VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG NHUNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
CHO NGƢỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN
QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG NHUNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
CHO NGƢỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN
QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Võ Khánh Vinh
Thanh Xuân, thành phố Hà Nội ...................................................................... 51
2.4 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo
tại quận Thanh Xuân và nguyên nhân ............................................................. 55
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƢỜI NGHÈO TỪ
THỰC TIỄN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............... 64
3.1 Quan điểm tăng cường thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người
nghèo ............................................................................................................... 64
3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người
nghèo ............................................................................................................... 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trợ giúp pháp lý
TGPL
Quản lý nhà nước
QLNN
Công bằng xã hội
CBXH
Kinh tế - xã hội
KT - XH
hoá, xã hội nhằm khắc phục những tiêu cực vốn có của nền kinh tế thị trường.
Cùng với việc đẩy mạnh cải cách kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Nhà
nước Việt Nam đã thông qua Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói
giảm nghèo, trong đó có chính sách TGPL cho người nghèo và đối tượng
chính sách. Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
734/TTg về việc thành lập tổ chức Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối
tượng chính sách. Từ đó đến nay, trên cơ sở Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006
và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác TGPL đã phát triển cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu, đạt được những kết quả quan trọng.
Thực tiễn tư pháp và bảo đảm quyền con người trên thế giới đã cho
thấy, hoạt động TGPL có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo đảm và hiện
thực hóa các quyền con người. Ở Việt Nam thì điều này rất cần thiết, nhất là
trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
mà người nghèo, đặc biệt là người nghèo ở khu vực đô thị đang ngày càng gia
tăng. Với tính chất là hoạt động bổ trợ tư pháp, TGPL cung cấp dịch vụ pháp
lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng khác theo quy định của pháp
luật, nhằm giúp họ bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao
hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào
việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm CBXH, phòng
ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
1
Trong những năm qua, chính sách TGPL cho người nghèo được triển
khai thực hiện trên khắp các vùng miền của đất nước. Ở mỗi địa phương, việc
thực hiện chính sách có sự điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và tình
hình riêng của địa phương đó. Trong đó, quận Thanh Xuân là một trong
những quận nội thành Hà Nội luôn dẫn đầu trong công tác thực hiện chính
trạng cùng các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về TGPL
trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam;…
Cuốn “Nghiệp vụ tổ chức một số hình thức phổ biến, giáo dục pháp
luật” của tác giả Nguyễn Tất Viễn (chủ biên) đã giới thiệu một số hình thức,
phương pháp kỹ năng chủ yếu thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật: tuyên truyền miệng, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật, phổ biến, giáo dục
pháp luật thông qua sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật, thông qua hoạt động
TGPL và hoạt động tư vấn pháp luật,…
2.2. Công trình nghiên cứu về trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Cuốn “Công tác trợ giúp pháp lý nhà nước cho người nghèo, đối tượng
chính sách thành phố Hà Nội” (Nxb Hà Nội, 2006) của tác giả Trần Thị Quốc
Khánh (chủ biên) đã khái quát về kết quả và phương hướng tổ chức hoạt động
TGPL nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội, tổng hợp các văn bản chỉ đạo
của Trung ương và thành phố Hà Nội về công tác TGPL nhà nước từ năm
2000 – 2005,…
Kỷ yếu Hội thảo “Trợ giúp pháp lý cho người yếu thế” do Viện nghiên
cứu chính sách pháp luật và phát triển phối hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ tại
Việt Nam tổ chức với các bài tham luận tập trung vào phân tích thực trạng
hoạt động TGPL tại Việt Nam, các vấn đề quan trọng, những tồn tại khó khăn
trong hoạt động TGPL, đặc biệt là TGPL cho người yếu thế. Các thành viên
tham gia hội thảo cũng chia sẻ những quan điểm, kinh nghiệm thực tiễn, đặt
ra những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động TGPL.
3
Ngoài ra, vấn đề thực hiện chính sách TGPL cho người nghèo còn được
bàn luận qua các bài bào, tạp chí. Cụ thể: tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải với bài
“Vai trò của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu trong công
tác tuyên truyền thi hành pháp luật” (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 8
Làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách TGPL cho người
nghèo; qua khảo sát, đánh giá thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến việc
thực hiện chính sách TGPL ở quận Thanh Xuân, luận văn đề xuất các giải
pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách TGPL cho người nghèo từ thực
tiễn quận Thanh Xuân, Hà Nội.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, luận văn xác định 3 nhiệm vụ
trọng tâm sau:
Thứ nhất, làm rõ những khái niệm cơ bản liên quan đến thực hiện chính
sách TGPL cho người nghèo; các quan điểm, chính sách của Đảng, quy định
của Nhà nước về thực hiện chính sách TGPL cho người nghèo.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách TGPL cho người
nghèo từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách TGPL cho người nghèo trong thời gian tới từ thực tiễn quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách TGPL cho
người nghèo từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: vấn đề thực hiện chính sách TGPL cho người nghèo ở
khu vực đô thị.
