VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TUẤN ANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS.BÙI NHẬT QUANG
HÀ NỘI, 2020
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thấu hiểu sâu sắc lời Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”
và “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, trong tiến trình lãnh đạo
cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác cán bộ, xây dựng,
đào tạo đội ngũ cán bộ có đức có tài, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ
thật trung thành của nhân dân.
Con đường đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là trong bối cảnh đất nước đổi mới
và hội nhập quốc tế đang rất cần một đội ngũ cán bộ không chỉ nhiều về số lượng
mà còn phải mạnh về chất lượng. Hơn lúc nào hết, năng lực lãnh đạo (chỉ đạo; tổ
chức thực hiện); nhân cách (phẩm chất đạo đức; năng lực, trí tuệ; phong cách;
lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, cán bộ công chức? Với những lý
do trên Học viên đã lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng
cán bộ công chức tại huyện Ba Vì huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” làm đề tài
cho Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành chính sách công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi trọng xây dựng
và phát triển độ ngũ CBCC, coi đây là nguồn lực quan trọng để phát triển đất
nước. Do vậy, chính sách ĐTBDCBCC cũng luôn luôn được quan tâm. Và cũng
chính vì vậy việc nghiên cứu về chính sách này cũng không phải là vấn đề mới.
Ở thời điểm tác giả nghiên cứu đề tài đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu
liên quan đến vấn đề này, cụ thể:Năm 2007 có nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Thế Quyền về “Kinh nghiệm của một số nước về ĐTBD công chức nhà nước”
được đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước số 132/2007 [29]; Tác giả Nguyễn quốc
Triệu nghiên cứu “Công tác ĐTBD cán bộ công chức ở Hà Nội – thực trạng và
giải pháp” được đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 314+315/2007 [39];
Tác giả Phạm Đức Toàn nghiên cứu “Một số vấn đề về công tác ĐTBD cán bộ
công chức” đăng trên Tạp chí Lao động xã hội số 322/2007 [37]; Năm 2009 có
nghiên cứu của tác giả Lê Quang về “ĐTBDCBCC ở một số
2
nước trên thế giới” được đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số 11/2009 [27];
Năm 2013, tác giả Lưu Kiếm Thanh đã có nghiên cứu “Vai trò của Chính phủ
trong ĐTBD đội ngũ CBCC”đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 206/2013
[30]; Năm 2015, tác giả Trần Đình Thắng đã có nghiên cứu được đăng trên Tạp
chí Lịch sử Đảng số 9/2015 với tiêu đề “Thể chế hóa chủ trương của Đảng và
ĐTBDCBCC nhà nước – Một số bài học và kinh nghiệm”[31].
Với các nghiên cứu trên, các tác giả đã có đề cập đến nội dung
ĐTBDCBCC. Qua đó, các tác giả nói lên được tầm quan trọng của công tác
cụ thể của chính sách và còn manh mún. Chưa có một nghiên cứu nào mang tính
tổng quát và hoàn thiện đối với đề tài mà tác giả sẽ nghiên cứu. Hơn nữa, với
việc nghiên cứu tại thực tiễn địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội thì đây là
một đề tài hoàn toàn mới. Chính vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài này
cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành chính sách công của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng đến cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực
hiện chính sách ĐTBDCBCC. Tác giả nghiên cứu thực tiễn thực hiện trên địa
bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, ở đó tác giả đưa ra, phân tích và đánh giá
việc thực hiện chính sách từ đó có những nhìn nhận về thành tựu cũng như
những hạn chế, khó khăn và bất cập trong quá trình thực hiện chính sách. Sau
cùng tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện thực hiện chính sách
ĐTBDCBCC.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả tập trung tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và đánh
giá vào các vấn đề sau:
i) Chủ trương, đường lối, các chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước
liên quan đến ĐTBD, CBCC; những vấn đề lý luận về CBCC và thực hiện chính
sách ĐTBDCBCC; Kinh nghiệm của một số nước về chính sách ĐTBDCBCC;
ii) Thực tiễn việc thực hiện chính sách ĐTBDCBCC ở huyện Ba Vì.
