chính sách trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số lý luận và thực tiễn - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA: 2011-2015

ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Võ Duy Nam
Bộ Môn: Luật Hành Chính

Sinh viên thực hiện:
Châu Văn Lỷ
MSSV: 5115993
Lớp: Luật Hành Chính
Khóa: 37

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô Khoa Luật –
Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt những nền tảng kiến thức quý báu góp
phần để người viết hoàn thành luận văn này. Và hơn hết, người viết xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Thầy Võ Duy Nam, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ người viết
trong suốt quá trình làm luận văn. Bên cạnh đó, người viết cũng xin cảm ơn các tác giả
của những bài viết, giáo trình, sách, báo, tạp chí chuyên ngành mà người viết đã sử dụng

1.6. Cơ sở lý luận về dân tộc thiểu số và trợ giúp pháp lý cho người dân tộc
thiểu số ................................................................................................................. 9
1.6.1. Khái niệm về dân tộc, dân tộc thiểu số ...................................................... 9
1.6.2. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam và quan điểm chính sách dân tộc của
Đảng, Nhà nước ta hiện nay .................................................................... 10
1.6.3. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số ........................................... 13
1.7. Vai trò của trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số ............................. 16
1.7.1. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số có vai trò nhằm nâng cao ý
thức pháp luật cho người dân tộc thiểu số ............................................... 16
1.7.2. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số có vai trò trong việc thực
hiện tốt chính sách ................................................................................... 16
1.7.3. Trợ giúp pháp lý góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người
dân tộc thiểu số ........................................................................................ 17
1.7.4. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số góp phần quan trọng trong
công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước. ................................................................ 17


1.7.5. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số góp phần cải cách hành
chính, cải cách tư pháp nước ta hiện nay ................................................. 18
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY .................. 20
2.1. Những quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý ................................... 20
2.1.1. Chủ thể thực hiện và đối tượng trợ giúp pháp lý ................................... 20
2.1.1.1. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý ................................................. 20
a. Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý .................................................. 20
b. Người thực hiện trợ giúp pháp lý .......................................................... 20
c. Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý ..................... 22
2.1.1.2. Đối tượng trợ giúp pháp lý ............................................................. 23


2.3.1. Thực trạng trợ giúp pháp lý tại tỉnh Bình Định ......................................... 37
2.3.1.1.

Tình hình hoạt động trợ giúp pháp lý ......................................... 37

2.3.1.2.

Công tác tổ chức cán bộ và cơ sở vật chất, trang thiết bị ........... 38

a. Về tổ chức, cán bộ ................................................................................... 38
b. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị ............................................................... 38
2.3.2. Thực trạng trợ giúp pháp lý tại tỉnh Hậu Giang ........................................ 39
2.3.3. Thực trạng trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Hà Nam.............................. 39
2.4.

Đánh giá thực trạng công tác trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số
trong thời gian qua ....................................................................................... 40

2.4.1. Đánh giá chung ......................................................................................... 40
2.4.2. Thuận lợi, khó khăn, hạn chế của công tác trợ giúp pháp lý .................... 40
2.4.2.1.

Thuận lợi .................................................................................... 41

2.4.2.2.

Khó khăn, hạn chế ...................................................................... 44

2.4.3. Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của công tác trợ giúp pháp lý ........... 47

3.3.2. Vận dụng phù hợp và linh hoạt các hình thức trợ giúp pháp lý .............. 59
3.3.3. Tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
trong việc trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số ........................... 59
3.3.4. Tăng cường nguồn tài chính phục vụ trợ giúp pháp lý ............................ 59
3.3.5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc trợ giúp pháp lý cho người
dân tộc thiểu số ........................................................................................ 60
3.3.6. Tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với việc trợ giúp pháp lý ...... 61
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 62


