Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên - Pdf 38

LỜI CẢM ƠN!
Em xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng
Yên, Phòng Nội vụ huyện Kim Động đã tạo mọi điều kiện để em được tìm hiểu, vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn và hoàn thành bài báo cáo kiến tập này.
Em xin chân thành cảm ơn nhất đến lãnh đạo trường Đại học Nội vụ Hà Nội,
lãnh đạo và thầy cô giáo trong khoa Tổ chức và quản lý nhân lực trường đại học
Nội vụ Hà Nội đã hết lòng giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em
trong quá trình học tập. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy
cô giáo trong khoa Tổ chức và quả lý nhân lực cùng toàn thể các cô chú, anh chị
trong phòng Nội vụ huyện Kim Động đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình
kiến tập.
Đề tài báo cáo: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên
địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” là đề tài có tính gắn liền giữa lý luận và
thực tiễn. Do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có giới hạn vì vậy
bài báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến quý báu từ quý thầy cô giáo và các bạn để bài báo cáo được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4

1. Lý do chọn đề tài
Đối với hoạt động của bất kỳ một tổ chức nào thì công tác đào tạo, bồi dưỡng
phát triển nguồn nhân lực luôn có một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các
mục tiêu, đặc biệt công tác tổ chức và quản lý nhân lực. Trong hệ thống các cơ quan
Hành chính nhà nước nói chung và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt
Nam nói riêng thì vấn đề này càng trở nên quan trọng và cần thiết. Với vai trò là tham
mưu, giúp việc cho thủ trưởng cơ quan thì những người làm công tác quản lý nhân sự
cần phải có những kiến thức và được đào tạo một cách bài bản về chuyên môn.
Nắm bắt được nhu cầu thực tế đó, trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã thành
lập khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực nhằm đào tạo ra những cán bộ, những
chuyên gia có khả năng và trình độ chuyên môn để đáp ứng những nhu cầu của xã
hội và công việc đặt ra. Và để lý thuyết không xa rời với thực tiễn, nhà trường và
khoa đã tổ chức cho sinh viên đi kiến tập, thực tập để tiếp xúc và làm quen với công
việc thực tế nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mình đã học vào quá trình
làm việc.
Trong thời gian kiến tập ở phòng Nội vụ huyện Kim Động, tuy không phải là
khoảng thời gian dài nhưng cũng đủ để em học tập với nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu từ công việc thực tế của cán bộ, chuyên viên trong cơ quan, được tiếp xúc với văn
bản hành chính và các máy móc phục vụ cho công việc nhiều hơn như: máy tính, máy
in, máy phô tô, máy fax… Điều này đã bổ sung và trang bị cho em những bài học kinh
nghiệm bổ ích, một điều mà em chỉ được học tập trên lý thuyết khi ở trường.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, đội ngũ những
người cốt cán, cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò to lớn đó đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cán bộ là gốc của mọi vấn đề, gốc có tốt thì ngọn
mới tốt. Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa VIII cũng đã nêu
“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Thực vậy, hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung, của hệ thống các tổ chức nói
riêng suy cho cùng được quyết định bởi năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ.
Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước như hiện nay, để phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ đòi hỏi chính quyền các

cũng là khoảng thời gian Đảng và Nhà nước đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục
hành chính theo hướng đơn giản hóa hướng tới một nền hành chính tiên tiến, hiện
đại. Vì thế, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cần quan tâm, chú trọng.
Không gian: Nghiên cứu tại phòng Nội vụ UBND huyện Kim Động.

