Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn, giai đoạn 2016 2020 - Pdf 45

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHI LĂNG,
TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

Người thực hiện: Khổng Văn Mạnh
Lớp: Cao cấp lý luận chính trị B4 - 15
Chức vụ: Phó Trưởng ban
Đơn vị công tác: Ban Tổ chức Huyện ủy Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Hà Nội, tháng 4 năm 2016


i

LỜI CẢM ƠN
Là học viên được các thầy giáo, cô giáo trong Học viện Chính trị Khu
vực I truyền thụ kiến thức và giới thiệu kinh nghiệm thực tiễn. Tôi xin trân
trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể các thầy giáo, cô giáo trong Học
viện, những người đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ khóa học.
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ tỉnh
Lạng Sơn, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng, Ban Tổ chức Huyện
ủy, Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Trung tâm Bồi dưỡng chính
trị huyện Chi Lăng, các cơ quan liên quan, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu xây dựng
Đề án tốt nghiệp.
Do phạm vi đề án rộng, với thời gian và trình độ bản thân có hạn, đề án sẽ

của cấp ủy, chính quyền cấp xã tác động trực tiếp đến việc phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, góp phần bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của đất
nước. Cấp ủy, chính quyền cấp xã không thể đảm nhận được vai trò, nếu thiếu
nhân tố có ý nghĩa quyết định - là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Vì vậy,
việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là nhiệm vụ thường xuyên, có ý
nghĩa quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài, trong điều kiện toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế hiện nay.
Thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được
các cấp ủy, lãnh đạo cấp tỉnh, huyện quan tâm, đặc biệt là đã kịp thời ban
hành văn bản, xây dựng các chế độ, chính sách trong đào tạo, bồi dưỡng.
Nhận thức của cán bộ, công chức về đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên, bước
đầu xác định học tập là để đáp ứng yêu cầu công việc, đào tạo, bồi dưỡng theo
vị trí việc làm.
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Nghị định của Chính phủ và
các văn bản của tỉnh, huyện Chi Lăng đã có nhiều giải pháp tích cực để


2

nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Các cấp
ủy đảng đã coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ, nhằm
không ngừng nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở. Nhìn
chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từng bước được phát triển cả số
lượng và chất lượng. Việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở và
đưa sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về xã, thị trấn công
tác đã từng bước trẻ hóa và nâng cao trình độ về các mặt của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được
nâng lên cả về trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị và kinh
nghiệm thực tiễn. Hệ thống chính trị cơ sở đã có nhiều chuyển biến tích
cực, góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo,

xã của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn được đào tạo, bồi dưỡng, trong đó
95% đạt tiêu chuẩn về trình độ các mặt theo quy định.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo,
chỉ đạo, quản lý, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ ở địa phương
góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- 100% công chức cấp xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở
lên. Trong đó, có từ 40% đến 50% có trình độ đại học.
- 100% công chức cấp xã được bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà
nước, bồi dưỡng bổ sung kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật
tình hình kinh tế - xã hội, nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước (mỗi năm tham gia ít nhất 1 khóa, mỗi khóa
tối thiểu 5 ngày).
3. Giới hạn của đề án
3.1. Đối tượng
- Đối tượng đề án áp dụng: Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã.


4

- Đối tượng (Chủ thể) thực hiện đề án: Ban Tổ chức Huyện ủy Chi
Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Về không gian
21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
3.3. Về thời gian
Từ năm 2016 đến năm 2020.


5



6

Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo
nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, bí thư, phó
bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
Theo Luật cán bộ, công chức, Nghị định số 92/2009/NĐ - CP của
Chính phủ “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với
cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã”, gồm:
Cán bộ cấp xã gồm có 11 chức vụ sau đây:
a) Bí thư, phó bí thư đảng ủy;
b) Chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân;
d) Chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam;
đ) Bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch hội nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức hội nông dân
Việt Nam);
h) Chủ tịch hội cựu chiến binh Việt Nam.
1.1.1.2 Công chức
Theo định nghĩa ban đầu, công chức để chỉ những người làm việc trong
cơ quan hành chính, thực hiện chức năng chuyên môn trong bộ máy nhà nước
(được gọi là công chức hành chính); còn viên chức là người làm việc trong cơ
quan tổ chức sự nghiệp (còn được gọi là công chức sự nghiệp). Tóm lại, khái
niệm “công chức” để chỉ những người làm việc trong bộ máy nhà nước (hành
chính hoặc sự nghiệp), được hưởng lương theo ngạch bậc từ ngân sách nhà
nước, do cơ quan nhà nước chi trả.

