THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI - Pdf 53

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM CHÍ THỊNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội, năm 2018

1


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM CHÍ THỊNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Chính sách công
Mã số : 834.04.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HUY HOÀNG

Hà Nội, năm 2018

CBCC trong thực thi công vụ được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên, trong quá trình tổ
chức triển khai thực hiện chính sách một bộ phận CBCC còn bộc lộ sự yếu kém về

3


năng lực, kỹ năng, phương pháp trong thực hiện làm ảnh hưởng tới mục tiêu của
chính sách. Một phần của nguyên nhân trên bởi do hệ thống chính sách về ĐTBD
chưa thật sự hợp lí, tổ chức thực hiện chính sách chưa khoa học làm ảnh hưởng tới
hiệu quả của việc thực hiện chính sách ĐTBD.
Với đặc thù là cơ quan hành chính nhà nước với gần 15 năm hình thành và
phát triển. Trong những năm gần đây, công tác ĐTBD CBCC tại huyện Thống
Nhất, tỉnh Đồng Nai được tiến hành định kỳ thường xuyên và được các cấp lãnh đạo
quan tâm sâu sắc. Bên cạnh việc khuyến khích CBCC đi học tập nâng cao trình độ
về chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, kỹ năng, phẩm chất đạo đức để không ngừng
nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của địa phương. Một mặt đáp ứng những yêu
cầu, thách thức mới của thời kỳ hội nhập, mặt khác để thực hiện có hiệu quả của
chương trình Cải cách hành chính mà Đảng, Nhà nước đã đề ra. Từ tình hình thực
tiễn cũng như yêu cầu trong thời gian tới, chính quyền huyện Thống Nhất đã rất chú
trọng trong công tác cán bộ, đặc biệt trong công tác ĐTBD. Tuy nhiên, trong tổ
chức thực hiện chính sách ĐTBD tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai còn có
những bất cập nhất định chưa đáp ứng được mục tiêu của chính sách đã đề ra, làm
giảm hiệu quả của chính sách ĐTBD CBCC. Vì vậy, để thực hiện chính sách đạt
hiệu quả cao việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC là một vấn đề có ý nghĩa cấp
thiết, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại huyện Thống Nhất.
Thông qua việc nghiên cứu, đánh giá việc triển khai thực hiện chính sách
ĐTBD CBCC từ thực tiễn của địa phương, đồng thời có những đề xuất nhằm hoàn
thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách ĐTBD CBCC trong
thời gian tới. Từ thực tiễn trên Học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng

ĐTBD CBCC; công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết phục vụ
hoạt động ĐTBD được các nước đặc biệt chú trọng.
Nghiên cứu của Ngô Thành Can (2014), “Cải cách quy trình đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ”, Tạp chí Quản
lý nhà nước số 05/2014. [7]. Qua bài viết tác giả đã tập trung làm rõ quan niệm về
ĐTBD CBCC; quy trình ĐTBD: xác định nhu cầu đào tạo, lập kế hoạch, thực hiện
kế hoạch, đánh giá ĐTBD; kết quả thực hiện quy trình ĐTBD CBCC thời gian qua

