VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DUY TRÁNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLONG,
TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Đăk Lăk, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DUY TRÁNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLONG,
TỈNH ĐĂK NÔNG
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HẢI NINH
Đăk Lăk, năm 2019
tác giả. Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ
ràng của các cơ quan quản lý nhà nước.
Tác giả luận văn
Trần Duy Tráng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC
Cán bộ, công chức
QLNN
Quản lý nhà nước
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐTBD
Đào tạo, bồi dưỡng
UBND
Ủy ban nhân dân
46
giai đoạn 2016 - 2018
03
Bảng: 2.3. Trình độ chuyên môn của CBCC cấp xã giai
49
đoạn 2016 - 2018
04
Bảng: 2.4. Trình độ lý luận chính trị của CBCC cấp xã
51
giai đoạn 2016 - 2018
05
Bảng: 2.5. Trình độ quản lý nhà nước của CBCC cấp xã
53
giai đoạn 2016 - 2018
06
Bảng: 2.6. Trình độ tin học, ngoại ngữ của CBCC cấp
54
cấp xã. ............................................................................................................. 28
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã ...................................................................................................... 29
1.3.1. Các nhân tố khách quan........................................................................ 29
1.3.2. Các nhân tố chủ quan ........................................................................... 34
1.4. Sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã .............. 35
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 37
Chương 2. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLONG TỈNH ĐĂK
NÔNG ............................................................................................................. 38
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông38
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 38
2.3. Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk
Nông ................................................................................................................ 42
2.4. Thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông .... 43
2.4.1. Số lượng CBCC cấp xã của huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông ........... 44
2.4.2. Về trình độ năng lực CBCC cấp xã của huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk
Nông. ............................................................................................................... 46
2.5. Đánh giá thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trên
địa bàn huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông ...................................................... 54
2.5.1. Kết quả đạt được ................................................................................... 54
2.5.2. Những tồn tại hạn chế ........................................................................... 56
2.5.3. Những nguyên nhân .............................................................................. 59
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 61
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
ĐĂK GLONG, TỈNH ĐĂK NÔNG ............................................................. 62
dưỡng về cán bộ, công chức đối với sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo đến công tác cán bộ các cấp, các
ngành đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới. Chúng ta biết rằng để ổn định xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh phục
vụ cho công cuộc phát triển đất nước thì cần phải chú trọng đến vấn đề xây
dựng từ cấp cơ sở. Cấp cơ sở bao gồm: xã, phường, thị trấn là nơi nhân dân
cư trú, sinh sống, là cầu nối trực tiếp toàn bộ hệ thống chính trị với nhân dân,
là nơi tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân. Vì vậy, việc chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực là
nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng của Đảng. Trong thực tiễn cho thấy, nơi nào có đội ngũ cán bộ cơ sở
vững mạnh thì nơi đó tình hình chính trị ổn định; kinh tế - xã hội được phát
triển; quốc phòng an ninh giữ vững. Ngược lại, ở địa phương, đơn vị nào có
đội ngũ cán bộ yếu về phẩm chất, năng lực thì nơi đó gặp khó khăn, kinh tế xã hội chậm phát triển, thậm chí tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng
tạo ra “điểm nóng” làm mất ổn định. Do vậy, cán bộ, công chức xã có vai trò
rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thống
chính trị ở cơ sở, là nhân tố tác động trực tiếp đến sự nghiệp đổi mới của
Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Muốn xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có chất lượng tốt phải tiếp tục đổi
mới công tác cán bộ. Đặc biệt chúng ta cần chú trọng đến công tác thực hiện
1
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức bởi chính sách
đào tạo, bồi dưỡng không chỉ trang bị những kiến thức, nguyên lý cơ bản của
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước góp phần hình thành thế giới quan, nhân sinh quan khoa
học và lý tưởng cách mạng cho đội ngũ cán bộ mà thông qua đó sẽ nâng cao
hơn nữa nhận thức, bản lĩnh chính trị giúp cán bộ không ngừng rèn luyện, tu
sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo mục tiêu nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong điều kiện mới. Do vậy, việc
nghiên cứu để phân tích thực trạng, tìm ra các giải pháp thực hiện tốt chính
sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk
Glong, tỉnh Đắk Nông là nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất
phát từ những lý do nêu trên tác giả chọn nội dung “Thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk
Glong, tỉnh Đắk Nông” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán
bộ, đảng viên nói chung và cán bộ cấp xã nói riêng. Thực hiện công cuộc đổi
mới từ Đại hội VI (tháng 12/1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra
nhiều chủ trương, chính sách và những quy định về công tác đào tạo, bồi
dưỡng đối với cán bộ, công chức các cấp. Đây là những định hướng quan
trọng góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị; kỹ năng quản lý Nhà nước
và nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: Mọi
cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạch
thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng
lực học tập thực tiễn.
3
Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Chính trị
khẳng định: “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản
lý là nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thấm
nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, học đi đôi với hành, lý luận
gắn với thực tiễn, gắn học tập với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách người
cách mạng” 38,tr.2.
định của pháp luật về đào tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã và các quy định
có liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã sau đào tạo; đã đánh giá thực trạng
việc đào tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã và việc sử dụng nguồn cán bộ
sau đào tạo của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đào tạo nguồn cán bộ, công chức
cấp xã cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực sau đào
tạo.
