THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đào tạo, bồi DƯỠNG cán bộ, CÔNG CHỨC từ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Đoàn Thanh Trung

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH
THẠNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Đoàn Thanh Trung

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH THẠNH,
THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG



: Quản lý nhà nước

UBND

: Ủy ban nhân dân


Bảng 2.1. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC theo trình độ chuyên môn
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu giới tính CBCC
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC theo độ tuổi
Bảng 2.4. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC theo trình độ lý luận chính trị
Bảng 2.5. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC về trình độ tin học
Bảng 2.6. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu CBCC về trình độ ngoại ngữ
Bảng 2.7. Từ năm 2015 - 2017, CBCC đã tham gia các lớp ĐTBD
Bảng 2.8. Đánh giá của CBCC về các khóa ĐTBD CBCC đã tham dự
Bảng 2.9. Khó khăn mà CBCC các cơ quan, đơn vị thuộc quận gặp khi tham gia các
khóa ĐTBD
Bảng 2.10. Đánh giá tác động của các khóa ĐTBD CBCC các cơ quan, đơn vị thuộc
quận đến chuyển biến năng lực thực thi công vụ
Bảng 2.11. Nhu cầu tham gia các khóa ĐTBD CBCC trong các cơ quan, đơn vị
thuộc quận trong thời gian tới


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước, từng bước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục đề ra

lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân, có nhân cách và lối sống
trong sáng, mẫu mực, hoàn thành tốt chức trách và nhiệm vụ được giao; có ý thức tổ
chức kỷ luật cao thông qua các hình thức ĐTBD phù hợp, hiệu quả, gắn ĐTBD với quy
hoạch và theo nhu cầu thực tế của tổ chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã
được Đảng, Nhà nước ta xác định trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà
nước giai đoạn 2011 - 2020 và liên tiếp được khẳng định qua các kỳ Đại hội của Đảng.
Đây c òn là một trong những nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính,
nhằm xây dựng đội ngũ CBCC phù hợp với yêu cầu của nền hành chính dân chủ, hiện
đại; là khâu có tính chất quyết định trong công tác cán bộ nhằm nâng cao trình độ quản
lý, năng lực điều hành, phẩm chất đạo đức của đội ngũ CBCC.
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng bộ và chính quyền quận Bình
Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ CBCC đã từng bước trưởng thành hơn. Tuy
nhiên, CBCC quận do được hình thành từ nhiều nguồn, trưởng thành chủ yếu thông qua
thực tiễn, chưa được đào tạo cơ bản, thiếu vốn kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận
chính trị. Vì vậy, trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn, một số CBCC mắc phải bệnh
kinh nghiệm, điều hành công tác lãnh đạo, quản lý cũng như xử lý công việc một cách
máy móc, kém hiệu quả. Từ thực tế trên đòi hỏi đội ngũ CBCC quận Bình Thạnh phải
không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt.
Với những ý nghĩa đó, đề tài luận văn “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng CBCC từ thực tiễn quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài có
tính cấp thiết, có nhiều ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhất là đối với quận Bình Thạnh,
thành phố Hồ Chí Minh.

6


Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách
ĐTBD đội ngũ CBCC, đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục
trong công tác ĐTBD tại quận Bình Thạnh. Từ một số đề xuất nhằm hoàn thiện thêm
trong quá trình thực hiện chính sách đối với công tác ĐTBD CBCC quận Bình Thạnh

cấp tỉnh (từ thực tiễn tỉnh Đăk Nông), luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công, Học
viện Hành chính Quốc gia. Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng ĐTBD công chức tỉnh
Đăk Nông trên một số khía cạnh về xây dựng thể chế về ĐTBD gồm các quy định của
Nhà nước về ĐTBD, các biện pháp triển khai thực hiện quy định của Nhà nước, chính
sách của địa phương. Từ đó, đề xuất ba nhóm giải pháp đối với cơ quan QLNN; cơ sở
đào tạo và với công chức nhằm góp phần nâng cao chất lượng QLNN về ĐTBD tại địa
phương.
Nguyễn Tuấn Anh (2013), ĐTBD công chức ngành hải quan từ thực tiễn tại Cục
Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện
Hành chính Quốc gia. Tác giả hệ thống một số lý luận chung về ĐTBD công chức
ngành hải quan; kinh nghiệm của một số nước về ĐTBD công chức (Pháp, Nhật bản,
Singapore). Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng ĐTBD công chức ngành hải quan tại
Cục Hải quan thành phố Hồ
Chí Minh về chương trình, giáo trình; tổ chức, phương thức ĐTBD; đội ngũ giảng viên
để đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng ĐTBD như: hoàn thiện hệ thống văn
bản; tổ chức bộ máy ĐTBD; hệ thống chương trình, giáo trình, tài liệu ĐTBD; chú
trọng đánh giá sau ĐTBD.
Nguyễn Vũ Lâm (2015), Nâng cao chất lượng ĐTBD đội ngũ công chức Sở
Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công,
Học viện Hành chính Quốc gia. Tác giá phân tích thực trạng ĐTBD công chức tại Sở
Giao thông vận tải qua công tác xác định nhu cầu ĐTBD, xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện, đánh giá kết quả ĐTBD và đề xuất 8 giải pháp về nhận thức, quan tâm thực
hiện xác định nhu cầu ĐTBD, xây dựng và thực hiện kế hoạch trên cơ sở vị trí việc làm,
nhu cầu thực tiễn tại đơn vị, chế độ chính sách hỗ trợ, đổi mới chương trình ĐTBD, xây