đ) Tài chính - kế toán;
e) Tư pháp - hộ tịch;
g) Văn hóa - xã hội.


8

Số lượng cán bộ, công chức cấp xã, phường được bố trí theo loại
đơn vị hành chính cấp xã, phường. Cụ thể:
a) Cấp xã loại 1: không quá 25 người.
b) Cấp xã loại 2: không quá 23 người.
c) Cấp xã loại 3: không quá 21 người.
1.1.1.2. Đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo là quá trình truyền thụ khối lượng kiến thức mới một cách có hệ
thống, để người công chức thông qua đó trở thành người có trình độ cao hơn
trước đó. Như đào tạo hệ cao cấp lý luận chính trị, đào tạo cử nhân hành chính
và các chuyên gia đầu ngành. Chương trình của đào tạo gắn liền với một trình
độ học vấn ở một cấp độ nhất định. Vì vậy, sau một quá trình đào tạo mỗi
người học được cấp bằng.
Bồi dưỡng là quá trình hoạt động làm tăng thêm kiến thức mới cho
những người đang giữ chức vụ, đang thực thi công việc của một ngạch, bậc
nhất định, để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao. Khối lượng, kiến thức,
kỹ năng được quy định tại các chương trình, tài liệu phải phù hợp với từng đối
tượng công chức. Kết quả của các khóa bồi dưỡng, người học sẽ nhận được
chứng chỉ ghi nhận kết quả.
Như vậy, có thể khái quát khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức là
quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các
hình thức khác nhau cho công chức, phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất
lượng công việc được Nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công
chức thực hiện. Quan niệm này mang tính thực tiễn của Việt Nam và cũng

xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích
cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng
và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức; hướng tới mục tiêu tạo được sự
thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn. Nghị định số
18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức nhấn mạnh: "Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm


10

trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công
việc được giao".
1.1.2. Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã
1.1.2.1. Chất lượng và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,
công chức
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Chất lượng” được dùng theo 2 nghĩa: 1. Cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc (đánh giá chất lượng sản
phẩm. Nâng cao chất lượng giảng dạy). 2. (chuẩn mực, id) như chất (ng.3) 1.
“Chất lượng” ở đây được dùng theo nghĩa thứ nhất, chứ không phải là “chất”
theo nghĩa triết học: là tổng thể nói chung những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật;
cái làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác; phân biệt với “lượng”.
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là cái tạo nên giá trị của công tác đào tạo, bồi
dưỡng. Vì vậy, Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng: là tổng hợp chất lượng của các
yếu tố cấu thành, là mức độ đạt được so với mục đích, yêu cầu đề ra và biểu hiện
tập trung nhất ở đối tượng sau tác động của công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã: là tổng
hợp chất lượng của các yếu tố cấu thành, là mức độ đạt được so với mục đích,
yêu cầu đề ra và biểu hiện tập trung nhất ở chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã sau tác động của công tác đào tạo, bồi dưỡng.

Thứ nhất, nhận thức của cán bộ, lãnh đạo quản lý; đội ngũ cán bộ,
giảng viên và học viên.
Nhận thức đóng vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của con
người. Nhận thức giúp các cá nhân và cộng đồng định hướng cho hành vi của
mình. Mặt khác, nhận thức cũng giúp con người điều chỉnh hành vi bản thân
trong quá trình hoạt động thực tiễn, để đạt được các mục tiêu đã định hoặc để
các hành vi đó phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của
người đứng đầu địa phương, cơ sở, người đào tạo, bồi dưỡng và người được
đào tạo, bồi dưỡng. Lãnh đạo, quản lý, giảng viên, học viên có nhận thức
đúng tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã, mới có sự quan tâm đúng mức, có tinh thần,