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, thường làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng,
các khu vực, các nhóm xã hội. Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất
bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện về giáo dục, y tế, văn hóa... và đặc biệt là
tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Do vậy, tổ chức pháp lý nhà nước ra đời đã tạo cơ hội và
những điều kiện cần thiết để người nghèo, người dân tộc thiểu số, người có công với cách
mạng có điều kiện hoàn cảnh tương tự như người khác trong việc tiếp cận với các dịch vụ
pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật, thực hiện công tác đền
ơn, đáp nghĩa và góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Xuất phát từ những ý nghĩa trên và yêu cầu thực tiễn của cuộc sống, Hội nghị lần
thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã đề ra yêu cầu phải thiết lập hệ thống
các tổ chức giúp đỡ pháp lý miễn phí dành cho người nghèo, các gia đình chính sách và
đồng bào dân tộc thiểu số. Để triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 06/9/1997
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-TTg về việc thành lập tổ chức
trợ giúp pháp lý (TGPL) miễn phí trên toàn quốc.
Ngày 29 tháng 6 năm 2006 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật

4. Phạm vi nguyên cứu
Đề tài tập trung nguyên cứu hoạt động ban hành văn bản trợ giúp pháp lý, công
tác trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số, tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp
lý và tổ chức bộ máy trợ giúp pháp lý ở nước ta hiện nay.
5. Phương pháp tiến hành nguyên cứu
Thông qua việc thống kê các số liệu, phân tích, tổng hợp các tài liệu thu nhập
được trên Internet, sách, báo, tạp chí, các báo cáo của Cục trợ giúp pháp lý nhà nước,
cũng như tham khảo ý kiến chuyên gia, tác giả từng bước giải quyết các nhiệm vụ nhằm
đạt được mục đích của luận văn đặt ra.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận
văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 - Cơ sở lý luận về trợ giúp pháp lý và trợ giúp pháp lý cho người dân
tộc thiểu số của nước ta hiện nay
Chương 2 – Những quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và thực trạng trợ
giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Chương 3 - Quan điểm và giải pháp trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số ở
nước ta hiện nay

GVHD: Ths. Võ Duy Nam

2

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI DÂN TỘC

3

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

pháp lý đều lấy lý luận về dân chủ, nhân quyền làm nền tảng, họ đánh giá TGPL là một
đảm bảo cho công dân có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện tiếp cận và sử dụng
pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo quy định của
pháp luật. Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau về khái niệm TGPL, nhưng các khái niệm
này đều thể hiện rõ 4 nội dung trợ giúp cơ bản, đó là: pháp lý, kinh tế, xã hội và nhân đạo.
Về kinh tế, giúp đỡ tất cả hoặc một phần tài chính chi trả cho công dân có hoàn cảnh khó
khăn khi tiếp cận với pháp luật và dịch vụ pháp lý thu phí của Luật sư; về pháp lý, giúp
đỡ công dân giải quyết các vụ liên quan đến pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích thiết
thực của họ; tạo ra sự công bằng khi công dân có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với pháp
luật; về xã hội, hoạt động TGPL mang tính chất xã hội rộng rãi, thể hiện cụ thể là luôn có
sự tham gia đông đảo của các lực lượng trong xã hội trong việc phổ biến pháp luật, tạo
điều kiện cho người nghèo không ngừng nâng cao nhận thức về pháp luật; về nhân đạo,
TGPL đã thể hiện đậm nét tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc.
Trên cơ sở nguyên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạt động TGPL
của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay và thực tiễn hoạt động TGPL ở
Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa ra những quan niệm chung về TGPL
một cách đầy đủ, thể hiện những đặc trưng cơ bản của nó. Ở Việt Nam, thuật ngữ “Trợ
giúp pháp lý” chính thức được quy định trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của
Thủ Tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối
tượng chính sách. Theo đó thuật ngữ “ Trợ giúp pháp lý” xuất hiện phổ biến trên các văn
bản pháp luật, sách báo và tạp chí. Trong quá trình xây dựng “Luật trợ giúp pháp lý” các
nhà khoa học nguyên cứu về TGPL trên cơ sở tham khảo khái niệm “trợ giúp pháp lý”
của một số nước trên thế giới và các quan niệm về “trợ giúp pháp lý” ở Việt Nam để đưa

