tiễn” của
nhóm sinh viên Ngành Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật, Thành phố
Hồ Chí Minh; “Mô hình nhà xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn cấp xã – Nền tảng triết lý và những bài học rút ra” của tác giả
Nguyễn Thu Trang, Bộ môn Công tác xã hội, Trường Đại học, Khoa học xã
hội và Nhân văn, ĐHQGHN; “Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của
các nhóm xã hội dễ bị tổn thương” của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng” do
Cục Bảo vệ Chăm sóc trẻ em (Bộ LĐ-TBXH) nghiên cứu; tác giả Nguyễn
Đăng Dung, cũng có nghiên cứu “Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố
7
tụng hình sự, NXB Đại học Quốc gia Hà (2011); Phạm Thị Hải Hà (2012) với
nghiên cứu “Qui định của nhà nước trong khám, chữa bệnh chotrẻ em lý
luận, thực trạng, giải pháp”,Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công,Học
viện Hành chính Quốc gia vv…
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ quyền trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt ở Việt Nam
Chương 3: Đánh giá thực trạng, thực thi pháp luật về quyền trẻ em tại
Việt Nam và một số kiến nghị, đề xuất giải pháp góp phần đảm bảo các quyền
của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM, QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.1. Một số khái niệm.
1.1.1. Trẻ em và quyền trẻ em
Theo quy định của pháp luật quốc tế khái niệm trẻ em được hiểu là:
“mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó
quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1, Phần I, Công ước Quốc tế về
quyền trẻ em).
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm trẻ em có sự khác nhau về độ tuổi
song trẻ em trước hết là một con người và được hưởng mọi quyền như đã
được nêu ra trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà không bị bất
cứ một sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, địa vị, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài
sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác. Nhưng trẻ em lại là người chưa
9
trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và bày tỏ quan
điểm, chính kiến của mình về mọi vấn đề liên quan đến bản thân mình. Bên
cạnh đó, có thể ngầm hiểu rằng khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam
hẹp hơn khái niệm người chưa thành niên, bởi người chưa thành niên bao
gồm cả trẻ em và những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, cụ thể:
trẻ em vi phạm pháp luật (Điều 40 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,
2004).
Theo tổ chức UNICEF, trẻ em có HCĐB là một khái niệm dùng cho các
em sống trong một hoàn cảnh, vì một lý do nào đó mà việc đáp ứng các nhu
cầu cơ bản của các em bị hạn chế.
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy trẻ em có HCĐB có những đặc điểm
sau:
- Thể chất và tinh thần không bình thường (đó là đối với các trẻ em có
khuyết tật về thể chất, tinh thần)
- Không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình
và cộng đồng
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm các đối tượng sau [7]:
1. Trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi: là những trẻ em mà cả cha lẫn mẹ
đã qua đời, không có họ hàng thân thích, hoặc là những trẻ em mà cha hoặc
mẹ qua đời, người còn lại đã mất tích hoặc không có khả năng nuôi trẻ em; và
trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi không có sự chăm sóc của cha mẹ. (Trẻ em được nhận
làm con nuôi thường không phải tất cả là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Việc
nhận con nuôi là một trong những biện pháp để hỗ trợ các em mồ côi hoặc các
em bị bỏ rơi)
2. Trẻ em bị xâm hại tình dục: bao gồm trẻ em bị lạm dụng tình dục, bị
cưỡng hiếp, hoặc bị lạm dụng bởi các hành vi dâm ô...; trẻ em bị bóc lột tình
dục với mục đích thương mại (mại dâm, du lịch tình dục, văn hóa phẩm đồi
trụy trẻ em, trẻ em bị buôn bán).
11
3. Trẻ em đường phố/Trẻ em vô gia cư/Trẻ em phải làm việc xa gia
đinh: Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em đường phố được định nghĩa gồm bốn
nhóm sau đây: a) trẻ em bỏ nhà và sống trên đường phố, những khu vực công
8. Trẻ em khuyết tật: là trẻ em có khuyết tật thể chất hoặc tâm thần, trẻ
em khuyết tật cũng bao gồm đối tượng trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh, hoặc
những em bị khuyết tật do tai nạn, ốm đau và bị tiếp xúc với hóa chất độc.
9. Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học
Là nạn nhân bị khuyết tật, dị tật bẩm sinh do di chứng di truyền từ bố
mẹ bị nhiễm chất độc hóa học hoặc bị tiếp xúc với chất độc hóa học gây ra
những tổn hại nặng nề về sức khỏe, tinh thần.
1.2. Các quy định pháp luật về quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1.2.1. Nguồn pháp luật
Luật quốc tế về quyền con người có thể hiểu là hệ thống các quy tắc,
tiêu chuẩn và tập quán pháp lý quốc tế xác lập, bảo vệ và thúc đẩy các quyền
và tự do cơ bản cho mọi thành viên của cộng đồng nhân loại [8, Tr 131]. Mặc
dù hiện nay vẫn còn một số tranh cãi nhất định, song về cơ bản nguồn của
Luật quốc tế nói chung, trong đó có nguồn của Luật quốc tế về quyền con
người, những nguồn sau thường được viện dẫn khi giải thích, tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục.
1. Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những
nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận;
2. Các tập quán quốc tế;
3. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;
4. Các án lệ (các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế) và quan điểm
của các chuyên gia pháp luật có uy tín cao.
13
Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật quốc tế về quyền trẻ em, quyền
trẻ em có có hoàn cảnh đặc biệt có thể kể đến là:
Tuyên bố Giơnevơ (năm 1924) về quyền trẻ em. Sau Tuyên bố Giơnevơ
và phấn đấu để thực hiện bằng luật pháp và những biện pháp khác theo 10
nguyên tắc và những nguyên tắc này như là 10 nhóm quyền cơ bản của trẻ
em.
Năm 1989, Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ em
(CRC). Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một văn bản quốc tế đề cập toàn
diện về quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính
pháp lý cao, làm cơ sở cho việc thúc đẩy chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ
em trên thực tế. Một tập hợp các quyền trẻ em trên tất cả các lĩnh vực đã được
CRC ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu
quả; được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã
hội. CRC gồm 54 điều khoản với nội dung quy định các quyền dân sự, chính
trị, kinh tế, văn hóa, nêu rõ các nguyên tắc, các quyền khác nhau, các cơ chế
theo dõi và thực hiện.
Không chỉ đề cập đến trẻ em nói chung, CRC còn đề cập đến việc bảo
vệ quyền của những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (gồm: trẻ em tàn tật,
lang thang cơ nhỡ, bị ảnh hưởng của xung đột vũ trang...). Đồng thời, CRC
xác định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy cơ đang đe dọa nghiêm
trọng cuộc sống của nhiều trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao
động, ảnh hưởng của chất ma túy và bị buộc phải tham gia vào các cuộc xung
đột vũ trang... CRC được coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện
nhất về quyền trẻ em trong thời điểm hiện nay. Để bổ sung cho CRC, Liên
Hợp quốc còn thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập đến việc cấm sử
dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và cấm buôn bán trẻ em, mại
15
dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (Việt Nam đã phê chuẩn 2
Nghị định thư này). Đến nay, đã có hơn 80 văn kiện quốc tế liên quan đến
quyền trẻ em được ban hành để bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ em như: Hướng
Để nhóm trẻ không có bố mẹ hoặc vì lý do nào đó mà không được sống
cùng bố mẹ, gia đình nhận được trợ giúp từ Nhà nước, các tổ chức xã hội
hoặc cá nhân, Điều 20, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã đưa ra các giải
pháp: “Một trẻ em, tạm thời hay vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đình
của mình, hoặc vì những lợi ích tốt nhất của chính bản thân mình mà không
được phép tiếp tục ở trong môi trường gia đình, có quyền được hưởng sự bảo
vệ và giúp đỡ đặc biệt của Nhà nước” (Khoản 1); “Các quốc gia thành viên
phải cho các trẻ em như thế được hưởng sự chăm sóc thay thế tương ứng,
phù hợp với pháp luật quốc gia (Khoản 2); “Sự chăm sóc như thế có thể bao
gồm nhiều hình thức, chẳng hạn như gửi nuôi, hình thức Kafala theo luật Hồi
giáo, việc nhận làm con nuôi, hoặc nếu cần thiết, gửi vào những cơ sở chăm
sóc trẻ em thích hợp. Khi cân nhắc các giải pháp, phải quan tâm thích đáng
đến mong muốn nuôi dạy trẻ em lâu dài cũng như đến nền tảng dân tộc, tôn
giáo, văn hóa và ngôn ngữ của đứa trẻ” (Khoản 3).