5


4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận lấy phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước làm cơ sở
phương pháp luận cho việc nghiên cứu, đánh giá đúng đắn các vấn đề. Ngoài ra, để
làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu, khóa luận cũng đã sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp phân tích – tổng hợp, sử dụng số
liệu thống kê, so sánh và đối chiếu, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn,
điều tra, khảo sát một cách có hệ thống và nhất quán nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần
nghiên cứu.
Từ những cơ sở trên, đề tài có những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
Do đặc thù của đề tài cũng như đặc thù đơn vị thực tập nên trong quá trình
hoàn thành báo cáo tôi có sử dụng một số phương pháp sau để nghiên cứu:
Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp chính được sử dụng
khi nghiên cứu báo cáo này. Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã tìm hiểu một số
tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu như: Luật cán bộ, công chức năm 2008;
Luật viên chức năm 2010; Thông tư số 79/2005/TT-BTC ngày 15 tháng 9 năm 2005
của Bộ Tài Chính hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức; Quyết định số 05/2007/QĐ-BNV ngày 17 tháng 4 năm 2005 của Bộ
Nội vụ về ban hành quy chế chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Nghị
Định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi
dưỡng công chức; Quyết định số 31/QĐ-UBND ngày 20 tháng 02 năm 2010 về việc

công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung và công tác đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực trong cơ quan Hành chính Nhà nước nói riêng. Bên cạnh đó,
khi bản báo cáo được hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cung cấp thông tin cho
bạn đọc muốn tìm hiểu về công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
6. Bố cục
Đề tài nghiên cứu ngoài lời cảm ơn, lời nói đầu, phần khái quát chung, phần mở
đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Ủy ban nhân dân huyện Kim Động và cơ sở lí luận
về công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo, bồi đưỡng cán bộ, công chức cấp xã
trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh
Hưng Yên.

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ UBND HUYỆN KIM ĐỘNG VÀ CƠ SỞ LÍ
LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
1.1. Khái quát chung về huyện Kim Động, UBND huyện và đội ngũ Cán
bộ, công chức tại UBND huyện Kim Động
1.1.1. Đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu và kinh tế - chính trị - xã hội
huyện Kim Động
Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ,
thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính
phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh
Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số

Huyện Kim Động nằm ở phía tây nam của tỉnh Hưng Yên. Phía bắc giáp
huyện Khoái Châu, phía nam giáp thành phố Hưng Yên; phía đông giáp huyện Ân
Thi và Tiên Lữ ; phía tây giáp sông Hồng, bên kia là huyện Phú Xuyên (Hà Nội) và
Duy Tiên (Hà Nam). Có quốc lộ 39A và sông Hồng chạy qua, liền kề với trung tâm
tỉnh lỵ Hưng Yên, nối với quốc lộ 5 khoảng 20km. Đây là một trong những điều
kiện thuận lợi, dễ dàng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học và liên kết
kinh tế trên các lĩnh vực với các tỉnh liền kề bằng những lợi thế riêng của huyện,
đặc biệt là với thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn: Hải Phòng, Hải Dương…
Kim Động có 19 đơn vị hành chính, gồm 18 xã và 1 thị trấn với tổng diện
tích 114,684 km2. Dân số huyện Kim Động có 121.793 người. Mật độ dân số là
1.061 người/km2 (số liệu tổng điều tra dân số năm 2009). Dân số phân bổ không
đều, các xã vùng ngoài đê mật độ thấp nhất và tăng dần theo hướng Tây đến Tây
nam và Nam, cao nhất là thị trấn.
Tỷ suất sinh hàng năm đang giảm dần, theo số liệu thống kê năm 2011 là
1,41%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm dưới 1% (Năm 2011 là 0,85%). Dân số
trong độ tuổi lao động chiếm 62% dân số. Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên
là 93%. Cơ cấu lao động trong nông nghiệp - CNXD - TMDV là: 72,5% - 10,6% 16,9%. Lao động nông nghiệp có tỷ trọng cao nhưng đang giảm dần. Lực lượng lao
động là công nhân kỹ thuật và có trình độ từ trung cấp trở lên còn ít, chỉ chiếm 7%.
Nguồn nhân lực là thế mạnh nổi bật của huyện, tạo ra thị trường nội huyện to lớn về