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý.
Ngoài những nguyên tắc chung nói trên, khi thực hiện tư vấn pháp luật, người tư
vấn cũng cần tuân thủ các nguyên tắc cụ thể dưới đây:
Một là, nguyên tắc pháp chế. Theo đó, nội dung tư vấn phải phù hợp với pháp luật
và đạo đức xã hội.
Hai là, nguyên tắc kịp thời. Người thực hiện tư vấn phải đưa ra ý kiến một cách
kịp thời trong thời hạn luật định, nhất là đối với vụ việc có quy định thời hiệu khởi kiện
hoặc khiếu nại để người được trợ giúp pháp lý lự chọn, quyết định cách cư xử phù hợp
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Ba là, nguyên tắc cụ thể. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đưa ra lời khuyên phải
cụ thể, rõ ràng để người được tư vấn dễ dàng tiếp thu và thực hiện theo hướng dẫn của
người tư vấn.
Bốn là, nguyên tắc khả thi. Nội dung tư vấn phải có tính khả thi; phù hợp từng
loại đối tượng cụ thể và người được tư vấn có thể thực hiện được.
1.3. Các hành vi bị nghiêm cấm trong trợ giúp pháp lý
Luật Trợ giúp pháp lý nghiêm cấm tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực
hiện trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:
- Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ
giúp pháp lý; phân biệt đối xử với người được trợ giúp pháp lý;
- Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được trợ giúp
pháp lý; sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý;
1

Điều 4 Luật Trợ giúp pháp lý 2006

GVHD: Ths. Võ Duy Nam

5

SVTH: Châu Văn Lỷ

quyền tiếp cận tư pháp (hay quyền tiếp cận công lý). Nội hàm của nó là những yêu sách
chính đáng của cá nhân hoặc nhóm người nhất định về việc được tiếp cận hệ thống dịch
vụ và tư vấn pháp lý miễn phí dựa trên quy định của pháp luật.
Quyền được TGPL được ghi nhận đầy đủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Điều
50 của Hiến pháp năm 1992 khẳng định ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các
quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được tôn trọng và bảo đảm.
Quyền tiếp cận tư pháp nói chung và tiếp cận TGPL nói riêng được quy định tại một số
2

Điều 9 Luật Trợ giúp pháp lý 2006

GVHD: Ths. Võ Duy Nam

6

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính
trị năm 1966, công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và công ước
quốc tế về quyền trẻ em.
Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2003, chương IV về người tham gia tố tụng
có những quy định về bảo đảm quyền được TGPL của công dân. Chẳng hạn, khoản 2
Điều 57 của Bộ luật TTHS quy định quyền được có người bào chữa; Điều 62 nhấn mạnh
rằng cơ quan, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này. Đặc biệt, Bộ
luật TTHS có quy định về việc các cơ quan tố tụng cần phải bảo đảm quyền được TGPL
cho những đối tượng cụ thể, như người bị khởi tố, xét xử về tội theo khung hình phạt có

