Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện núi thành, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG QUANG TRÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG QUANG TRÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trương Thị Như Yến


Họ và tên

Lương Quang Trúc


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ ............................................... 9
1.1. Về thực hiện chính sách công ............................................................................ 9
1.2. Về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã .......... 17
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dường cán
bộ, công chức cấp xã. .............................................................................................. 30
1.4. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã.............................................................................................................. 34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊ BÀN HUYỆN NÚI
THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY ...................................................... 37
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam. ......................................................................................... 37
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam ......................................................................................................................... 40
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ..................................................................... 46
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH
QUẢNG NAM ....................................................................................................... 63
3.1. Quan điểm, mục tiêu, phương hướng hoàn thiện công tác thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ......................................................... 63

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

ĐT, BD

Đào tạo, bồi dưỡng

CT-XH

Chính trị, xã hội

KT-XH

Kinh tế xã hội

KCN

Khu Công nghiệp

VHXH

Văn hóa xã hội

THCS

Trung học cơ sở


đến người dân, không ít cán bộ chưa nắm chắc, hiểu sâu vấn đề, chưa giải đáp
được những thắc mắc, yêu cầu của người dân; một số cán bộ bị suy thoái về đạo
đức, lối sống…đang gây bất bình trong nhân dân, làm giảm uy tín của tổ chức
đảng chính quyền, giảm vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành của bộ máy.
Trong những năm gần đây, huyện ủy Núi Thành đã ban hành các Nghị
quyết, các Đề án, chuyên đề về công tác cán bộ; tăng cường đầu tư hơn nữa cho
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã,

1


nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác, chất lượng và
hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, hướng tới mục tiêu là nhằm thay đổi về
chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn, đủ trình độ và năng lực thi hành công
vụ, phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước. Cụ thể là Nghị quyết số
03-NQ-HU, ngày 01/12/2016 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
huyện Núi Thành giai đoạn 2016 - 2020 và đến 2025. Đề án số 03-ĐA/HU, ngày
01/11/2016 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy giai
đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo; Đề án số 01-ĐA/HU, ngày 16/5/2016 về
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2016-2020.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của
huyện Núi Thành còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Không ít cấp ủy đảng chưa
thực sự coi trọng, thiếu quan tâm đến công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức cấp xã còn
hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được đầu tư và quan đúng mức, chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng chưa cao, chưa sát với thực tiễn, chưa có tầm nhìn nhìn
lâu dài. Khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, nâng cao hiệu quả thực hiện
các chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là những vấn đề cấp thiết đặt ra cho các
cấp ủy Đảng ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề và yêu cầu nâng cao chất lượng đội

- Nguyễn Thị Khởi (2014), Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, huyện
Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị,[33] Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Học
viện Hành chính. Luận văn này đã tập trung vào nội dung: xác định nhu cầu, nội
dung chương trình, phương pháp đào tạo, chế độ hỗ trợ và đánh giá sau đào tạo; đề
xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Các luận văn trên có những đóng góp về mặt lý luận sâu sắc trong nghiên
cứu về chất lượng và nâng cao chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, cán bộ diện Ban Thường
vụ huyện ủy, Tỉnh ủy quản lý nói riêng ở các địa phương khác nhau. Từ việc
nghiên cứu và kế thừa các công trình đi trước, tác giả đi sâu làm rõ công tác bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Quảng Nam, là tỉnh mà đội ngũ cán bộ cấp xã
có đặc trưng là tỉnh miền núi biên giới và vừa có đường bờ biển dài
2.2.2. Các bài viết trên tạp chí
- Hoàng Hữu Nghị, “Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức ở Thành phố Đà Nẵng”[45].

4


- Ngô Thành Can (Bộ Nội vụ), Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 5/2008 [5].
-Nguyễn Thị La (Học viện Hành chính quốc gia), Đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính, Tạp chí Cộng sản, số tháng 9
năm 2015 [35].
- Nguyễn Thị Hồng Hiệp, “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ
sở (xã, thị trấn) của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”[32].
Cho đến nay, tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam chưa có công trình
nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
nhằm giúp cho các nhà quản lý hệ thống hóa và đưa ra chính sách đào tạo, bồi

CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng việc thực chính sách đào tạo, bồi dưỡng
CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến
năm 2019 và đề xuất các giải pháp, tầm nhìn đến năm 2030.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối và chủ trương của Đảng, những chính sách pháp luật
của Nhà nước về phân tích, đánh giá và triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức; đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã.
Bên cạnh đó, luận văn còn mang tính kế thừa một số công trình khoa học
của tác giả đi trước về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã, phường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp thu thập nguồn số liệu từ phòng Nội vụ
huyện Núi Thành về quá trình triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ công chức trên địa bàn huyện.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và điều tra xã hội học. Qua đó phân tích,
đánh giá đúng thực trạng công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành; đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra
các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành trong thời gian đến.