9


mọi mặt. Song đồng thời cũng là áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 12%. Giá trị sản xuất các
ngành: nông nghiệp tăng 5%; công nghiệp, xây dựng tăng 19%; các ngành dịch vụ
tăng 14,5%. Hàng năm có trên 90% chính quyền xã, thị trấn đạt TSVM; trên 80% tổ
chức cơ sở Đảng đạt TSVM; trên 90% đoàn thể vững mạnh.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ là 34% - 31%
- 35%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 15,5 triệu đồng. Bình quân hàng năm thu

công tác xóa đói, giảm nghèo. Quyên góp các loại quỹ nhân đạo, từ thiện được 2,1
tỷ đồng, việc sử dụng các loại quỹ đúng quy định, hiệu quả. Đến năm 2010 cơ cấu
lao động nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – thương mại, dịch vụ là 72,57% 12,26% - 15,17%.
Tình hình an ninh quốc phòng cơ bản đảm bảo, không có điểm nóng, khiếu
kiện phức tạp, kéo dài…
Năm 2011 kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng
kinh tế đạt 11,55% (KH: 11,5%). Sản xuất nông nghiệp có nhiều thuận lợi, giá trị
SXNN tăng 5,5% (KH: 4,5%), năng suất lúa bình quân cả năm đạt 64 tạ/ha. Việc
ứng dụng khoa học, kỹ thuật, đưa các giống cây con có giá trị kinh tế cao vào sản
xuất ngày càng rộng rãi. Tích cực triển khai Đề án xây dựng nông thôn mới. Sản
xuất công nghiệp, xây dựng – dịch vụ thương mại tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất
CN-XD tăng 15,79% (KH: 15%); giá trị sản xuất TMDV tăng 14,64% (KH:
12,5%). Cơ cấu kinh tế NN-CNXD-DVTM là 35,5% - 31,18% - 33,32% (KH:
33,5% - 31% - 35,5%). Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 11 của Chính phủ. Khai
thác triệt để các nguồn thu. Tổng thu ngân sách huyện năm 2011 đạt 114 tỷ 778
triệu đồng, tăng 23,4% so với năm 2010; đạt 196,2% KH. Chi ngân sách đảm bảo
kế hoạch và các nhiệm vụ phát sinh. Tổng chi ngân sách địa phương là 282 tỷ 704
triệu đồng, đạt 171,8% KH. Sự nghiệp văn hoá thông tin, giáo dục, y tế và các lĩnh
vực khác có nhiều tiến bộ. Năm học 2010-2011 ngành Giáo dục và Đào tạo đứng
thứ 2 toàn tỉnh về phong trào thi đua toàn diện. Chất lượng giáo dục ngày càng
được nâng cao. Tỷ lệ giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp; học sinh thi đỗ các
trường đại học, cao đẳng cao hơn so với năm trước. Cơ sở vật chất y tế được tăng
cường. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 0,85% . Đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được nâng cao. Thu nhập bình quân đầu người đạt 23 triệu đồng/năm

11


(KH: 17,5 triệu đồng/năm). Tỷ lệ làng văn hóa là 88% (KH: 86%); Tỷ lệ gia đình
văn hóa là 92% (KH: 92,5%). Tỷ lệ hộ nghèo còn 11,51%. Chế độ, chính sách đối

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

Phòng nội vụ
Phòng thanh tra
Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Phòng văn hóa – thông tin
Phòng tài nguyên và môi trường
Phòng giáo dục và đào tạo
Phòng tư pháp
Phòng công thương
Phòng y tế
Văn phòng hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
Phòng tài chính- kế hoạch
Phòng lao động, thương binh xã hội
Phòng dân tộc

1.2. Tổng quan về Phòng Nội vụ thuộc UBND huyện Kim Động
Căn cứ vào Nghị định 14/2008/NĐ-CP ngày 04/2/2008 của Chính phủ quy

