Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện núi thành, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG QUANG TRÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG QUANG TRÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trương Thị Như Yến



Lương Quang Trúc


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LY LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ ...............................................9
1.1. Về thực hiện chính sách công ............................................................................9
1.2. Về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ..........17
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dường cán
bộ,

công

chức

cấp

xã.

..............................................................................................30
1.4. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã..............................................................................................................34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊ BÀN HUYỆN NÚI
THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY ......................................................37
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam..........................................................................................37
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng

Quản lý nhà nước

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

UBMTTQVN

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

ĐT, BD

Đào tạo, bồi dưỡng

CT-XH

Chính trị, xã hội

KT-XH

Kinh tế xã hội


xã của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có nhiều thay đổi cả về chất lượng và
cơ cấu. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng
được yêu cầu công việc trong tình hình mới. Hiện nay, huyện Núi Thành đã hoàn
thành đề án "Tạo nguồn cho cán bộ cấp xã", thông qua đề án này, cán bộ cấp xã
ngày càng được trẻ hóa, năng động, có trình độ chuyên môn khá cao, tiếp cận
nhanh khoa học công nghệ để áp dụng vào trong thực tế công tác ở cơ sở.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam vẫn còn tồn tại một số yếu kém như: chênh lệch về trình độ giữa cán
bộ vùng đồng bằng và miền núi, năng lực cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, trình độ lý luận chính trị của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình
trạng lúng túng trong xử lý công việc, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu ky năng
trong xử lý các tình huống thực tiễn đặt ra. Trong giải quyết công việc liên quan
đến người dân, không ít cán bộ chưa nắm chắc, hiểu sâu vấn đề, chưa giải đáp
được những thắc mắc, yêu cầu của người dân; một số cán bộ bị suy thoái về đạo
đức, lối sống…đang gây bất bình trong nhân dân, làm giảm uy tín của tổ chức
đảng chính quyền, giảm vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành của bộ máy.
Trong những năm gần đây, huyện ủy Núi Thành đã ban hành các Nghị
quyết, các Đề án, chuyên đề về công tác cán bộ; tăng cường đầu tư hơn nữa cho
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã,

1


nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác, chất lượng và
hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, hướng tới mục tiêu là nhằm thay đổi về
chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn, đủ trình độ và năng lực thi hành công
vụ, phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước. Cụ thể là Nghị quyết số
03-NQ-HU, ngày 01/12/2016 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
huyện Núi Thành giai đoạn 2016 - 2020 và đến 2025. Đề án số 03-ĐA/HU, ngày
01/11/2016 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy giai

quyền; quy trình thiết kế chính sách công; chính sách công Hoa Kỳ giai đoạn 1935
- 2000; quy trình thiết kế chính sách trong thực tế.
- "Giáo trình Đại cương về Chính sách công” của tác giả Nguyễn Hữu Hải ,
Lê Văn Đính, Đinh Trung Thành [22]; đã trình bày những vấn đề chung nhất về
chính sách công như: quá trình phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò, và
phân loại chính sách công; cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; nguyên
tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công; yêu
cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực thi chính sách công; nội dung đánh
giá chính sách công. Qua đó góp phần hoàn thiện công tác hoạch định và thực thi
chính sách công và vận dụng vào trong thực tiễn công tác.
- "Đại cương về phân tích chính sách công" của tác giả Nguyễn Hữu Hải,
Lê Văn Hòa [23]; đã cung cấp những kiến thức đại cương về phân tích chính sách
công như: khái quát về phân tích chính sách công, đặc trưng của phân tích chính
sách công; tiêu chuẩn nhân sự làm chuyên môn về phân tích chính sách công, quy
trình, nội dung, phương pháp phân tích chính sách công. Qua đó đã vận dụng được
những kiến thức cơ bản vào thực tiễn ở các cơ quan nhà nước, từ đó đưa ra các
phương pháp để phân tích chính sách công ngày càng hiệu quả.
-"Giám sát và đánh giá chính sách công" của Lê Văn Hòa [31] đã trình bày
những vấn đề cơ bản về giám sát và đánh giá thực hiện chính sách công; trong 8
chương thì có 7 chương tác giả bàn sâu về những nội dung đánh giá thực hiện
chính sách công - quan niệm, tác động, đo lường, phương pháp và tổ chức đánh giá.
2.2. Nhóm các công trình liên quan đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước ta
2.2.1. Các đề tài khoa học, luận án, luận văn
-Nguyễn Phước Sơn (2015), Đào tạo, bồi dưỡng công chức xã người dân