Đồng thời, để tạo hành lang pháp lý cho những giải pháp trên, Điều 21,
Công ước Quốc tế đã quy định “Các quốc gia thành viên mà thừa nhận hoặc
cho phép việc nhận làm con nuôi phải bảo đảm rằng những lợi ích tốt nhất
của trẻ em là mối quan tâm cao nhất trong vấn đề này” và phải bảo đảm việc
nhận trẻ em làm con nuôi chỉ được tiến hành với sự cho phép của những cơ
quan có thẩm quyền, phù hợp với pháp luật và các thủ tục và trên cơ sở các
thông tin thích hợp và đáng tin cậy; việc cho trẻ em ra nước ngoài làm con
nuôi có thể coi như một biện pháp thay thế để chăm sóc trẻ em, nếu như đứa
trẻ đó không thể gửi gắm được cho một gia đình chăm nom hay được một gia
17
đình nhận nuôi, hoặc không thể nhận được sự chăm sóc bằng bất cứ cách thức
thích hợp nào khác tại nước nguyên quán; trẻ em được người nước ngoài nhận
làm con nuôi cũng được hưởng những sự bảo vệ và điều kiện tương đương
trẻ em chống mọi hình thức bóc lột tình dục và lạm dụng tình dục. Vì mục
đích này, các quốc gia thành viên phải thực hiện đồng bộ các giải pháp song
phương và đa phương thích hợp để ngăn ngừa:
Còn trong Chương trình nghị sự Stockholm, năm 1996, Tuyên bố
Yokohama, năm 2002 và Cam kết khu vực và Chương trình hành động của
khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương đối với bóc lột tình dục thương mại
trẻ em, Uỷ ban Liên hiệp quốc về quyền trẻ em đã đưa ra các giải pháp tích
cực như:
Xây dựng độ tuổi tối thiểu cho phép tham gia hoạt động tình dục, nghĩa
là nếu dưới ngưỡng tuổi đó trẻ em được coi là quá trẻ hoặc chưa phát triển
đầy đủ về mặt tâm sinh lý để có thể chấp thuận tham gia vào bất cứ hoạt động
tình dục nào. Ủy ban Liên hiệp quốc về quyền trẻ em nhấn mạnh rằng việc
giới hạn độ tuổi cần phải cân nhắc dựa trên các nguyên tắc tôn trọng khả năng
phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ em cũng như vì lợi ích, sức khoẻ và
sự phát triển toàn diện của trẻ.
Chiến lược phát hiện các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình
dục: cảm giác xấu hổ và sợ hãi của những kẻ phạm tội thành niên thường làm
cho các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình dục miễn cưỡng nói ra
tình trạng của mình và yêu cầu giúp đỡ. Thậm chí, chúng ta rất khó có thể tiếp
cận được những trẻ em tham gia vào các hoạt động mại dâm và những trẻ em
từng bị buôn bán và đang bị ép buộc tham gia vào các hoạt động mại dâm.
Những trẻ em này rất sợ cảnh sát hoặc các cán bộ chức trách và có thể trốn
tránh tiếp xúc với các cán bộ y tế hoặc cán bộ làm công tác xã hội. Trong
19
những trường hợp này, cần phải có những biện pháp đặc biệt để phát hiện và
tiếp cận với các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình dục. Đồng thời,
nhân viên cảnh sát, cán bộ làm công tác lao động xã hội, bộ đội biên phòng và
Hỗ trợ các nạn nhân trẻ em: Trẻ em bị bóc lột tình dục cần phải được
hỗ trợ lâu dài và đặc biệt để có thể phục hồi tâm sinh lý, tái hoà nhập cộng
đồng và có thể vượt qua những ám ảnh kỳ thị. Nếu có thể, các hình thức hỗ
trợ cần được thực hiện ngay tại gia đình và cộng đồng của nạn nhân đó, thay
vì được tiến hành tại các trung tâm phục hồi nhân phẩm. Các hình thức hỗ trợ
đối với các nạn nhân trẻ em cần phải có sự tư vấn của một chuyên gia có kinh
nghiệm và được thực hiện theo một kế hoạch cụ thể nhằm hỗ trợ cho chính
nạn nhân đó và gia đình của nạn nhân. Các hình thức hỗ trợ có thể bao gồm
việc sắp xếp nơi cư trú tạm thời; tư vấn sức khoẻ, tâm sinh lý; hỗ trợ phục hồi
tâm sinh lý; hỗ trợ tiếp tục học tập; đào tạo nghề và tạo công ăn việc làm; tạo
các nghề có thu nhập ổn định cho nạn nhân và gia đình của nạn nhân đó; hỗ
trợ hồi hương; và các hành động tích cực ngăn ngừa và xoá bỏ kỳ thị. Những
nạn nhân trẻ em sau khi trở về với gia đình cần tiếp tục được giám sát và giúp
đỡ để có thể tái hoà nhập dễ dàng, đồng thời gia đình của các em cũng cần
được tiếp tục hỗ trợ để tạo ra một môi trường bảo vệ hiệu quả cho các em.
Đối với những trẻ em không thể có sự chăm sóc của gia đình thì Chính phủ
phải có trách nhiệm chăm sóc các em, đặc biệt là phải tạo ra một môi trường
giống như gia đình cho các em.
Trẻ em đường phố
Công ước quốc tế về quyền trẻ em không đưa ra khái niệm rõ ràng về
trẻ em đường phố. Tuy nhiên, Uỷ ban Liên hiệp quốc về quyền trẻ em khuyến
cáo các quốc gia đang áp dụng các hình thức trừng phạt trẻ em đường phố
theo các quy định về tình trạng vô gia cư và trẻ em đường phố có thể bị cảnh
sát bắt giam. Có rất nhiều đứa trẻ buộc phải sống và làm việc xa gia đình vì
các lý do khác nhau, ví dụ như bị cha mẹ ruột hoặc cha mẹ kế ép buộc, hoặc
có thể các em phải kiếm tiền để hỗ trợ thêm cho gia đình. Chính vì vậy, việc
đưa những đứa trẻ này trở về với gia đình sẽ không phải là mong muốn nhất
21