Thông qua đó, tác giả có những đánh giá, phân tích những mặt đã đạt được và
những khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện chính sách, đồng thời rút ra
4
những nguyên nhân của những bất cập và khó khăn, từ đó có được một số giải pháp
để hoàn thiện việc thực hiện chính sách;
Với các vấn đề nghiên cứu kể trên, tác giả đi sâu nghiên cứu, phân tích và
tác giả kết hợp sử dụng để hoàn thiện luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Dưới góc độ lý luận, những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đề cập
một cách có hệ thống, chi tiết tổng quan nhất về mặt lý luận về thực hiện chính
sách ĐTBDCBCC; Đưa ra những đánh giá, nhận định về tính hợp lý, logic, tính
khả thi của các quy định chính sách này và nêu quan điểm về hướng sửa đổi, bổ
sung nhằm hoàn thiện việc thực hiện chính sách.Dưới góc độ thực tiễn, luận văn
cung cấp một số vấn đề về tình hình thực hiện chính sách ĐTBDCBCC tại địa
bàn huyện Ba Vì. Từ đó chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình vận
dụng và gợi mở những kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện.
Đồng thời, luận văn cũng là một nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình
học tập và nghiên cứu đối với những đề tài về ĐTBD.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về việc thực hiện chính sách đào tạo bồi
dưỡng cán bộ,công chức;
Chương 2:Thực tiễn thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ công
chức trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;
Chương 3: Quan điểm của Đảng, Nhà nước và giải pháp hoàn thiện việc
thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ,công chức.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức
thành tổng thể vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng của cán bộ [38, tr. 203].
Những quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh là do Người đúc rút từ thực
tiễn. Chính bản thân Người, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình,
luôn chăm lo tới xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng. Hồ Chí Minh đã cảm nhận
trực tiếp, từ cả thành công và chưa thành công, từ các giai đoạn khó khăn của
cuộc cách mạng Việt Nam để thấm thía về vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của
cán bộ cách mạng.
Hiện nay, khái niệm cán bộ công chức đã được luật hóa. Cụ thể theo quy
định tại Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 thì:Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
8
9
làm việc của họ. Đây chính là việc tổ chức những cơ hội cho cán bộ công chức
học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường
năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là CBCC
làm việc trong tổ chức. Với quan niệm như vậy thì ĐTBD cán, bộ công chức
nhằm tới các mục đích sau:
Một là, ĐTBD giúp CBCC luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu
cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức.
Hai là,ĐTBD giúp phát triển năng lực làm việc và nâng cao khả năng
thực hiện công việc thực tế của cán bộ công chức.
Ba là, ĐTBD giúp giảm thời gian làm quen/học tập với công việc mới của
CBCC do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy
đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm.
ĐTBDCBCC là thực hiện nhiệm vụ lấp đầy khoảng trống giữa một bên là
những điều đã đạt được, đã có trong hiện tại với một bên là những yêu cầu cho
những thứ cần ở tương lai, những thứ mà cần phải có theo chuẩn mực. Đây là
một nhiệm vụ quan trọng. Nó không chỉ nâng cao năng lực công tác cho CBCC
hiện tại mà chính là đáp ứng các yêu cầu về nhân lực trong tương lai.
Thực tế cho thấy đào tạo thường có thời gian dài, trang bị những kiến thức
cơ bản và toàn diện. Còn bồi dưỡng thường theo những khóa ngắn hạn, hướng
vào nâng cao năng lực cá nhân để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ cụ thể,
mang tính cập nhật và hoàn thiện kiến thức. Việc phân biệt đào tạo và bồi dưỡng
chỉ mang tính tương đối.