3


tộc thiểu số trên địa bàn các huyện miền núi, tỉnh Quảng Nam.[57] Luận văn Thạc



- Ngô Thành Can (Bộ Nội vụ), Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 5/2008 [5].
-Nguyễn Thị La (Học viện Hành chính quốc gia), Đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính, Tạp chí Cộng sản, số tháng 9
năm 2015 [35].
- Nguyễn Thị Hồng Hiệp, “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ
sở (xã, thị trấn) của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”[32].
Cho đến nay, tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam chưa có công trình
nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
nhằm giúp cho các nhà quản lý hệ thống hóa và đưa ra chính sách đào tạo, bồi
dưỡng đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ chuyên môn và hội nhập quốc tế. Chính vì thế,
mà việc phân tích, đánh giá công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có ý nghĩa
vô cùng to lớn, là cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện
Núi Thành đủ năng lực, trình độ; đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng
thực hiện chính sách ĐT,BD CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam. Qua đó đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã của huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về thực thi chính sách công, nghiên cứu hệ thống hóa
một số vấn đề về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã.
- Đánh giá thực trạng về việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác

đánh giá đúng thực trạng công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành; đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra
các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành trong thời gian đến.

6


6. Y nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn khái quát được cơ sở lý luận về chính sách công và thực hiện
chính sách công, làm sáng tỏ nội dung, quan niệm, vai trò, nguyên tắc thực hiện
chính sách công và chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã: xây dựng các khái niệm, nhiệm vụ,
vị trí, vai trò, nội dung tổ chức thực hiện chính sách sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã; nhất là hệ thống hóa
những quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã.
- Luận văn phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, trong đó
nêu lên những thành tựu đạt được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục cũng như
phân tích các nguyên nhân hạn chế đến công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị trong
tổng kết thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, làm cơ sở cho việc thực hiện
chính sách của Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của huyện

Thực hiện chính sách là là quá trình biến các ý đồ của chủ thể thành hiện
thực, triển khai chính sách vào trong thực tiễn của cuộc sống. Đây là một khâu đặc
biệt quan trọng vì nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của một chính
sách. Trong quá trình thực hiện chính sách, sẽ giúp chúng ta thấy được những mặt
mạnh, những mặt hạn chế của chính sách; từ đó có những giải pháp phù hợp để cải
thiện và khắc phục những mặt hạn chế của chính sách, đồng thời đề xuất những
giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện chính sách; Qua đó đưa chính sách vào trong
thực tiễn cuộc sống một cách tốt nhất.
1.1.2. Vai trò thực hiện chính sách công
Chính sách công đang ngày càng trở thành một công cụ quản lý của Nhà
nước ngày càng quan trọng của quốc gia và trên thế giới. Thông qua quá trình thực
hiện chính sách công, nhà nước điều tiết những vấn đề nảy sinh trong đời sống
kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu mong muốn, tạo ra môi trường
thuận lợi cho phát triển bền vững.
Thực hiện chính sách công có vai trò định hướng cho hành động của các
chủ thể kinh tế - xã hội trong việc đề ra các biện pháp, các giải pháp. Mục tiêu
chính sách công thể hiện thái độ ứng xử của nhà nước trước một vấn đề công, nên