5


và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình ĐTBD CBCC: đảm bảo thực
hiện tốt quy trình gồm 4 bước cơ bản: xác định nhu cầu, lập kế hoạch, thực hiện kế
hoạch và đánh giá ĐTBD; phát triển đội ngũ giảng viên có kiến thức và năng lực
phù hợp với nội dung ĐTBD với 4 vấn đề quan trọng liên quan đến nhau: Cơ quan
quản lý đào tạo, cơ sở đào tạo, người học và người dạy; thành lập quỹ quốc gia
ĐTBD. Quỹ đặt dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản lý đào tạo cao nhất để thực hiện
nhiệm vụ tuyển chọn CBCC có đủ năng lực, có thành tích học tập xuất sắc đi học
tập, nghiên cứu ở nước ngoài và ĐTBD chuyên sâu ở trong nước để tạo ra một đội
ngũ CBCC trẻ tài năng cho công vụ với mục đích cuối cùng nhằm nâng cao hiệu
quả công tác thực thi công vụ của đội ngũ CBCC một cách có hiệu quả nhất.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị La (2015), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức trong quá trình cải cách hành chính”, Tạp chí Cộng sản số 9/2015. [23]. Tập
trung vào đánh giá thực trạng công tác ĐTBD CBCC hiện nay, nêu ra mối liên hệ
giữa hiệu quả công tác ĐTBD CBCC với chủ trương, nội dung cải cách hành chính
của nhà nước. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế của công tác ĐTBD
CBCC; một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa coi trọng đúng mức công tác
ĐTBD; CBCC chủ yếu vừa học vừa làm nên công việc chi phối quá trình học tập,
thời gian dành trọn vẹn cho việc học tập không nhiều; quá trình đào tạo chưa đi liền
với bố trí và sử dụng sau khi được cử đi ĐTBD, hay công tác này còn mang nặng

trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN để ĐTBD CBCC trong những
năm tới. Tuy nhiên, với vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đội ngũ
CBCC có trình độ cao đáp ứng yêu cầu trong thời kì hội nhập hiện nay và tầm nhìn
trong tương lai. Chúng ta cần có nhiều hơn nữa các đề tài, các công trình nghiên
cứu về vấn đề này nhằm tìm kiếm, xây dựng và đề xuất các giải pháp hướng tới
hoàn thiện thực hiện chính sách ĐTBD CBCC. Cụ thể, việc nghiên cứu dưới góc độ
khoa học chính sách công về ĐTBD CBCC từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh
Đồng Nai hiện nay chưa có đề tài, công trình nào nghiên cứu. Theo đó, xuất phát từ
những lí do nêu trên học viên mạnh dạn chọn đề tài này làm Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Chính sách công của mình. Đề tài nghiên cứu thực hiện chính sách
ĐTBD của học viên có sự kế thừa cũng như phát triển những thành quả của các tài
liệu liên quan trước đó. Từ đó để có thể phân tích, đánh giá thực trạng làm tiền đề
để đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

7


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách
ĐTBD CBCC từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, qua đó Luận văn đề
xuất các giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách ĐTBD CBCC nhằm đáp ứng nhu
cầu phát triển trong tương lai tại địa phương.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Thứ hai: khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện Thống Nhất.
Thứ ba: đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện Thống Nhất.

đánh giá quá trình thực hiện chính sách.
Phương pháp thu thập thông tin: thu thập và kế thừa thông tin từ các nguồn
sẵn có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết
của Đảng, chính sách của Nhà nước ở trung ương và địa phương, các công trình
nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo tài liệu thống kê…. của chính quyền
liên quan trực tiếp tới chính sách ĐTBD CBCC ở nước ta nói chung và từ thực tiễn
huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu và chọn mẫu điều tra
ngẫu nhiên: để có thêm thông tin một cách khách quan hơn nhằm đánh giá và nhận
xét về thực hiện chính sách, học viên tiến hành chọn mẫu điều tra với đối tượng là
đội ngũ CBCC tại khu vực nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo
các phòng ban và CBCC của huyện (05 CBCC) trong quá trình thực hiện chính
sách. Cụ thể, tiến hành thu thập thông tin thông qua hình thức phát phiếu thu thập
thông tin (100 phiếu) đã được xây dựng trước xoay quanh nội dung thực hiện chính
sách và được gửi đến trực tiếp CBCC trong quá trình thực hiện nội dung các bước
từ lập kế hoạch, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp thực hiện, duy trì, điều
chỉnh chính sách, công tác đôn đốc thực hiện và đánh giá tổng kết thực hiện. Đồng
thời, đánh giá quá trình thực hiện các nội dung của khóa ĐTBD cũng như tiến hành
đi sâu vào phỏng vấn thông qua các câu hỏi về những thuận lợi, khó khăn của cá