5
- Về không gian: quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: từ năm 2013 – 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo đối
với các địa phương có điều kiện tương đồng như quận Thanh Xuân trong thực
hiện chính sách TGPL cho người nghèo.
- Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về thực hiện chính sách TGPL
cho người nghèo trong điều kiện hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách trợ giúp pháp
lý cho người nghèo
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người
nghèo trên địa bàn quận Thanh Xuân
Chương 3. Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách
trợ giúp pháp lý cho người nghèo từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố
Hà Nội
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƢỜI NGHÈO
1.1. Khái quát về chính sách trợ giúp pháp lý cho ngƣời nghèo
1.1.1. Khái niệm “chính sách trợ giúp pháp lý”
* Chính sách
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được
thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó
tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động
của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên
giúp pháp lý năm 1997 của Bang Queensland (Úc) quy định "TGPL có nghĩa
là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có thu phí nhưng với mức thấp hơn
so với giá trị thực tế của dịch vụ"; nhìn dưới góc độ mục đích của hoạt động
TGPL, pháp luật TGPL của Úc lại định nghĩa "TGPL là sự giúp đỡ cho một
người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như người khác trong việc
tiếp cận pháp luật, tức là tạo ra được sự công bằng khi tiếp cận với pháp
luật"; theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì TGPL là giúp đỡ pháp lý cho
những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện
pháp lý; đạo luật Trợ giúp pháp lý năm 1995 của Singapore thì định nghĩa
"TGPL là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho dịch vụ
pháp lý" [16].
Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp
lý”. Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999), “trợ giúp” được hiểu là “sự giúp đỡ,
bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì đang lúc khó khăn,
lúc cần đến”; “pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách
khái quát thì “pháp lý” là lý luận [32]. Theo từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn
9
ngữ học, “trợ giúp” được hiểu là giúp đỡ [29, 767], “pháp lý” là nguyên lý về
pháp luật [29, 1045]. Từ điển Luật học thì cho rằng, “pháp lý” chỉ những lý
lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng
xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận về pháp luật [27, 606].
Ở Việt Nam, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” chính thức được sử dụng
trong Quyết định 734/TTg ngày 06/09/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc
thành lập tổ chức Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách.
Đồng thời, trong quá trình xây dựng “Luật Trợ giúp pháp lý”, các nhà khoa
học đã đưa ra một số khái niệm về “trợ giúp pháp lý” theo hai nghĩa, nghĩa
rộng và nghĩa hẹp như sau:
Trong đề tài “Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương
Theo tác giả Trần Huy Liệu thì “TGPL là việc giúp đỡ pháp lý (tư vấn
pháp luật, hòa giải, đại diện, bào chữa, kiến nghị) miễn phí của Nhà nước và
xã hội cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật
nhằm giải toả vướng mắc pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật để họ tự mình
biết cách ứng xử phù hợp với pháp luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình”[19]. Theo tác giả, khái niệm này mang tính khoa
học, khái quát cao, thể hiện bản chất và đặc điểm của TGPL.
Như vậy, TGPL được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
cho người được TGPL theo quy định của Nhà nước, giúp người được TGPL
giải đáp các vướng mắc về pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình; nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật;
góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm
CBXH, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Người được
TGPL là người nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn, người
tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa và người dân tộc thiểu số thường trú ở
vùng có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn [4].
11
* Chính sách trợ giúp pháp lý
Nghiên cứu dưới góc độ chính sách công và từ định nghĩa “chính sách”
và “trợ giúp pháp lý”, có thể định nghĩa “chính sách trợ giúp pháp lý” như
sau: “Chính sách TGPL là toàn bộ các chương trình hành động của Nhà
nước bao gồm thực hiện, tổ chức thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí cho
người nghèo, đối tượng chính sách và khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và luật
sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt
động TGPL”. TGPL là trách nhiệm của Nhà nước và Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo trong việc chỉ đạo và thực hiện chính sách này.
1.1.2. Lịch sử hình thành chính sách trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
2006, quyền tiếp cận TGPL được nêu trong các công ước quốc tế về quyền
con người mà Việt Nam là thành viên một lần nữa đã được nội luật hoá và
được bảo đảm tương đối đầy đủ trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Kể từ đó đến nay, các địa phương đã tổ chức quán triệt các quan điểm
của Đảng về TGPL và ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác TGPL. Việc
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý cho
việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL từ Trung ương đến địa phương và triển
khai hoạt động TGPL có hiệu quả, tạo nên cơ chế đưa chủ trương, chính sách
xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo CBXH của Đảng và Nhà nước
đi vào cuộc sống, đáp ứng kịp thời nhu cầu cần được giúp đỡ pháp luật của
người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số được các ngành,
các cấp đồng tình ủng hộ và đông đảo quần chúng nhân dân hoan nghênh.
1.1.3. Vai trò của chính sách trợ giúp pháp lý
TGPL là một phần quan trọng trong chính sách giảm nghèo của nhà
nước bởi các lý do sau:
13
Thứ nhất, chính sách TGPL là công cụ để nhà nước thực hiện nghĩa vụ
đối với công dân của mình.