9


nó thể hiện rõ xu hướng tác động của Nhà nước lên các thực thể xã hội để chúng
vận động phù hợp với những giá trị tương lai mà Nhà nước theo đuổi.
Thực hiện chính sách công giúp chúng ta biến những ý đồ của chính sách
thành hiện thực.
Qua quá trình thực hiện chính sách giúp chúng ta từng bước thực hiện mục
tiêu chính sách và mục tiêu chung.
Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu vô cùng quan trọng và có ý
nghĩa rất lớn đối với một chính sách, vì đây là quá trình hiện thực hóa chính sách
vào trong thực tiễn của cuộc sống. Nếu đưa vào thực hiện một chính sách công tốt

với thực tế, đồng thời qua đó làm cơ sở để triển khai thực hiện các chính sách
khác.
1.1.3. Mục tiêu thực hiện chính sách công
Theo nguyên lý triết học, xung quanh chúng ta là các dạng vật chất tồn tại
khách quan với những chức năng nhất định. Chức năng là tập hợp những hoạt
động có mục đích gắn liền với sự tồn tại và phát triển của thực thể theo yêu cầu xã
hội, hay nói một cách chung nhất, chức năng là lý do tồn tại của các dạng thức vật
chất. Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác
động đến các đối tượng nên cũng được coi như những dạng thức vật chất đặc biệt,
vì vậy chính sách cũng cần phải có những chức năng nhất định để tồn tại. Tổ chức
thực hiện chính sách công là một bước vô cùng quan trọng nhằm để duy trì chính
sách và đưa chính sách đó đạt được những mục tiêu như mong muốn.
Tổ chức thực thi chính sách công là trung tâm kết nối các bước trong chu
trình chính sách công thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. Đây
là khâu vô cùng quan trọng, vì nó cụ thể hóa các nội dung chính sách vào trong
thực tiễn xã hội.
Chính sách tốt phải tiến tới mục tiêu phát triển chung, đối với Việt Nam thì
mục tiêu đó là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” đây là mục
tiêu phù hợp với xu thế chung của thời đại vì mục tiêu chính sách sẽ phản ánh
mong muốn của Nhà nước về những giá trị kinh tế và xã hội, mục tiêu chung và
mục tiêu chính sách luôn có sự gắn bó mật thiết với nhau vì vậy khi hoạch định
chính sách phải đạt được cả hai mục tiêu mới là tốt.
Trên cơ sở nhận thức về vị trí vai trò của thực thi chính sách công trên đây

11


cho thấy hoạt động này có những ý nghĩa to lớn sau đây:
Thứ nhất, trong quản lý, điều hành nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải đối xử với

Đảm bảo tính hệ thống: Bao gồm hệ thống mục tiêu và biện pháp của
chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực hiện chính sách công; hệ
thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; hệ thống trong sử dụng công cụ quản lý
khác của nhà nước.Yêu cầu này được đảm bảo trong thực hiện chính sách công sẽ
là cơ sở trực tiếp cho việc đạt mục tiêu đề ra.
Đảm bảo tính pháp lý: Tính pháp lý được thể hiện trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách công là việc chấp hành các chế định, các quy định về thực
hiện chính sách công nhằm đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong chấp hành
chính sách. Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách
công là sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý chính sách, việc thu hút các
nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành nên các dự án để thực
hiện chính sách ở huyện Núi Thành một cách có hiệu quả.
Đảm bảo lợi ích thật sự cho các đối tượng thụ hưởng: Trong xã hội có rất
nhiều đối tượng thụ hưởng, vì vậy Nhà nước phải là người đứng ra bảo vệ cho các
đối tượng đó bằng chính sách công của mình. Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng
trong quá trình thực hiện chính sách công.
Đảm bảo tính thực tiễn: Quá trình thực hiện chính sách công phải sát với
thực tiễn nhằm để nâng cao hiệu lực, hiệu của chính sách, và trong quá trình xây
dựng chính sách phải đặc biệt chú ý đến các nguồn lực (con người, kinh phí, điều
kiện vật chất, thời gian, công nghệ - ky thuật). Công tác phân công, phối hợp phải
thật sự hợp lý, đảm bảo chu trình và thời gian thực hiện.
Phải đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về
mục đích, nội dung, yêu cầu của chính sách; và luôn quan tâm đến trình độ, năng
lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách.
Phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc quá trình thực hiện chính
sách để phát hiện kịp thời những hạn chế, bất cấp của chính sách để kiến nghị sửa
đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách và rút kinh nghiệm nhằm điều chỉnh kịp thời
việc tổ chức thực hiện chính sách.