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh
tế thị trường ở nước ta (qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội)” của Tạ Quang
Ngải. Luận văn đã làm rõ một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng công chức
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta; đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng
công chức qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội trong 10 năm. Luận văn cũng đã
đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng, hiệu quả
đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta.
Tác giả Đặng Khắc Ánh với bài “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm
- Những khó khăn và kiến nghị”, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 2/2012 đã
phân tích rõ sự cần thiết pháp đào tạo, bồi dưỡng gắn với đề án vị trí việc làm
của cán bộ, công chức. Tạp chí đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta trong thời gian qua. Hạn chế chủ yếu
là nội dung chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục còn nặng về cung cấp
5
kiến thức và kỹ năng mang tính chung chung chưa gắn với kiến thức và kỹ
năng theo từng vị trí việc làm của cán bộ, công chức. Do vậy, cần tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm. Xuất phát từ các lập
luận trên bài viết đưa ra một số kiến nghị: Khẩn trương tiến hành phân tích
tổng thể và phận loại các vị trí việc làm trong bộ máy công vụ; xây dựng và
hoàn thiện hệ thống bảng mô tả công việc; định kỳ khảo sát nhu cầu đào tạo,
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk
Nông.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả việc thực
hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về quy trình thực hiện chính sách đào tạo
bồi dưỡng cán bộ công chức và kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk
Nông.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện
Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
7
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thực
trạng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2016-2018 và đưa ra các giải
pháp thực hiện giai đoạn 2019-2025.
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu toàn bộ các nội dung thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk
Glong, tỉnh Đắk Nông (phạm vi cán bộ, công chức cấp xã theo quy định luật
cán bộ, công chức năm 2008).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận: Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách về đào tạo, bồi dưỡng
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1. 1. Thực hiện chính sách đạo tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
Khái niệm về chính sách:
Theo từ điển Tiếng việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì “Chính sách”
là “Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào
đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”.
Theo James Anderson “Chính sách là một quá trình hành động có mục
đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà
họ quan tâm”
Ngoài ra, có thể kể đến cái khái niệm khác như:
Chính sách là những gì mà chính phủ làm, lý do làm và sự khác biệt nó
tạo ra (Dye 1972). Chính sách là một hành động mang tính quyền lực nhà
nước nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy một giá trị ưu tiên (Considine
1994).
Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế
hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự
ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của
họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một số mục tiêu ưu tiên nào
đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
Tóm lại, có thể có thể khái quát về khái niệm chính sách, như sau: Chính
sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để
giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
10
Furlong (2004): “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không
hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết
hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách
chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng
thực hiện những chương trình”.
Khái niệm này chứa đựng những từ khóa chính: Vấn đề, chính quyền và
sự lựa chọn. Cụ thể là, khi có một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó xuất hiện,
chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn
đề đó.
Như vậy, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách
công: Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn
đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức
khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng.
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức:
Là hệ thống các quan điểm, quyết định, quy định lựa chọn của Nhà
nước nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ
trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức góp phần xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có phần chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính
trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, sự nghiệp phát triển của
đất nước. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã điều chỉnh
các hoạt động về đối tượng, phạm vi, nội dung, chương trình, hình thức thực
hiện; những quyền, lợi ích và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ, công chức phù
hợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của Nhà nước trong mỗi
giai đoạn cách mạng cụ thể.
12
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp của
nhiều chính sách đối với cán bộ, công chức, nhằm đạt được những mục tiêu
XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu
lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam
được bầu cử phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Ở nước
ta hiện nay, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được chia thành nhiều
cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp quận, huyện và cấp xã,
phường, thị trấn. Cán bộ ở xã, phường, thị trấn được gọi chung là cán bộ cấp
cơ sở.
Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ với các
quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục tập quán và những
sinh hoạt chung khác. Cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính
trị ở nước ta, đó là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với
Nhân dân; cụ thể hóa các chỉ thị, Nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên. Người
lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ đó ở cơ sở chính là đội ngũ cán
bộ ở cơ sở hay cán bộ, công chức cấp xã.
Đề cập đến cán bộ cấp xã, tại Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức
năm 2008 quy định rõ: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp
xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội.
Tại Điều 61 của Luật Cán bộ, công chức và Khoản 3, Điều 1 của Nghị
định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số
14
lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị
trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã
gồm có các chức danh sau đây:
với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Trải qua các giai đoạn phát
triển của nền hành chính nhà nước thì khái niệm này được hiểu theo nhiều
cách khác nhau.
Theo pháp lệnh Cán bộ công chức năm 1998, sửa đổi bổ sung năm
2000 và năm 2003 đã có quy định về CBCC nhưng vẫn chưa có sự phân biệt
rạch ròi giữa cán bộ và công chức mà sử dụng chung khái niệm CBCC.
Ngày 13/11/2008, Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII,
kỳ họp thứ 4 thông qua Luật CBCC, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010.
Tại khoản 2 Điều 4 Luật CBCC quy định: “Công chức là công dân Việt Nam,
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,
cấp tỉnh, cấp huyện: trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo; quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [7,tr.1].
Để quy định cụ thể về công chức, ngày 25 tháng 01 năm 2010, Chính
phủ ban hành Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định: “Công chức là công dân
Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong
16