12

thái độ giảng dạy, học tập nghiêm túc. Ngược lại, nếu nhận thức của đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên và học viên chưa đúng, chưa thấy được
tính cấp thiết, tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã, chắc chắn chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã sẽ thấp,
dẫn đến hoạt động của chính quyền cơ sở kém hiệu quả.
Thứ hai, nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng phải gắn
với yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã.
Nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã thiết thực, phù hợp với từng đối tượng và loại hình đào tạo. Nội
dung đào tạo, bồi dưỡng trang bị được cả kiến thức và yêu cầu về phẩm chất
đạo đức, cả lý luận và thực tiễn, cả kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành,
phương pháp dạy đổi mới, khoa học sẽ tác động tích cực đến chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
Thứ ba, môi trường xã hội và cụ thể hơn là môi trường làm việc, điều

Cơ sở chính trị của đề án là chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trong
thời gian qua, đặc biệt là từ Đại hội IX đến nay; các quan điểm này được thể
chế hóa thành chính sách của Nhà nước.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) khẳng
định: Nhiệm vụ hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi
trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực trong thi
tuyển cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết
là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, về đường lối, chính sách, về kiến thức và
kỹ năng quản lý hành chính nhà nước. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức
theo đúng chức năng, tiêu chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán
bộ, công chức, kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái
hóa. Tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng,
đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.


14

Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 về đổi mới và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn (Hội
nghị lần thứ Năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa IX) xác định: Nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy
sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo
công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với
cán bộ cơ sở. Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng xác định: thực hiện các
giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơ quan, cán bộ,
công chức; cơ cấu lại độ ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo
yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Văn kiện

- Luật cán bộ, công chức (2008).
- Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về
chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ ở xã, phường,
thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
- Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào
tạo, bồi dưỡng công chức.
- Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Bộ Tài
chính Quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách
nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
- Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011 của Chính phủ về
công chức xã, phường, thị trấn.
- Hướng dẫn số 2788/HD-BNV ngày 29/7/2011 của Bộ Nội vụ về công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã giai đoạn 2011 - 2015 thực hiện Quyết định
số 1956/QĐ-TTg.
- Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng
dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã,
phường, thị trấn.


16

- Chính phủ nước CHXHCNVN: Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày
08 tháng 4 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số
lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ ở xã, phường, thị trấn và
những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
- Nghị quyết số 37-NQ/TU ngày 13/02/2012 của Tỉnh ủy Lạng Sơn về
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2015 và
những năm tiếp theo.
- Kế hoạch số 34-KH/HU ngày 23/8/2012 của Huyện ủy Chi Lăng về

của Đảng và Nhà nước. Trình độ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn
của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao, thích nghi với cơ
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội
ngũ cán bộ, công chức có đóng góp quan trọng trong việc đạt được những
thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đưa nước ta gia nhập các nước
đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, bảo đảm vững chắc an ninh,
quốc phòng.
Báo cáo số 2880/BC-BNV, ngày 30/7/2014 của Bộ Nội vụ về kết quả 3
năm thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12-8-2011 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
giai đoạn 2011-2015 cho thấy, đối với cán bộ, công chức cấp xã và những
người hoạt động không chuyên trách: Đào tạo trình độ chuyên môn cho cán
bộ cấp xã đáp ứng theo tiêu chuẩn quy định đạt gần 75%; đào tạo trình độ
trung cấp chuyên môn trở lên cho 95% công chức cấp xã vùng đô thị, vùng
đồng bằng và 87% công chức cấp xã vùng miền núi; 60% cán bộ cấp xã được
bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công
việc; 70% công chức cấp xã thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu
hằng năm; 50% những người hoạt động không chuyên trách cấp xã được bồi
dưỡng kiến thức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Đã tiến hành bồi dưỡng cho
gần 286.000 lượt đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.