1.1.3. Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ
thể chính sách thành hiện thực tới các đối tượng quản lý, nhằm đạt được mục
gắn liền với bản thân quy trình ĐTBD cán bộ (các chính sách đạo tạo; chương
trình, nội dung đào tạo; năng năng lực trình độ người thực thi chính sách…)
Thực hiện chính sách công nói chung cũng như thực hiện chính sách về
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức nói riêng là một quá trình khá phức tạp và
phải tuân theo một quy trình với nhiều bước. Xây dựng kế hoạch, đây là bước
đầu tiên trong quy trình thực hiện chính sách; Tiếp đó là phổ biến, tuyên truyền
thực hiện chính sách; Bước tiếp theo là phân công, phối hợp trong thực hiện
11
chính sách; Sau nữa là duy trì, đôn đốc, theo dõi và điều chỉnh việc thực hiện
chính sách. Cuối cùng là thực hiện tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm thực
hiện chính sách.
Giống như việc thực hiện một chính sách công bất kỳ, trong quá trình thực
hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng luôn luôn tồn tại
những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách, đó là:
Thứ nhất, chính sách, chủ trương về đào tạo. Đào tạo hay không và đào tạo
khi nào là xuất phát từ quan điểm, chủ trương của các cấp quản lý CBCC trên cơ sở
phân tích yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ CBCC.Các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến công tác ĐTBD cán bộ
công chức. Chúng có thể tạo ra các cơ hội, cũng có thể gây ra trở ngại, thậm chí là
rủi ro cho những cơ sở đào tạo. Sự nhất quán về quan điểm chính sách, sự ổn định
về chính trị, sẽ tạo điều kiện cho công tác ĐTBD được diễn ra một cách suôn sẻ.
Các chính sách ưu tiên động viên, khuyến khích sẽ thúc đẩy hoạt động ĐTBDvà
cũng thúc đẩy CBCC tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn và
năng lực công tác. Chính sách ĐTBDCBCC là một nội dung lớn trong chương trình
Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020, tác động trực tiếp đến đội ngũ
CBCC và tác động gián tiếp đến kết quả, hiệu quả hoạt động của nền hành chính.
Thấy được tính chất quan trọng của chính sách ĐTBDCBCC nên trong quá trình tổ
đối tượng khác. Cụ thể, trong chính sách ĐTBDCBCC tiềm lực thuộc về đối
tượng thụ hưởng chính sách - đội ngũ CBCC, tiềm lực kinh tế của đối tượng thụ
hưởng chính sách và các đối tác hỗ trợ thực hiện chính sách ĐTBD quyết định
mức độ tham gia vào quá trình thực hiện chính sách của CBCC. Trong trường
hợp vì lí do kinh tế mà đội ngũ CBCC - đối tượng thụ hưởng chính sách, không
thể tiếp cận được với các mục tiêu của chính sách thì coi như chính sách đó thất
bại. Bên cạnh đó, các đối tác không nhiệt tình tham gia thì mục tiêu chính sách
cũng không đạt được. Tiềm lực của đội ngũ CBCC hiện nay có nhiều thuận lợi
hơn trong việc thực hiện chính sách này.
Thứ năm,đặc tính của đối tượng thực hiện chính sách ĐTBDCBCC:
Những tính chất mang tính đặc trưng mà đối tượng thực hiện có được từ đặc tính
cố hữu hay do môi trường sống tạo nên. Đội ngũ CBCC hiện nay đa phần là
những người có năng lực, trình độ, có tinh thần trách nhiệm, kỉ luật, lòng quyết
tâm trong công việc. Vì vậy, khá nhanh nhạy trong tiếp nhận các chính sách
13
mới và nhanh chóng thực hiện chính sách ĐTBD một cách có hiệu quả, đây
được xem là những thuận lợi trong thực hiện chính sách ĐTBDCBCC ở nước ta
hiện nay.