8


dựng đội ngũ giảng viên ... nhằm góp phần nâng cao chất lượng ĐTBD tại Sở Giao
thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh.

Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách ĐTBD
CBCC quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2015 - 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp với nghiên
cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận liên ngành, đa ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập phân tích
và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, các bài viết,
các văn kiện, tài liệu, nghị quyết Đảng, nghị định, thông tư của Nhà nước, bộ ngành ở
Trung ương và địa phương để làm rõ
những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC.
Đề tài vận dụng phương pháp thống kê, thu thập số liệu từ các báo cáo, tài liệu
thống kê của chính quyền cấp quận, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị; kết hợp với phương
pháp khái quát thực tiễn, phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải nhằm phân tích
thực trạng việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC quận Bình Thạnh trong những năm
gần đây; từ đó, đưa ra định hướng, quan điểm, giải pháp cho chính sách ĐTBD CBCC
quận Bình Thạnh trong những năm tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận của tổ chức thực hiện chính sách
ĐTBD CBCC.

Ý nghĩa thực tiễn:
Trong Luận văn đã đánh giá thực trạng thực hiện chính ĐTBD CBCC trên địa
bàn quận ở Thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra những ưu điểm và bất cập trong việc thực
hiện chính sách trên để từ đó đề xuất một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách
ĐTBD CBCC cho phù hợp với bối cảnh mới của đất nước và Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Cơ cấu
1


1
1


- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định;
nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính
toán và chủ đích rõ ràng.
1.1.2. Khái niệm về chính sách công
Trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công. Tuy nhiên,
Birkland (2005) đã giúp thu thập và tổng hợp những quan điểm phổ biến về chính sách
công, theo ông, có 3 cách hiểu cơ bản:
- “Chính sách công nhằm chỉ các hành động của chính phủ và các mục tiêu cân
nhắc các hành động này (Clarke E. Cochran vàmộtsốtácgiảkhác).
- “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị đối với các chương trình
đang thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu xã hội”(CharlesL. Cochran vàEloiseT. Malone).
- “Chính sách công là toàn bộ hoạt động của chính phủ, bất kể là hoạt động
trực tiếp hay thông qua các tổ chức nhà nước, có ảnh hưởng đến công dân” (B. Guy
Peters).
Có một định nghĩa gần đây cũng được thế giới chấp nhận một cách rộng rãi. Đó là định nghĩa của William
Jenkin, theoông,“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của
một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu
và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”.[35]
Còn ở Việt Nam, tác giả Lê Chi Mai của Học viện Hành chính quốc gia có một
số đúc kết quan trọng về nội hàm của chính sách công [31]. Đó là:
+ Nhà nước chính là chủ thể ban hành chính sách công. Nhà nước ở đây được
hiểu là bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp.
+ Chính sách công là những quyết định hành động, thể hiện dự định của nhà
hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó và những hành vi thực hiện các dự định đó.
+ Mục đích của chính sách công là giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời

gian thực hiện ngắn hơn, thông thường là từ vài ngày đến vài tuần. Về cơ bản, đào tạo
được xem là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những
tiêu chuẩn nhất định"; bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng
thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Nhìn chung, cả đào tạo và bồi dưỡng đều là quá trình
làm cho người ta thông qua học tập, rèn luyện trau dồi, bổ sung nâng cao năng lực của
bản thân để họ làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn giúp họ phát huy tối đa năng lực của bản
thân đáp ứng nhu cầu của bản thân và yêu cầu của tổ chức [7].
1.2. Một số quan điểm về thực hiện chính sách ĐTBD CBCC