18

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số cán bộ, công chức, nhất là ở
các địa phương vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Một số cấp ủy,
chính quyền địa phương chưa coi trọng đúng mức công tác đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; vì vậy, một số chỉ
tiêu theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo quy định đạt
thấp. Cán bộ, công chức chủ yếu vừa học, vừa làm, còn để công việc chi

Trong những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói chung và huyện Chi Lăng nói
riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao trình độ, năng
lực cho đội ngũ cán bộ, công chức. Việc bố trí cán bộ, công chức tham gia
các lớp đào tạo bồi dưỡng được quan tâm theo hướng thực hiện đúng đối
tượng và nội dung đào tạo, đồng thời gắn với quy hoạch sử dụng cán bộ.
Qua đó, chất lượng cán bộ, công chức cơ sở đã từng bước được củng cố, số
cán bộ, công chức chuyên môn được đào tạo, bồi dưỡng trở về công tác, đã
phát huy được năng lực nghiệp vụ, tham mưu cho cấp uỷ đảng, chính
quyền cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Tuy nhiên, việc chuẩn hóa cán bộ, công chức cấp xã về trình độ lý
luận, chuyên môn, kỹ năng, năng lực hoạt động có mặt còn hạn chế. Phần
lớn cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng thông qua hình thức
đào tạo tại chức, vừa học vừa làm và các lớp bồi dưỡng tập trung ngắn hạn,
khi học xong các chương trình đào tạo hoặc bồi dưỡng, nắm được những
vấn đề cơ bản về lý luận, nhưng việc áp dụng những kiến thức vào giải
quyết những công việc cụ thể còn nhiều hạn chế.
Vì vậy cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn hiện nay.
2. NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
Chi Lăng là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Lạng Sơn, cách
Thành phố Lạng Sơn hơn 30 km. Phía Bắc giáp huyện Văn Quan và Cao Lộc;


20

phía Tây giáp với huyện Hữu Lũng; phía Đông giáp với huyện Lộc Bình; phía
Nam giáp với huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Huyện có diện tích tự nhiên
hơn 703 km2, địa hình chủ yếu là đồi núi. Huyện có 19 xã và 02 thị trấn, trong

đến năm 2020 đạt 51%; (6). Số xã đạt chuẩn nông thôn mới 8 xã; (7). Tỷ lệ
cứng hoá đường ô tô đến trung tâm xã đến năm 2020 đạt 100%; (8). Hàng
năm tăng thu ngân sách so với dự toán thu từ 9% trở lên; (9). Tổng vốn đầu
tư xã hội giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 10 - 11 nghìn tỷ đồng; (10). Giảm
tỷ lệ hộ nghèo từ 1 - 1,2%/năm trở lên; (11). Số xã, thị trấn đạt bộ tiêu chí
quốc gia về y tế 13 xã, thị trấn; phấn đấu có 7 bác sĩ và 29 giường bệnh
trên 1 vạn dân; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 90%; (12). Phấn
đấu có thêm 10 trường học đạt chuẩn quốc gia; (13). Tỷ lệ lao động qua
đào tạo đến năm 2020 là 52%; (14). Tỷ lệ thôn, khu phố có nhà văn hóa đạt
99%; (15). Tỷ lệ số hộ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch 99,9%, tỷ
lệ số hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh 95%; (16). Tỷ lệ
chất thải nguy hại được xử lý đạt 95%; (17). Giảm tỷ lệ tai nạn giao thông
cả 3 tiêu chí; (18). Kết nạp mỗi năm 150 đảng viên trở lên; tỷ lệ tổ chức cơ
sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh đến cuối kỳ 65%. Tỷ lệ đảng viên hoàn
thành tốt nhiệm vụ đến cuối kỳ đạt 80% trở lên. Tỷ lệ đảng viên là cán bộ
lãnh đạo quản lý các cấp hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ đến cuối kỳ
đạt 95% trở lên.
Để đạt được các mục tiêu nhiệm kỳ đề ra, huyện Chi Lăng đã triển
khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư
tưởng và tổ chức. Thực hiện nghiêm túc, có chất lượng công tác cán bộ,
đảm bảo dân chủ, công khai, chặt chẽ, đúng nguyên tắc, đúng quy trình,
trong đó có giải pháp hàng đầu là tăng cường hiệu quả công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức ở cơ sở, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã đủ phẩm chất, năng lực thực hiện tốt yêu cầu nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội tại địa phương.


22

Các yếu tố tác động đến việc xây dựng và thực hiện đề án bao gồm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status