Thứ sáu, mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện
chính sách ĐTBDCBCC: là yêu cầu mang tính quan trọng hàng đầu, việc tuân
thủ đầy đủ các bước có vai trò quan trọng bởi mối liên hệ tương tác giữa các
bước đến hiệu quả của chính sách. Thực tế cho thấy hiệu quả công tác
ĐTBDCBCC ở nước ta hiện nay một phần kém hiệu quả do tuân thủ các bước
trong tổ chức thực hiện đặc biệt là trong phổ biến tuyên truyền, lập kế hoạch,
phân công phối hợp của của các cấp chưa được đầy đủ dẫn đến hiệu quả của
chính sách chưa được như mong muốn.
Thứ bảy, năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ CBCC: Hiệu quả, kết
hiện chính sách dù trong quá trình tổ chức thực hiện có những tác động dễ làm
thay đổi mục tiêu. Trong chính sách ĐTBDCBCC có các mục tiêu nhỏ khác
nhau ứng với chúng là các chương trình, dự án cụ thể, tổng hợp kết quả thực
hiện mục tiêu của các chương trình, kế hoạch và các hoạt động thực hiện khác
thành mục tiêu chung của chính sách. Muốn thực hiện được mục tiêu của chính
sách ĐTBDCBCC cần phải xác định được mục tiêu của từng chính sách, chính
sách đào tạo, chính sách bồi dưỡng thật cụ thể và rõ ràng.
1.3.2.Đảm bảo tính hệ thống
Trong chu trình chính sách, quá trình tổ chức thực hiện chính sách là một
bộ phận đơn lẻ, do đó phải có sự liên kết hữu cơ với các bộ phận khác trong chu
trình để tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Đồng thời, ngay trong tổ chức thực
hiện chính sách ĐTBD cũng bao gồm nhiều bước, vì vậy cần phải đảm bảo tính
hệ thống trong mỗi quá trình. Bao gồm tính hệ thống trong các cơ quan thực
hiện chính sách; trong điều hành phối hợp thực hiện; trong sử dụng các công cụ
chính sách; trong hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách. Vì vậy, nếu
không có sự thống nhất, hệ thống trong tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD sẽ
nảy sinh nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách
ĐTBDCBCC.
15
1.3.3 Đảm bảo yêu cầu khoa học và pháp lý trong tổ chức thực hiện
Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về
hoạt động ĐTBD phải tinh gọn, đáp ứng đủ năng lực tổ chức thực hiện chính
sách ĐTBDCBCC theo quy trình một cách khoa học. Cụ thể, tính khoa học
trong tổ chức thực hiện chính sách thể hiện ở chỗ phải có sự phối hợp đồng bộ
giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong tổ chức thực hiện chính sách. Đồng thời,
phải căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phương để chọn lựa hình thức tổ
chức thực hiện một cách phù hợp nhất tránh tình trạng áp dụng một cách dập
Đan Phượng là huyện đầu tiên của thành phố Hà Nội được công nhận đạt
chuẩn nông thôn mới (NTM). Phát huy kết quả đạt được, huyện Đan Phượng
đang tập trung xây dựng NTM đi vào chiều sâu, tiếp tục khẳng định là lá cờ đầu
trong xây dựng NTM nâng cao. Với công tác cán bộ trong đó công tác ĐTBD
đội ngũ cán bộ công chức rất được quan tâm và dần hoàn thiện. Huyện đã thực
hiện đột phá trong công tác ĐTBD trên các mặt về công tác xây dựng kế hoạch,
tổ chức, chất lượng và đánh giá hiệu quả ĐTBD, ĐTBD theo hướng chiến lược,
đón đầu hướng tới mục tiêu đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển và phấn đấu trở
thành quận của thành phố Hà Nội. Có chính sách thu hút và phát huy nguồn
nhân lực có trình độ chuyên môn sâu về quản lý nhà nước ở các lĩnh vực. Xác
định phạm vi, nhu cầu, lĩnh vực bồi dưỡng, đào tạo để làm căn cứ xây dựng
chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu công việc và thực hiện tốt nhiệm vụ được
giao của người học.