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

1.5. Lịch sử hình thành và phát triển trợ giúp pháp lý trên thế giới và ở Việt
Nam
Vào giai đoạn cuối của nền Cộng hòa thứ IV trước công nguyên tại Hy Lạp, xuất
phát từ quyền và lợi ích của những người bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng
phạt một cách độc đoán đã có một số người đứng ra biện hộ nhằm minh oan cho người
thân hoặc bạn bè. Ở La Mã cổ đại vào thời kỳ năm 150 trước công nguyên đến năm 150
sau công nguyên, cũng đã xuất hiện một đội ngũ những người diễn giải pháp luật và hoạt
động thường xuyên, họ không được phép nhận tiền thù lao, tiền công của những người mà
họ giúp đỡ. Họ có thể nhận được các khoản thưởng nhưng tuyệt đối không được đề nghị
trả thù lao. Đây cũng chính là những tiền đề đầu tiên của hoạt động TGPL. Tuy nhiên,
hoạt động TGPL trở thành một quy định của nhà nước đầu tiên cách đây khoản 500 năm
tại Anh. Ngay từ thế kỷ XIV, pháp luật Anh quốc đã quy định: “Cần dành cho người
nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho”. Năm 1495, vua
Henry VII trong một nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: “Chính nghĩa cần
được dành cho người nghèo và những người thực hiện quyền tự do họ đươc hưởng điều
đó không có gì thay thế được”. Tuy nhiên, sau các cuộc cách mạng tư sản và phong trào
dân quyền phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây và Hoa kỳ vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX đã thúc đẩy sự ra đời của hệ thống TGPL cho người nghèo, những người
không có khả năng để trả tiền công cho luật sư. Hoạt động TGPL ngày càng phát triển
mạnh mẽ ở nhiều mặt khác nhau và được ban hành thành luật cụ thể.
Ở Việt Nam, để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và
từng chính sách phát triển, thực hiện nguyên tắc Hiến định “mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật”, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về kinh tế,
văn hóa, xã hội nhằm khắc phục những tiêu cực vốn có của nền kinh tế thị trường. Cùng
với việc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thay đổi hệ thống chính trị, xây

Ngày 29/6/2006, bước tiến lịch sử trong hoạt động lập pháp trong lĩnh vực TGPL
là Quốc hội đã thông qua luật TGPL nâng tầm thể chế từ Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ. Sự ra đời của Đạo luật này đã thể hiện nhất quán chính sách của Đảng và Nhà
nước trong việc giúp đỡ pháp luật, hỗ trợ về mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân đặc biệt là đối tượng yếu thế trong xã hội. Đó là mốc son rực rỡ đánh
dấu bước chuyển về chất, đưa công tác TGPL lên một tầm cao mới phù hợp với yêu cầu
phát triển của thực tiễn đất nước và xu thế thời đại.
1.6. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
CHO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.6.1. Khái niệm về dân tộc, dân tộc thiểu số
Dân tộc là sản phẩm của một quá trình lâu dài của xã hội loài người. Trước khi
xuất hiện, loài người trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: Thị tộc, bộ lạc,
bộ tộc. Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó
có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
Một là, dân tộc chỉ cộng đồng người có mối quan hệ chặt chẽ và bền vững, có
sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ
lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận của quốc gia – quốc gia nhiều dân tộc.
Hai là, dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có
lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất
của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống, văn hóa và truyền
thống đấu tranh chung suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa
này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc.
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc của Chính phủ ngày 14
tháng 01 năm 2011 thì đưa ra khái niệm như sau:
GVHD: Ths. Võ Duy Nam

9

SVTH: Châu Văn Lỷ


nước, giữ nước, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất. Xuất phát từ hoàn cảnh xã
hội, điều kiện kinh tế và nhu cầu chống ngoại xâm hình thành sớm trong lịch sử dân tộc,
các dân tộc ở nước ta sớm đoàn kết, chung lưng đấu cật, tạo dựng non sông gấm vóc, đấu
tranh giữ gìn nền độc lập dân tộc… Đồng bào vùng biên cương luôn là “phiên dậu” của
TS. Phan Trung Hiền, Lâm Bá Khánh Toàn, Võ Nguyễn Nam Trung, Tài liệu hướng dẫn học tập Luật Hành Chính
3, khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, 2012.
5

GVHD: Ths. Võ Duy Nam

10

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

đất nước. Từ khi có Đảng, truyền thống yêu nước đó được tập hợp phát huy tạo thành sức
mạnh trong thời đại mới tiếp tục làm vẻ vang truyền thống đoàn kết, yêu nước lâu đời của
dân tộc ta.
Thứ hai, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên địa bàn
rộng lớn, đặc biệt là miền núi, và biên giới, hải đảo. Hình thái cư trú xen kẽ là một đặc
điểm nổi trội trong lịch sử cũng như hiện tại trong đời sống của cộng đồng các dân tộc
Viêt Nam. Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước hình thái cư trú xen kẽ ngày càng
phát triển giữa các dân tộc thiểu số với thiểu số, thiểu số với đa số. Đó là xu thế khách
quan tạo nên môi trường cho sự giao lưu văn hóa, hòa hợp và hiểu biết lẫn nhau giữa các
dân tộc nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, phát triển kinh tế và đoàn kết dân tộc. Tuy
nhiên nếu không chú ý đúng mức đến sự bình đẳng tương trợ, đến lợi ích dân tộc . . . Thì
chính sự cư trú xen kẽ trên cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn dân tộc.
Thứ ba, các dân tộc Việt Nam có quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế xã