6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn khái quát được cơ sở lý luận về chính sách công và thực hiện
chính sách công, làm sáng tỏ nội dung, quan niệm, vai trò, nguyên tắc thực hiện

Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam.

8


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Về thực hiện chính sách công
1.1.1. Quan niệm thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là quá trình biến chí của chủ thể chính sách trở
thành hiện thực, nhằm mục đích là đưa chính sách vào trong thực tiễn cuộc sống.
Thực trạng việc thực hiện chính sách công ở nước ta đã đạt được những thành
công rất lớn, song bên cạnh đó vẫn còn một số hạn cần phải xem xét. Chính vì
vậy, việc nghiên cứu vấn đề về thực hiện chính sách công có ý nghĩa vô cùng to
lớn trong thời kỳ hiện nay.
Thực hiện chính sách là là quá trình biến các ý đồ của chủ thể thành hiện
thực, triển khai chính sách vào trong thực tiễn của cuộc sống. Đây là một khâu đặc
biệt quan trọng vì nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của một chính
sách. Trong quá trình thực hiện chính sách, sẽ giúp chúng ta thấy được những mặt
mạnh, những mặt hạn chế của chính sách; từ đó có những giải pháp phù hợp để cải
thiện và khắc phục những mặt hạn chế của chính sách, đồng thời đề xuất những
giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện chính sách; Qua đó đưa chính sách vào trong
thực tiễn cuộc sống một cách tốt nhất.
1.1.2. Vai trò thực hiện chính sách công
Chính sách công đang ngày càng trở thành một công cụ quản lý của Nhà
nước ngày càng quan trọng của quốc gia và trên thế giới. Thông qua quá trình thực
hiện chính sách công, nhà nước điều tiết những vấn đề nảy sinh trong đời sống

công. Thực hiện chính sách công cung cấp những bằng chứng thực tiễn về mục
tiêu chính sách công có thích hợp hay không và các giải pháp chính sách công có
thực sự phù hợp với vấn đề mà nó hướng tới giải quyết hay không, về phương diện
lý thuyết, một chính sách công được ban hành đã phải đáp ứng đầy đủ những tiêu
chuẩn của một chính sách công tốt và mới chỉ được thừa nhận bởi các chủ thể ban
hành, nhưng khi triển khai vào thực tiễn đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của
chính sách công mới được khẳng định một cách chắc chắn bởi xã hội và đối tượng
thụ hưởng chính sách công.

10


Thực hiện chính sách công giúp cho chính sách công ngày càng hoàn thiện
hơn. Chính sách công được ban hành ban đầu hay chính sách cơ sở thường chỉ
mang tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết vấn đề công. Chính
sách công này sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể
trong quá trình thực thi của các cơ quan nhà nước các cấp. Trong quá trình triển
khai thực hiện chính sách công sẽ điều chỉnh kịp thời những nội dung cho phù hợp
với thực tế, đồng thời qua đó làm cơ sở để triển khai thực hiện các chính sách
khác.
1.1.3. Mục tiêu thực hiện chính sách công
Theo nguyên lý triết học, xung quanh chúng ta là các dạng vật chất tồn tại
khách quan với những chức năng nhất định. Chức năng là tập hợp những hoạt
động có mục đích gắn liền với sự tồn tại và phát triển của thực thể theo yêu cầu xã
hội, hay nói một cách chung nhất, chức năng là lý do tồn tại của các dạng thức vật
chất. Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác
động đến các đối tượng nên cũng được coi như những dạng thức vật chất đặc biệt,
vì vậy chính sách cũng cần phải có những chức năng nhất định để tồn tại. Tổ chức
thực hiện chính sách công là một bước vô cùng quan trọng nhằm để duy trì chính
sách và đưa chính sách đó đạt được những mục tiêu như mong muốn.

người dân; đáp ứng được các yêu cầu mà những người thụ hưởng mong muốn;
giải quyết được các vấn đề bức thiết trong đời sống thực tiễn của xã hội.
Thứ tư, chính sách ngày càng hoàn chỉnh thông qua việc thực thi chính
sách, bởi chính sách công được hoạch định bởi một tập thể, nên không thể tránh
khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan. Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan cũng như tác động của môi trường nên giữa chính sách công và thực
tiễn của đời sống xã hội có những vấn đề cần phải được khắc phục, điều chỉnh và
bổ sung cho phù hợp. Quá trình điều chỉnh, bổ sung sẽ góp phần làm cho chính
sách ngày càng hoàn thiện, đồng thời qua đó làm cơ sở để triển khai thực hiện các
chính sách sau này.
1.1.4. Nguyên tắc thực hiện chính sách công.
Phải đáp ứng được yêu cầu thực hiện mục tiêu: Thực hiện chính sách công
là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng
tham gia nhằm đạt được những mục tiêu trực tiếp.