Huyện đã từng bước chuẩn hóa trình độ CBCC mạnh dạn đưa ra các chỉ
tiêu phấn đấu: 100% đội ngũ CBCC là lãnh đạo, quản lý đạt trình độ trung cấp lý
luận chính trị (LLCT) trở lên, đạt tiêu chuẩn đối với từng loại chức danh, từng
ngạch; 100% công chức, viên chức các cơ quan hành chính phải đạt trình độ
chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm; có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản
lý nhà nước theo ngạch; ngoại ngữ, tin học theo tiêu chuẩn quy định. Đối với
công chức từ ngạch chuyên viên và tương đương trở lên có trình độ trung cấp
LLCT trở lên; 100% cán bộ chủ chốt cơ sở có trình độ đại học hoặc đang học đại
học, trung cấp LLCT trở lên. Thành phố chủ động xây dựng nội dung, chương
trình đáp ứng yêu cầu thực tế, linh hoạt, hiệu quả, tránh trùng lắp; chú trọng
ĐTBD kỹ năng, tăng thực hành, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm xử lý
17
tình huống; cơ sở đào tạo phải đáp ứng các yêu cầu về ĐTBD; đội ngũ giảng
viên, phải đảm bảo về tiêu chuẩn, mức thu nhập để thu hút giảng viên giỏi về
hình công tác ĐTBD. Thông qua thống kê địa phương có thể xác định được nhu
cầu cần ĐTBD, từ đó chủ động xây dựng kế hoạch ĐTBD cụ thể theo từng năm,
từng nhiệm kỳ. Trên cơ sở quy hoạch cán bộ và căn cứ vào nhu cầu thực tiễn của
từng cơ quan, đơn vị, UBND huyện cần xây dựng kế hoạch ĐTBDCBCC cụ thể,
phù hợp với từng chức danh, ngạch, bậc khác nhau; quan tâm đào tạo cán bộ nữ,
cán bộ trẻ tuổi, cán bộ là người dân tộc thiểu số; quan tâm đào tạo sau đại học để
có đội ngũ CBCC chất lượng cao.
Thứ hai,nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của hoạt động ĐTBD đối với
nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC trong trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị
quản lý và sử dụng CBCC nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả của hoạt động
ĐTBD. Nâng cao nhận thức về trách nhiệm học tập, học tập suốt đời, nỗ lực
phấn đấu nâng cao năng lực làm việc, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ
CBCC; cần có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích CBCC tham gia ĐTBD nâng cao
trình độ để đáp ứng yêu cầu theo quy định.
Thứ ba, coi trọng kết hợp đổi mới nội dung với đổi mới phương pháp,
phương thức ĐTBD cán bộ công chức.ĐTBD đội ngũ CBCC có trình độ, năng
lực theo yêu càu xây dựng và hoạt động công vụ của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, cần coi trọng việc xác định rõ chương trình, nội dung có tính toàn
diện, đồng bộ, được cân đối giữa các phần kiến thức về khoa học xã hội, lý luận,
chuyên ngành, quản lý nhà nước, pháp luật, kỹ thuật nghiệp vụ, tin học, ngoại
ngữ; tri thức về năng lực tư duy khoa học, kiến thức cơ bản về khoa học tổ chức,
quản lý nhà nước và kỹ năng hoạt động thực tiễn. Coi trọng kiến thức, kinh
nghiệm thực tiễn đảm bảo nguyên tắc ĐTBD gắn lý luận với thực tiễn, phục vụ
thực tiễn, tăng cường các tình huống quản lý và phát huy tính độc lập, sáng tạo
của người học.
Phương pháp, phương thức ĐTBD được gắn chặt chẽ với đổi mới nội
dung. Đổi mới theo hướng “tinh giản lý thuyết”, tăng tính chất thực hành, thực
tập, thực tiễn, chính xác hóa khoa học, năng lực thực thi công vụ.