nước Phòng được giao.
- Xây dựng phương án sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn, các
đơn vị sự nghiệp trực thuộc trình UBND huyện xem xét, quyết định.
- Quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức theo phân cấp của UBND tỉnh.
Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và tổ chức thực hiện sau khi
được phê duyệt.
- Tham mưu cho UBND huyện tổ chức và thực hiện các cuộc bầu cử Quốc
hội, HĐND các cấp theo luật định. Giúp HĐND, UBND để bầu cử các chức danh
của HĐND, UBND.
- Quản lý hướng dẫn các hoạt động của chính quyền cơ sở, đánh giá, phân
loại chính quyền cơ sở hằng năm, quản lý đội ngũ chính quyền cơ sở.
- Tham mưu giúp UBND huyện theo dõi, tổ chức hoạt động của các hội trên
địa bàn.
- Thực hiện quản lý địa giới hành chính, xây dựng đề án phân vạch, điều
chỉnh địa giới hành chính ở địa phương đưa ra HĐND cùng cấp thông qua để trình
cấp trên xem xét.
- Xây dựng phương hướng nhiệm vụ về công tác nội vụ, văn thư, lưu trữ,
Nhà nước, tôn giáo, thi đua – khen thưởng.
- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, chính sách thuộc lĩnh vực nội
vụ, giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo của nhân dân về các lĩnh vực trên.

14


- Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác nội vụ, văn thư, lưu trữ Nhà nước, tôn
giáo, thi đua – khen thưởng.
1.3. Tình hình tổ chức phòng Nội vụ thuộc UBND Huyện Kim Động
* Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Phó Trưởng phòng
Nguyễn Văn Trường

* Cụ thể Phòng Nội vụ huyện Kim Động như sau:
1. Đồng chí Nguyễn Chi Hội – Trưởng phòng: phụ trách chung và trực tiếp
chỉ đạo thực hiện chức năng quản lý nhà nước các lĩnh vực: bộ máy tổ chức tuyển
dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn,
các đơn vị sự nghiệp thuộc UBND huyện quản lý và cán bộ, công chức xã, thị trấn.
2. Đồng chí Phạm Thị Mỹ Hạnh: – Phó trưởng phòng: giúp việc trưởng
phòng trực tiếp chỉ đạo thực hiện chức năng quản lý nhà nước các lĩnh vực: xây
dựng chính quyền địa phương, Tôn giáo, Hội, Tổ chức phi chính phủ, địa giới hành
chính và các công việc đột suất khác khi được trưởng phòng phân công.
3. Đồng chí Nguyễn Văn Trường: – Phó trưởng phòng: giúp việc trưởng
phòng trực tiếp chỉ đạo thực hiện chức năng quản lý nhà nước các lĩnh vực: cải cách
hành chính, thi đua – khen thưởng, văn thư – lưu trữ nhà nước và các công việc đột
suất khác khi được trưởng phòng phân công.
4. Đồng chí Nguyễn Thị Đan: trực tiếp tổ chức thực hiện các lĩnh vực mà
trưởng phòng trực tiếp chỉ đạo (trừ lĩnh vực cán bộ công chức xã, thị trấn). quản lý

16


hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức thuộc UBND huyện quản lý, thực hiện các chế
độ có liên quan đối với cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, sự nghiệp thuộc
UBND huyện quản lý (trừ việc làm sổ Bảo hiểm xã hội cho công chức, viên chức
thuộc phòng giáo dục & đào tạo trực tiếp quản lý) và các công việc đột suất khác
khi được trưởng phòng phân công.
5. Đồng chí Lê Thị Mai: trực tiếp tổ chức thực hiện các lĩnh vực mà Đồng
chí Phạm Thị Mỹ Hạnh - Phó trưởng phòng trực tiếp chỉ đạo, quản lý hồ sơ, thực
hiện các chế độ có liên quan đến cán bộ, công chức xã, thị trấn, quản lý hồ sơ địa
giới hành chính và các công việc đột suất khác khi được Trưởng phòng phân công.
6. Đồng chí Đặng Toàn Thắng: trực tiếp tổ chức thực hiện các lĩnh vực mà
đồng chí Nguyễn Văn Trường – phó trưởng phòng trực tiếp chỉ đạo, quản lý hồ sơ

bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các
chuyên đề. Hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng
cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn, nghề
nghiệp sẵn có để lao động có hiệu quả hơn.
Trong lĩnh vực hành chính, đào tạo bồi dưỡng là hoạt động của các cơ quan
quản lý CBCC, của cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhằm trang bị và nâng cao kiến thức,
kỹ năng làm việc, phẩm chất đạo đức … cho CBCC theo tiêu chuẩn quy định của
từng ngạch, từng chức vụ, chức danh.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là hoạt động của cơ quan hành
chính Nhà nước nhằm trang bị và nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng làm việc,
giúp cho cán bộ, công chức cấp xã có cái nhìn tổng quan về nền công vụ, hiểu rõ ý
nghĩa của hoạt động công vụ, giúp cán bộ, công chức đủ khả năng giải quyết công
việc của mình trong nền hành chính hiện nay.
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thường được tiến hành tại các trường lớp, các
trung tâm đào tạo bồi dưỡng và được xác nhận bằng văn bằng, chứng chỉ.
* Khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ là công dân việt nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiêm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản việt nam, nhà nước,
tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau
đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ biên ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ
quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng cộng sản việt nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ


tạo, bồi dưỡng phục vụ tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức đặc biệt có vai trò quan
trọng, là khâu không thể thiếu được trong toàn bộ quy trình xây dựng và thực hiện
kế hoạch.
Đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay nói chung và cán bộ, công chức cấp xã
nói riêng, xét về mặt chất lượng và cơ cấu còn nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi
hỏi của thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, nên phải tăng cường công tác đào tạo, bồi
dưỡng sao cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã toàn diện cả về lý luận chính trị,
phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn.
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc Cải cách
hành chính. Cải cách hành chính là một vấn đề được quan tâm chủ yếu hiện nay ở
hầu hết các nước trên thế giới. Việc cải cách hành chính, củng cố bộ máy của chế độ
xã hội hiện hành, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tếxã hội và sự hoàn thiện cơ cấu chính trị đã trở thành một trong những nhiệm vụ
chính trị chủ yếu của một quốc gia hiện đại.
Bộ máy nhà nước còn quá cồng kềnh, hiệu quả hoạt đông chưa cao, nặng về
quan liêu, của quyền, năng lực phẩm chất của một bộ phận công chức chưa tương
xứng với yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn mới. Công cuộc cải cách hành chính
thành công hay thất bại suy cho cùng do chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
quyết định; trong đó vai trò của cán bộ, công chức cấp xã là vô cùng quan trọng.

20


Trên đây là tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã, vì tính chất quan trọng của nó nên phải tăng cường chất lượng trong
thời gian tới nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội mà các
cấp ủy đảng và chính quyền đã đề ra trong quá trình đất nước hội nhập và thực hiện
mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC nhằm phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất
nước. Đào tạo, bồi dưỡng CBCC có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực,
phẩm chất sẽ góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Mục tiêu của sự

lòng của CBCC với công việc được nâng cao.
Là cơ hội để họ thấy tổ chức quan tâm đến phát triển chức nghiệp cho họ, do
đó học gắn bó hơn với tổ chức.
Tạo ra thích ứng của CBCC với công việc trong hiện tại và tương lai.
Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của người CBCC.
Tạo cho CBCC có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ, là cơ
sở để phát huy tính sáng tạo trong công việc.
Mở rộng cơ hội làm việc cho CBCC.
+ Đối với xã hội:
Hệ thống CBCC, đặc biệt là CC cấp xã, thị trấn có vai trò quan trọng trong
việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chủ trương chính
sách của nhà nước. Đồng thời là cánh tay đắc lực phục vụ cho nhân dân, vì họ tiếp
xúc gần nhất với dân, lắng nghe rõ ràng nhất nguyện vọng của nhân dân.
Mặt khác CBCC trong các cơ quan tổ chức cũng là nhân lực của xã hội. Mỗi
người cán bộ, công chức cũng là một chủ thể của xã hội, vì vậy đào tạo và phát triển
được CBCC tốt chính là góp phần tạo ra công dân tốt cho xã hội.
Qua quá trình đào tạo và phát triển nhân sự, người lao động được tăng cường
hiểu biết về xã hội cũng như hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy sự phát triển và hợp tác
trong xã hội, trong cơ quan, góp phần cải thiện mối quan hệ giữa nhóm và cá nhân
trong cơ quan cũng như trong xã hội.
Chính vì tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC có ảnh
hưởng lớn như vậy nên Đảng và nhà nước ta đã có quan điểm rất đúng đắn “Mọi
cán bộ, Đảng viên trước hết là cán bộ chủ chốt, phải có kế hoạch thường xuyên học
tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn.
Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi Cán bộ, Đảng viên… Lười học tập, lười
suy nghĩ, không thường xuyên, tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới
cũng là biểu hiện của sự thoái hóa”.
1.4.3. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng.
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC có thể thông qua nhiều hình thức đào tạo, bồi
dưỡng. Có nhiều cách để phân loại các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, và tùy theo

hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.
- Kết hợp cơ chế phân cấp và cơ chế cạnh tranh trong tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng.
- Đề cao vai trò tự học và quyền của công chức trong việc lựa chọn chương
trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm.
- Bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả.
1.4.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức
1.4.5.1. Các nhân tố bên trong tổ chức
a. Khả năng tài chính của tổ chức

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực gắn liền với tình hình tài chính
của tổ chức. Tổ chức muốn thực hiện công tác này cần phải chi trả tài chính cho cơ
sở đào tạo, tiền lương của cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng... Nếu như nguồn
tài chính của tổ chức dành nhiều cho công tác đào tạo, bồi dưỡng thì sẽ thuận lợi
hơn, có thể đem lại hiệu quả cao hơn.

23


b. Chiến lược phát triển của tổ chức

Tùy thuộc vào hướng mở rộng quy mô, cơ cấu của tổ chức mà tổ chức sẽ có
chiến lược và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp.
c. Triết lý của lãnh đạo về công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Triết lý của lãnh đạo về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực là kim chỉ nam
cho mọi hoạt động liên quan tới công tác này. Nếu lãnh đạo quan tâm đúng mức về
công tác đào tạo, bồi dưỡng thì mọi hoạt động đều được đầu tư kỹ lưỡng, tổ chức
thực hiện sẽ có hệ thống và mang lại hiệu quả cao cho tổ chức, ngược lại nếu lãnh
đạo không quan tâm thì chắc chắn công tác này sẽ bị trì trệ không mang lại hiệu quả

tạo rất ít. Ngược lại, hệ thống giáo dục và đào tạo xã hội còn nhiều hạn chế thì
nguồn nhân lực được tuyển vào với chất lượng chưa cao sẽ không đáp ứng được
yêu cầu.
b. Thị trường lao động
Nếu như thị trường lao động có số lượng lao động lớn, chất lượng lao động
cao thì tổ chức có nhiều cơ hội tìm được nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công
việc do đó tổ chức sẽ không mất nhiều thời gian và tài chính cho đào tạo. Ngược lại,
thị trường lao động với chất lượng và số lượng chưa đủ để đáp ứng nhu cầu và buộc
phải tuyển dụng người lao động không đúng chuyên ngành, khả năng đáp ứng yêu
cầu của công việc chưa cao khi đó tổ chức cần phải tiến hành đào tạo, bồi dưỡng.
c. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Đảng và
Nhà nước thường xuyên quan tâm và phát triển sâu rộng. Từ đó, công tác đào tạo,
bồi dưỡng nguồn nhân lực của các tổ chức được tiến hành thuận lợi và mang lại kết
quả cao. Từ khi có Quyết định số 874/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 1996 của Thủ
tướng Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước. Đến nay, công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; có một số văn bản quy phạm pháp luật
quy định như:
- Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức;
- Thông tư số 79/2005/TT-BTC ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Bộ Tài Chính
hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức;
- Quyết định số 104/2005/QĐ-BNV ngày 03 tháng 10 năm 2005 của Bộ Nội
vụ về việc Ban hành Quy chế cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước
ngoài bằng nguồn ngân sách Nhà nước;
- Quyết định số 33/2005/QĐ-BNV ngày 10 tháng 5 năm 2004 về việc ban
hành Quy định tạm thời tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý của Bộ Nội
vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- Quyết định số 05/2007/QĐ-BNV ngày 17 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status