Nhà nước ban hành pháp luật, buộc người dân phải tuân theo, do vậy
nhà nước cũng phải bảo đảm để pháp luật bảo vệ được quyền lợi của nhân
dân. Nếu không đảm bảo được quyền lợi của dân thì sẽ làm mất sự tin tưởng
của họ đối với pháp luật và đó sẽ là nguy cơ lớn đối với khả năng thực thi
pháp luật. TGPL là cần thiết đối với việc củng cố pháp luật, với việc xây dựng
nhà nước pháp quyền và có tầm quan trọng như một bộ phận không thể tách
rời của việc thực thi công lý và cũng cần thiết như một bộ phận không thể
thiếu trong quá trình xét xử. Để có được trật tự xã hội trong nhà nước pháp
quyền thì chính sách TGPL là một công cụ quan trọng và không thể thiếu.
triển kinh tế, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.
Ngoài ra, TGPL là một yếu tố quan trọng trong hệ thống tư pháp hình
sự, hỗ trợ tích cực cho công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bảo đảm giải quyết vụ án khách quan,
công bằng, đúng pháp luật, góp phần thực hiện cải cách tư pháp theo chủ
trương của Đảng đã đề ra trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020,
góp phần tạo niềm tin cho xã hội trong hoạt động tố tụng hình sự.
1.2. Đặc điểm, vai trò và nội dung thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý
1.2.1. Đặc điểm của thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý
Thứ nhất, đối tượng được TGPL là người yếu thế trong xã hội bao
gồm: người nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn; người
tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở
vùng có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn, nạn nhân theo quy định của
pháp luật phòng, chống mua bán người.
Tại Việt Nam, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và
15
Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 Nghị định Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý quy định như sau:
- Người nghèo được TGPL là người thuộc chuẩn nghèo theo quy định
của pháp luật;
- Người có công với cách mạng được TGPL bao gồm: Người hoạt động
cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh
hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương
binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động
kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt
hưởng.
Với mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng, hỗ trợ
pháp lý cho nhóm yếu thế trong xã hội, nhóm không đủ khả năng chi trả cho
các dịch vụ pháp lý, Nhà nước là đơn vị cung cấp dịch vụ miễn phí cho hoạt
động này. Đây là một đặc điểm nổi bật của chính sách, vừa mang tính nhân
đạo, lại mang tính bình đẳng cao, đảm bảo sự CBXH cho công dân, đồng thời
cũng phù hợp với các công ước quốc tế cũng như các chính sách TGPL của
các nước trên thế giới.
1.2.2. Vai trò của thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trong việc
giảm nghèo đô thị
Với việc gia tăng nghèo đô thị như hiện nay, TGPL đóng vai trò không
nhỏ trong việc giảm nghèo đô thị.
Một là, thực hiện TGPL cho người nghèo giúp rút ngắn khoảng cách
phân hóa giàu nghèo trong tiếp cận dịch vụ xã hội ở khu vực đô thị.
Với sự phát triển KT - XH chóng mặt ở đô thị như hiện nay, sự phân
hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ở đô thị ngày càng rõ rệt. Khoảng
17
cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp
cận với các điều kiện về giáo dục, y tế, văn hoá… và đặc biệt là tiếp cận với
các dịch vụ pháp lý. Người nghèo đô thị thường không có điều kiện về kinh tế
để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều trường
hợp không được TVPL hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình khi bị xâm hại. Vì vậy, TGPL giúp người nghèo đô thị
giảm sự yếu thế trong tố tụng,…
Hai là, thực hiện TGPL giúp tăng hiểu biết pháp luật cho người nghèo,
góp phần giảm thiểu các vụ việc ở khu vực đô thị.
Trong điều kiện hệ thống pháp luật của nước ta đang trong quá trình
phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều, thường
tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức CT - XH, tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi
chung là tổ chức tư vấn pháp luật). Cụ thể:
Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thực hiện
TGPL là đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài
liệu về vụ việc TGPL; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi
thực hiện TGPL; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về TGPL; giải quyết
khiếu nại theo quy định tại Khoản 1, Điều 49 của Luật Trợ giúp pháp lý; giải
quyết tranh chấp trong TGPL; kiến nghị về những vấn đề liên quan đến thi
hành pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp
luật khi tham gia TGPL là thực hiện TGPL theo Giấy đăng ký tham gia TGPL;
đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ
việc TGPL; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện
TGPL; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về TGPL; giải quyết tranh chấp trong
TGPL; kiến nghị về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật.
19
Về phạm vi thực hiện TGPL, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước ở
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện TGPL trong phạm vi sau
đây: người được TGPL đang cư trú tại địa phương, vụ việc TGPL xảy ra tại
địa phương, vụ việc TGPL do tổ chức thực hiện TGPL lý khác chuyển đến;
Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL trong
phạm vi đăng ký.
Về các hình thức TGPL, có 4 hình thức như sau:
- Tư vấn pháp luật: Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, luật sư, tư vấn
viên pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật cho người được TGPL bằng việc
hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn
thảo văn bản liên quan đến vụ việc TGPL.