nàn, lạc hậu; thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; thực
hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc; phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống
ấm no hạnh phúc.
+ Thực hiện chính sách dân tộc là nghiên cứu, thấm nhuần và vận dụng chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể, nhiệm vụ của cách
mạng Việt Nam trong từng thời kỳ sao cho phù hợp như: Nắm thực trạng tình hình dân
tộc từng vùng, từng địa phương; nắm tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc; hiểu
biết về phong tục tập quán , điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội của đồng bào các dân
tộc sinh sống; đề xuất, thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung chính sách dân tộc; tổ chức bộ
máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương sao cho hiệu quả.
+ Thực hiện chính sách dân tộc là quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của
Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, các chương trình của Chính phủ vì sự phát triển của đồng
bào các dân tộc.
+ Chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay chủ yếu là ban hành và thực hiện chính
sách phát triển kinh tế, chính sách xã hội kết hợp với an ninh quốc phòng. Để thực hiện
chính sách dân tộc theo nội dung trên cần quán triệt quan điểm phương pháp luận trong
một quy trình: Nắm thực trạng để thấy được nhu cầu, và từ đó rút ra được bản chất, yêu
cầu của vấn đề, để hoạch định nội dung chính sách dân tộc và vai trò chi phối của chính
sách dân tộc, đồng thời cũng thấy được tính phức tạp, lâu dài… của chính sách dân tộc.
- Các nguyên tắc cơ bản được quán triệt và xuyên suốt tạo nên tính ổn định và
góp phần làm nên thành tựu vĩ đại của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh chống
ngoại xâm giành lại hoà bình, thống nhất đất nước và đang từng bước thu được những
thành quả quan trọng trên con đường đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Bình đẳng giữa các dân tộc: Bình đẳng giữa các dân tộc là có thái độ khách
quan thái độ chính trị đúng đắn của giai cấp cầm quyền ở một quốc gia đa dân tộc, trong
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với các dân tộc. Đây là luận điểm quan trọng về dân
tộc của học thuyết Macxit - Lênin được Đảng ta quán triệt và vận dụng trong việc giải
quyết vấn đề dân tộc. Bình đẳng về dân tộc là thực hiện quyền ngang nhau của mọi dân
tộc không phân biệt đa số hay thiểu số; da trắng hay da vàng, da đen; trình độ phát triển
cao hay thấp. Bình đẳng về dân tộc là thực hiện quyền ngang nhau của mọi thành phần

điều kiện các thành phần dân tộc người ở nước ta vừa nhiều, vừa phát triển rất không
đồng điều trên nhiều phương diện, với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác
nhau. Từ những lý do đó, các dân tộc ở nước ta có những trình độ kinh tế - xã hội khác
nhau, cư trú sinh sống có nơi thuận lợi, có nơi lại rất nhiều khó khăn .... Sự đấu tranh
giành độc lập dân tộc để xây dựng đất nước không chỉ hao người tốn của mà còn là
nguyên nhân thường xuyên và quan trọng kéo chậm nhịp độ phát triển của quốc gia và
các dân tộc người... Các nguyên nhân lịch sử, kinh tế - xã hội, . . . Là điều kiện tạo nên
truyền thống tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ
nước.
1.6.3. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số
Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số là quá trình hoạt động có mục
đích của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các chủ thể khác nhằm đưa pháp luật về trợ
giúp pháp lý đi vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số với mục đích giúp đỡ họ
miễn phí trong việc tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, ... để giải
quyết theo yêu cầu của họ những vướng mắc về mặt pháp lý mà họ gặp phải nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người dân tộc thiểu số.
a. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý cho người tộc thiểu số
GVHD: Ths. Võ Duy Nam