1
4


1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD CBCC
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐTBD, trọng dụng nhân tài được tìm thấy ở trong
những tác phẩm lớn của Người: Đường Kách mệnh (1927), Tìm người tài đức (1946),
Sửa đổi lối làm việc (1947), Đào tạo cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng
quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969) ... Đặc biệt, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
vấn đề cán bộ, đào tạo cán bộ thể hiện ngay trong việc làm, tính gương mẫu, tấm gương
đạo đức, cách đối nhân xử thế của Người. Tư tưởng về vấn đề cán bộ, công tác cán bộ
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Chủ tịch Hồ
Chí Minh bằng lý luận và hoạt động thực tiễn đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh,
trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài, bao hàm cả
việc khai thác, phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ và trọng dụng nhân tài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [30, tr. 269], “Muôn
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [30, tr. 240], việc “huấn luyện cán
bộ là công việc gốc của Đảng" [30, tr. 269], nội dung huấn luyện cần tập trung “Huấn luyện nghề
nghiệp, huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hóa, huấn luyện lý luận. Học lý luận, phải
nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế" [35]. NgườichorằngcánbộlàvốncủaĐảng,có
vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì

tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, dẫn đến sự chấn hưng đất nước. Sinh thời, Hồ
Chí Minh rất ít dùng thuật ngữ “phương pháp” mà thuật ngữ Người dùng là “cách” như
“cách quản lý”, “cách dùng người”. Hồ Chí Minh nhiều lần nói cái quý nhất là việc làm
tích cực của mỗi cá nhân, tổ chức. Giá trị đích thực của mỗi tổ chức, mỗi con người là ở
việc làm chứ không phải lời nói. Trong công tác cán bộ và trọng dụng nhân tài, thông
thường, người ta thường xét cả về quá khứ, hiện tại, tương lai. Theo Người, cái quan
trọng nhất là hiện tại, còn cái quá khứ chỉ để tham khảo. Người lãnh đạo không nên
định kiến với cái quá khứ mà nên xét thực chất cái hiện tại. Có nhìn thấu hiện tại mới có
thể đoán định được tương lai của người cán bộ đó, xem có thể bố trí được công việc gì
phù hợp.
Về phương pháp, cách thức ĐTBD CBCC, Hồ Chí Minh coi ĐTBD, huấn luyện
cán bộ là việc làm rất quan trọng, là “công việc gốc của Đảng”, phải được tiến hành
thường xuyên. Phải xác định rõ mục tiêu ĐTBD cán bộ với các yếu tố cơ bản: học thức,
1
6


đạo đức cách mạng, tác phong và năng lực công tác. Nhưng tùy từng giai đoạn cách
mạng, tùy vào tình hình cụ thể mà Người đặt ra mục đích, nhiệm vụ ĐTBD cán bộ. Đầu
tư cho công tác ĐTBD cán bộ phải có kinh phí tương xứng với yêu cầu, không nên bủn
xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện.
Những người lãnh đạo phải tham gia giảng dạy các lớp ĐTBD cán bộ Đảng,
việc giảng dạy cũng cần phải chú ý đến người thực hiện công tác này: Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh, phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó.
Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy. Nội dung ĐTBD cán bộ phải thiết
thực, cơ bản và toàn diện. Thời gian đào tạo dài hay ngắn, số lượng cán bộ nhiều hay ít,
phải xuất phát từ tình hình thực tế, từ yêu cầu sử dụng cán bộ mà định ra thời gian, nội
dung chương trình, sắp xếp cán bộ giảng dạy các lớp ĐTBD cán bộ.
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh phải đào tạo một đội ngũ cán bộ có gan phụ trách,
có gan làm việc, ham làm việc, có thế Đảng mới thành công. Nếu đào tạo một mớ cán

chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới”.
Văn kiệnĐạihộiXIcủaĐảngđặtvấnđề:“Trọng dụng người có đức, có tài. Nâng cao chất
lượng công tác ĐTBD cán bộ. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu
chuẩn, quy trình đã được quy định, lấy hiệu quả công tác và sự tín nhiệm của nhân dân
làm thước đo chủ yếu' và khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ.
Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi
mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ.
Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, ĐTBD
cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài”. “Xây dựng và thực hiện nghiêm các
cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, ĐTBD cán bộ; trọng dụng những người có
đức, có tài. Nâng cao chất lượng công tác ĐTBD cán bộ; khắc phục tình trạng chạy
theo bằng cấp. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ,
dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến
lược. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuan, quy trình đã được
bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm
thước đo chủ yếu. Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa”.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng chỉ rõ nhiệm vụ “tập trung xây dựng đội
ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và pham chất, ngang
tầm nhiệm vụ”. Phát hiện kịp thời các nhân tố mới, có triển vọng, bồi dưỡng và đào tạo
hợp lý, không để lãng phí cán bộ, không để chảy máu chất xám, sao cho ngày càng có
nhiều cán bộ chiến lược tốt, cán bộ chiến lược giỏi, trung thực, dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm, có bản lĩnh sáng tạo, đổi mới, bứt phá để phát triển. Cải cách căn bản
chính sách tiền lương, bảo đảm đãi ngộ xứng đáng với cống hiến của mỗi người, tạo cơ
hội, môi trường, điều kiện cho cán bộ phát triển.
2
0