Coi trọng công tác kiểm tra, đánh giá, quản lý chặt chẽ kết quả ĐTBD.
trương, chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Chính phủ, Đảng
hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Trong bất kỳ thời kỳ nào, giai đoạn nào của
sự nghiệp cách mạng, CBCC cũng là vấn đề nổi lên hàng đầu và giữ một vị trí
hết sức trọng yếu. Do vậy, công tác cán bộ giữ vị trí hàng đầu trong công tác xây
dựng Đảng. Làm tốt công tác này là vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài,
vừa là vấn đề có tính cấp thiết. Nó chẳng những có ý nghĩa quyết định đối với
công tác xây dựng Đảng và việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn có
ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cuộc đấu tranh cách mạng.
Tại Chương 1 của Luận văn, học viên đã hệ thống những vấn đề lý luận về
CBCC, chính sách ĐTBDCBCC và thực hiện chính sách ĐTBD cán bộ công
chức; nêu ra những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến thực hiện chính sách
ĐTBDCBCC, các yêu cầu trong việc thực hiện chính sách. Đồng thời đưa ra một
số kinh nghiệm và bài học rút ra khi thực hiện chính sách ĐTBDCBCC. Tất cả
những vấn đề tại Chương 1 có ý nghĩa rất quan trọng để tiếp tục đi đến các nội
dung tiếp theo của Luận văn.
21
Chương 2
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát về huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.1.1. Vị trí địa lý
Ba Vì là huyện cửa ngõ phía Tây Bắc của Hà Nội, địa giới hành chính của
huyện được xác định: Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp
huyện Thạch Thất, phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc),
ranh giới là sông Hồng, phía Tây giáp các huyện Tam Nông và Thanh Thủy (tỉnh
Phú phương, Châu Sơn, Đông Quang, Thụy An, Sơn Đà, Ba Trại, Phú Sơn, Thái
Hòa, Chu Minh, Phú Cường, Minh Châu, Minh Quang, Tòng Bạt và Vạn Thắng)
đạt hơn 63% tổng số xã. Năm 2020 phấn đấu thực hiện hoàn thành thêm 04 xã
nâng tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 23/30 xã, đạt 76,7%, đạt chỉ tiêu Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2016-2020 đề ra [52].
Nhìn chung, các mặt kinh tế xã hội của huyện Ba Vì đã có đổi thay rõ rệt,
nhân dân rất vui mừng phấn khởi. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông
thôn phát triển nhanh, nổi bật nhất là hệ thống đường giao thông, trường học, các
thiết chế văn hóa - thể thao tạo ra diện mạo mới cho khu vực nông thôn của
huyện.
2.2. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức tại
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Nhìn lại hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng huyện Ba Vì –
thành phố Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các mặt: Kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh; Đời sống nhân dân trong huyện
cơ bản ổn định, phát triển; Hệ thống điện, đường, trường, trạm ngày càng được
đầu tư có hiệu quả; Phong trào xây dựng nông thôn mới, xây dựng thôn, xóm, xã
văn hóa ngày càng được mở rộng… Từ đó, tạo cơ sở nền tảng quan trọng để
Đảng bộ huyện lãnh đạo nhân dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã
hội.
23
Những năm qua cùng với việc quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của
Đảng về đổi mới công tác cán bộ các cấp, Đảng bộ huyện Ba Vì đã tiến hành sắp
xếp lại tổ chức cho gọn nhẹ, giảm bớt đầu mối trung gian, huyện đã thay đổi, bố
trí hàng loạt cán bộ để đáp ứng với yêu cầu của cơ chế quản lý mới trong điều
kiện kinh tế thị trường. Bên cạnh những cán bộ lâu năm, vững vàng về chính trị,
đã chú ý đào tạo và sử dụng những cán bộ có tư duy mới, năng động, tháo vát,