13

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý:
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước
- Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý:
+ Tổ chức hành nghề Luật sư


GVHD: Ths. Võ Duy Nam

14

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

pháp của mình, đồng thời giúp hành vi ứng xử theo khuôn khổ pháp luật và phù hợp với
quy tắc đạo đức.
+ Tham gia tố tụng: là việc Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia tố tụng hình
sự để bào chữa cho người dân tộc thiểu số là người bị giam giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo
vệ quyền lợi của người dân tộc thiểu số là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
tố tụng hình sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong
vụ việc dân sự, vụ án hành chính.
+ Đại diện ngoài tố tụng: Khi người dân tộc thiểu số không biết chữ, không biết
tiếng phổ thông, bị hạn chế về thể chất hoặc tâm thần, không có đủ khả năng liên hệ hoặc
làm việc với cơ quan chức năng; bị bệnh nặng đang trong thời gian điều trị, họ đã làm hết
khả năng nhưng vụ việc không được giải quyết. Trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên
luật sư sẽ đại diện cho đối tượng này để liên hệ, làm việc với các cơ quan, tổ chức có liên
quan nhằm giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ.
+ Hình thức trợ giúp pháp lý khác gồm:
Trong trường hợp người dân tộc thiểu số không tự mình thực hiện được các công
việc có liên quan đến thủ tục hành chính thì Trung tâm, Chi nhánh cử Trợ giúp viên pháp
lý hoặc luật sư là cộng tác viên giúp đỡ họ thực hiên. Cung cấp thông tin pháp luật, tờ
gấp, sách bỏ túi, cẩm nang pháp luật, các ấn phẩm, tài liệu pháp luật khác.
- Tổ chức sinh hoạt các tổ hòa giải để giải quyết tranh chấp trong cộng đồng dân
cư; phổ biến, giáo dục và truyền thông pháp luật; tổ chức lớp bồi dưỡng luật buổi tối; in

SỐ
1.7.1. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số có vai trò nhằm nâng cao
ý thức pháp luật cho người dân tộc thiểu số
Do đặc điểm địa lí và xã hội nên đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở
vùng sâu, vùng cao biên giới còn hạn chế, tình trạng vi phạm về: Tảo hôn, sinh con thứ
ba, du canh, du cư, chặt phá rừng, tái trồng cây thuốc phiện, buôn bán, vận chuyển trái
phép chất ma túy… vẫn còn xảy ra. Nguyên nhân do phong tuc, tập quán lạc hậu, mê tín
dị đoan, nhất là trình độ nhận thức về pháp luật còn hạn chế, nhiều người không biết
tiếng, chữ viết phổ thông nên chưa đọc, học và chưa hiểu luật...dẫn đến ý thức tự giác
chấp hành pháp luật của một số bộ phận nhân dân chưa nghiêm. Chính vì vậy, tập trung
tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số góp phần
nâng cao trình độ dân trí pháp lý và ý thức pháp luật để cho nhân dân mình tự biết cách
ứng xử phù hợp với các quy định của pháp luật, thực hiện pháp luật, tự mình sử dụng
pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình. Trên cơ sở đó góp phần
làm lành mạnh quan hệ xã hội, xây dựng nếp sống văn minh “sống và làm việc theo Hiến
Pháp và pháp luật”.
1.7.2. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số có vai trò trong việc thực
hiện tốt chính sách
Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội,
thực hiện nguyên tắc Hiến định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, Đảng và
Nhà nước ta đã đề ra chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm khắc phục
những tiêu cực vốn có của nền kinh tế thị trường. Cùng với việc đổi mới kinh tế, Đảng và
Nhà nước ta chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nhằm “thực hiên tốt dân chủ xã
Điều 3, Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BTP-UBND ngày 17 tháng 01 năm 2012 của Bộ Tư pháp – Uỷ ban
dân tộc, hướng dẫn thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số
8