13

được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của chính sách. Đồng thời còn giúp cho

14


mỗi cán bộ, công chức luôn có tinh thần trách nhiệm trong quá trình triển khai tổ
chức công việc được giao.
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công: Chính sách công được
thực thi trên phạm vi rất rộng lớn, chính vì thế số lượng tham gia thực thi chính
sách là rất lớn. Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách,
nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của Nhà nước. Các hoạt động thực
hiện mục tiêu chính sách công rất rộng lớn và vô cùng phức tạp. Do đó, muốn tổ
chức thực thi chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa
các cơ quan quản lý, các cấp, các ngành trong quá trình triển khai thực hiện chính
sách. Quá trình phân công phải thật sự hợp lý, đảm bảo đúng quy trình nhằm duy
trì chính sách một cách ổn định và mang lại hiệu quả thiết thực.
- Duy trì chính sách công: Đây là hoạt động nhằm bảo đảm cho chính sách
tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế. Để làm được điều đó
cần có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường
tồn tại.
Nếu trong quá trình thực hiện chính sách công gặp phải những khó khăn do
môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ
quản lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách công. Và qua
đó đề xuất cấp thẩm quyền điều chỉnh chính sách cho hợp lý. Trong điều kiện cần
thiết, các cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng các biện pháp để duy trì chính sách
nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội.
- Điều chỉnh chính sách công: Điều chỉnh chính sách công được thực hiện
bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách công ngày càng phù hợp
với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế.
Cơ quan điều chỉnh, bổ sung chính sách là cơ quan ban hành chính sách.

dụng các văn bản có liên quan giữa các cơ quan Nhà nước trong quá trình triển
khai thực hiện. Bên cạnh đó, còn xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chính sách
của các đối tượng tham gia, từ đó đưa ra các cơ chế, biện pháp hợp lý để tiến hành
thực hiện tốt các mục tiêu chính sách trong từng điều kiện cụ thể.

16


1.2. Về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp

1.2.1. Các khái niệm liên quan
1.2.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
- Cấp xã
Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền địa phương ở xã là cấp
chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã
(điều 2, điều 30, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015) [46]
- Cán bộ cấp xã
Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội(CT-XH) ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi
chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Đề cập đến
cán bộ cấp xã, cũng tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định rõ:
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,
được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban Nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức CT-XH. Như
vậy có thể hiểu, Cán bộ cấp xã là những người được bầu cử, bổ nhiệm vào một
chức danh, giữ một chức vụ trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể của hệ

Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó
lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo... một cách có hệ thống để
chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân
công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và
phát triển nền văn minh của loài người.
Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến thức cho các đối tượng học tập,
đây là một quá trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy học
cụ thể trong khoảng thời gian nhất định. Qua đó, giúp cho người học tiếp thu được
những kiến thức cơ bản nhất định trong quá trình truyền đạt.
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, ky năng làm

18


việc. Là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho đối tượng
học tập, qua đó cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho người học để họ thực thi
công việc được tốt hơn.
Theo Nghị định số 18/2010/ NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào
tạo, bồi dưỡng công chức: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống
những tri thức, ky năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; bồi dưỡng là
hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, ky năng làm việc.
Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đào tạo, bồi dưỡng. Tuy
nhiên, chúng ta có thể hiểu như sau: Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến
thức và kỹ năng cho người học theo từng cấp độ khác nhau nhằm hình thành và
phát triển một cách có hệ thống các tri thức, trình độ, năng lực của con người. Bồi
dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc.
- Đào tạo, bồi dưỡng CBCC
Đào tạo CBCC là việc cử CBCC đi học các khóa đào tạo chuyên nghiệp
trong các cơ sở đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của CBCC.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status