12


Đảm bảo tính hệ thống: Bao gồm hệ thống mục tiêu và biện pháp của
chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực hiện chính sách công; hệ
thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; hệ thống trong sử dụng công cụ quản lý
khác của nhà nước.Yêu cầu này được đảm bảo trong thực hiện chính sách công sẽ
là cơ sở trực tiếp cho việc đạt mục tiêu đề ra.
Đảm bảo tính pháp lý: Tính pháp lý được thể hiện trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách công là việc chấp hành các chế định, các quy định về thực
hiện chính sách công nhằm đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong chấp hành
chính sách. Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách
công là sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý chính sách, việc thu hút các
nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành nên các dự án để thực
hiện chính sách ở huyện Núi Thành một cách có hiệu quả.

hoạch nêu rõ nội dung, cách thức tổ chức điều hành, các nguồn lực, thời gian triển
khai thực hiện, phương thức kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách công, dự kiến
nội quy, quy chế tổ chức điều hành, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân, tổ chức
tham gia và các biện pháp khen thưởng, kỷ luật. Nhìn chung, các cấp chính quyền
địa phương đều quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách công
một cách cụ thể. Các kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công đều có sự tham
gia của các sở, ban, ngành và được Chủ tịch UBND ký phê duyệt. Điều này tạo cơ
cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện chính sách công. Tuy nhiên, một số địa
phương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công còn đơn giản,
thiếu chặt chẽ, không quy định cụ thể nhiệm vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân trong việc triển khai thực hiện chính sách công. Trong kế hoạch, có trường
hợp không quy định các nguồn lực để thể hiện chính sách, dẫn đến việc tổ chức
thực hiện gặp khó khăn và hiệu quả không cao
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách công: Sau khi bản kế hoạch triển khai
thực hiện được thông qua, các cơ quan Nhà nước tiến hành triển khai tổ chức thực
hiện theo kế hoạch. Vấn đề đầu tiên là phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận
động nhân dân tham gia thực hiện chính sách công, nó có ý nghĩa vô cùng quan
trong trong quá trinhg triển khai thực hiện chính sách. Qua đó giúp người dân hiểu
được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của chính sách. Đồng thời còn giúp cho

14


mỗi cán bộ, công chức luôn có tinh thần trách nhiệm trong quá trình triển khai tổ
chức công việc được giao.
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công: Chính sách công được
thực thi trên phạm vi rất rộng lớn, chính vì thế số lượng tham gia thực thi chính
sách là rất lớn. Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách,
nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của Nhà nước. Các hoạt động thực
hiện mục tiêu chính sách công rất rộng lớn và vô cùng phức tạp. Do đó, muốn tổ

của chính sách, đồng thời để có sự tập trung cao cho những vấn đề quan trọng
trong quá trình thực hiện hiện chính sách. Để từ đó, các cá nhân, tổ chức phải có
trách nhiệm kiểm tra quá trình thực hiện nhằm giúp cho chính sách đạt được hiệu
quả mong muốn.
Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực thi chính sách công vừa
kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách công, vừa chấn chỉnh công tác thực thi
chính sách công, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện hiện mục
tiêu chính sách.
- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm: Tổ chức thực thi chính sách công
phải được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách. Đây được hiểu là
quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các
đối tượng thực hiện chính sách công.
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi
chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Bên cạnh đó, còn
xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội
trong quá trình tham gia thực hiện chính sách công. Cơ sở để đánh giá, tổng kết
công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công trong các cơ quan nhà nước là
kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế. Bên cạnh đó, còn có sự kết hợp sử
dụng các văn bản có liên quan giữa các cơ quan Nhà nước trong quá trình triển
khai thực hiện. Bên cạnh đó, còn xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chính sách
của các đối tượng tham gia, từ đó đưa ra các cơ chế, biện pháp hợp lý để tiến hành
thực hiện tốt các mục tiêu chính sách trong từng điều kiện cụ thể.

16


1.2. Về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp

1.2.1. Các khái niệm liên quan
1.2.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã

nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của pháp luật.” [48, Điều 4]
Như vậy, Công chức được hiểu là những người tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong tổ chức (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội, trong Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng); trong Công an nhân dân (mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong đơn vị sự nghiệp công lập. Ở
Việt Nam, cán bộ và công chức phải là công dân Việt Nam, trong biên chế và
được hưởng lương từ ngân sách nhà nước (hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập). Cán bộ và công chức được phân định rõ gắn với cơ
chế hình thành. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước [48, Điều 4].
1.2.1.2. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó
lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo... một cách có hệ thống để
chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân
công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và
phát triển nền văn minh của loài người.
Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến thức cho các đối tượng học tập,
đây là một quá trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy học
cụ thể trong khoảng thời gian nhất định. Qua đó, giúp cho người học tiếp thu được
những kiến thức cơ bản nhất định trong quá trình truyền đạt.
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm

18

chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện bảo đảm theo quy hoạch và yêu cầu phát

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status