GVHD: Ths. Võ Duy Nam


đình, phụ nữ bị buôn bán,…
1.7.4. Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số góp phần quan trọng
trong công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng và Nhà nước.
“Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”, “ Chương trình
hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo”, ... của Chính phủ là
những chương trình hành động thực hiện định hướng tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm
nghèo, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Để phục
vụ cho mục đích chung của chiến lược là “tạo môi trường tăng trưởng nhanh, bền vững và
xóa đói giảm nghèo”, công tác trợ giúp pháp lý được coi là một trong những chính sách
Chiến lược trong đó xác định: “Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tăng cường trợ giúp pháp
GVHD: Ths. Võ Duy Nam

17

SVTH: Châu Văn Lỷ


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

lý và khả năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo, người dân tộc thiểu số. Mở rộng mạng
lưới trợ giúp pháp luật để người nghèo, người dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế khó
khăn có thể tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp pháp luật”. Đồng thời, Tổ chức và hoạt động
TGPL cho người được TGPL góp phần còn thực hiện một số chính sách hỗ trợ các dịch
vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, TGPL để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc
Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào tộc và
miền núi. Theo đó, Tổ chức và hoạt động TGPL sẽ hỗ trợ về TGPL, nâng cao nhận thức
pháp luật cho người nghèo và người dân tộc thiểu số: Hỗ trợ một số hoạt động tổ chức
sinh hoạt câu lạc bộ TGPL tại xã; tổ chức TGPL lưu động tại xã, thôn, bản đặc biệt khó
khăn; cung cấp thông tin pháp luật miễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu


Đề tài: Chính sách Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số - Lý luận và thực tiễn

cơ chế hữu hiệu thực thi nguyên tắc bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật không
phân biệt vị thế xã hội. Nó còn đóng vai trò là người hướng dẫn pháp luật cho người
nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm cho người được TGPL đều được tiếp cận, sử
dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo ra điều kiện để
công lý và công bằng xã hội được thực thi, thúc đẩy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
cho người dân biết quyền và nghĩa vụ của họ theo pháp luật TGPL... đó là bảo đảm quyền
bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, mà trước hết là quyền bào chữa và nhờ
người khác bào chữa cho mình thông qua tổ chức TGPL. Chính vì vậy, hoạt động TGPL
cho người nghèo và đối tượng chính sách đã có những đóng góp quan trọng cho công
cuộc cải cách tư pháp.
Thông qua tổ chức và hoạt động TGPL cho người dân tộc thiểu số sẽ giúp cho
họ hiểu hơn các trình tự, thủ tục hành chính cần thiết, tránh đi lại nhiều lần, tốn kém tiền
bạc và công sức. Những vụ việc liên quan đến pháp lý của người dân tộc thiểu số được
những người thực hiện TGPL tư vấn, đại diện, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giải quyết vụ việc nhanh chóng, đúng pháp luật, góp phần rất lớn vào công cuộc cải
cách hành chính ở nước ta hiện nay. Đồng thời, tổ chức và hoạt động TGPL còn làm cầu
nối giúp chính quyền các cấp tháo gỡ, khắc phục những vướng mắc và tạo ra diễn đàn đối
thoại giữa chính quyền với dân. Ngoài ra tổ chức và hoạt động TGPL còn giúp cho các cơ
quan tiến hành tố tụng, các cơ quan Nhà nước giải quyết công việc một cách chính xác,
khách quan, công bằng và đúng pháp luật, góp phần tích cực thực hiện cải cách tư pháp,
mở rộng điều kiện để thực hiện nguyên tắc tranh tụng trước tòa, bảo đảm cho người dân
tộc thiểu số không có điều kiện thuê luật sư cũng có luật sư (với tư cách cộng tác viên)
hoặc Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ, bào chữa miễn phí quyền và lợi ích hợp pháp cho họ
trước cơ quan tố tụng.

GVHD: Ths. Võ Duy Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status