Đảng ta thực hiện đúng đắn nguyên tắc thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và
quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng

Như vậy, mục tiêu của ĐTBD CBCC là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương
pháp thực hiện nhiệm vụ cả về kiến thức chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà
nước, ngoại ngữ, tin học ... góp phần xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp có đủ
năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.
1.3.2. Nội dung thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Theo Điều 4 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/8/2003 của Thủ tướng
Chính phủ, Điều 6 Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ, nội dung
ĐTBD công chức bao gồm:
- Nội dung ĐTBD ở trong nước về: Lý luận chính trị; Chuyên môn, nghiệp vụ;
Kiến thức pháp luật; quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học, ngoại ngữ,
tiếng dân tộc và các kiến thức bổ trợ khác.
- Nội dung bồi dưỡng ở ngoài nước gồm: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng
quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành; Kiến thức, kinh nghiệm hội
nhập quốc tế.
Khi xem xét ĐTBD CBCC cần chú ý đến một số nhóm yếu tố sau:
a) Xây dựng kế hoạch ĐTBD
Để thực hiện chính sách ĐTBD CBCC, các cơ quan từ Trung ương đến địa
phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách và xác định được chính xác,
cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch tổ chức điều hành; trong kế hoạch cung
cấp các nguồn vật lực (bao gồm cả nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật) cho
việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC. Cùng với xây dựng kế hoạch thực hiện chính
sách, phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách.
b) Xây dựng nội dung chương trình ĐTBD
Thiết kế nội dung khóa học: Nguyên tắc cơ bản là nội dung của chương trình
ĐTBD phải đáp ứng được nhu cầu của người học. Hay nói khác đi, mục tiêu để thiết kế
nội dung, chương trình ĐTBD phải dựa trên nhu cầu của người học. Thiết kế chương
trình phụ thuộc rất lớn vào tính chính xác của việc xác định nhu cầu ĐTBD.
c) Tổ chức tuyển sinh (kết hợp với xã, phường................cán bộ đương
2
2

2
3


góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách. Để theo dõi, kiểm
tra việc thực hiện chính sách phát triển CBCC cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của
chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp
thực hiện chính sách. Đồng thời, nắm chắc và chính xác các quy định trong kế hoạch
thực hiện chính sách, quy chế và nội quy thực hiện chính sách.
1.3.3. Hình thức tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
ĐTBD CBCC có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau. Có
nhiều cách để phân loại các hình thức ĐTBD CBCC, tùy điều kiện cụ thể có thể áp
dụng thích ứng các hình thức. Theo Điều 22 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày
04/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ, các hình thức cơ bản tổ chức ĐTBD CBCC là tập
trung, bán tập trung và tại chức. Theo Điều 15 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày
05/3/2010 của Chính phủ, các hình thức tổ chức ĐTBD công chức gồm 04 hình thức:
Tập trung; Bán tập trung; Vừa làm vừa học; Từ xa.
Thứ nhất, hình thức đào tạo tập trung: đây là hình thức đào tạo mà người học
phải dành toàn bộ thời gian cho học tập và nghiên cứu theo quy định của chương trình
tại cơ sở đào tạo. Tùy từng bậc học mà quy định việc tập trung thời gian nhiều hay ít
nhằm bảo đảm việc học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo. Trong đó, tập trung bậc trung
học chuyên nghiệp là 2 năm, cao đẳng tập trung học 3 năm, đại học tùy theo khối ngành
đào tạo mà có thời gian tập trung học tập tại cơ sở đào tạo từ 4 năm trở lên; đào tạo sau
đại học, chương trình thạc sĩ phải có thời gian học tập trung 2 năm, thời gian đào tạo
tiến sĩ từ 2 đến 3 năm đối với người có bằng thạc sĩ và 4 năm đối với người có bằng đại
học.
Thứ hai, hình thức đào tạo bán tập trung: đây là hình thức đào tạo mà học viên
vừa công tác vừa theo học một số buổi trong tuần hoặc một số ngày trong tháng, học
viên được tạo điều kiện học tập xen kẽ với làm việc. Đối với hình thức đào tạo này,
người học được dành một phần thời gian làm việc khác, nhưng tổng thời gian dành cho

1.3.4. Nguyên tắc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC
Theo Điều 3 Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/8/2003 của Thủ tướng
Chính phủ, việc ĐTBD công chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, tiêu
chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch, chức danh công chức; quy hoạch, kế hoạch xây dựng
2
5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status