9


nhân, cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện chính sách, việc được tiếp cận chính
sách ĐTBD cho một số đối tượng.
Phương pháp xử lý số liệu: tổng hợp xử lý số liệu, trên cơ sở những số liệu
học viên thu thập được trong quá trình điều tra khảo sát bằng bảng hỏi để đảm bảo
tính chính xác với các cách tính toán toán học.
Ngoài ra, học viên còn sử dụng kết hợp phương pháp thống kê, khái quát
thực tiễn, phương pháp phân tích định lượng, định tính, suy luận logic, diễn giải,

Khoản 2, Điều 4 Luật CBCC quy định: “Công chức là công dân Việt Nam,
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong
bộ máy lãnh đạo; quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [26].
Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật…” [8].
Khoản 1, Điều 4 Luật CBCC quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được
bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan
của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [26].

11


1.1.2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển
nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực hành chính công nói riêng
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo bồi
dưỡng công chức quy định “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống

là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ CBCC nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao
kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.
1.1.3. Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Cho đến thời điểm hiện tại có không ít định nghĩa khác nhau của các học giả
trong và ngoài nước về chính sách công. Theo Thomas Dye (1972): Chính sách
công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hay không làm. William Jenkins
(1978) cho rằng: Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau do
một hoặc một nhóm nhà hoạt động chính trị ban hành, liên quan tới lựa chọn các
mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc
phạm vi thẩm quyền.
Ở trong nước, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Hải (2013), trong cuốn Chính
sách công - những vấn đề cơ bản quan niệm: “Chính sách công là kết quả ý chí
chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan
với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn
đề công trong xã hội” [16].
Với rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về chính sách công. Tuy
nhiên định nghĩa của PGS. TS Đỗ Phú Hải (2014) được nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết sử dụng tại Khoa Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội, định
nghĩa: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn
mục tiêu cụ thể và lựa chọn các giải pháp, cung cụ nhằm giải quyết các vấn đề của
xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [17].
Căn cứ vào những quan điểm về chính sách công, về ĐTBD đã đề cập ở trên
có thể nêu ra quan điểm về chính sách ĐTBD CBCC như sau: Chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau,
nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện để nâng cao trình độ, năng lực,

13


phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, đáp ứng


Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đội ngũ cán bộ nước ta có bước trưởng
thành và tiến bộ về nhiều mặt, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong thời kỳ mới
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. [13]
Hội nghị Trung ương 7, khóa XI đã ra Kết luận số 64-KL/TW ngày
28/5/2013 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ
Trung ương đến cơ sở”. Mục tiêu đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung
ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định,
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ CBCC có số lượng hợp lý, có
phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng
cao, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và có tiền lương, thu nhập
bảo đảm cuộc sống. [14]
Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII ra Nghị quyết
số 04-NQ/TW ngày 30/4/2016 “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
"tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ”. Kiên quyết khắc phục những yếu
kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo
đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu,
luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. [15]
Những chủ trương của Đảng được đưa ra khi nhận thấy vị trí, vai trò quan
trọng của đội ngũ CBCC trong xây dựng, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế. Đồng
thời, đội ngũ CBCC trong thực thi công vụ còn nhiều hạn chế, bất cập về năng lực,
kỹ năng. Vì vậy, thông qua các kỳ Đại hội Đảng đã rất chú trọng đến công tác
ĐTBD CBCC thông qua các chủ trương lớn nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về
chất lượng và hiệu quả ĐTBD, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp có
đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp
phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế.




Với mục tiêu nhất quán nhằm tạo sự thay đổi, chuyển biến tích cực về số
lượng, chất lượng và hiệu quả công tác thông qua hoạt động ĐTBD, xây dựng được
đội ngũ CBCC có đủ trình độ, phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu thực thi
công vụ, phục vụ nhân dân góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước. Các
chính sách mà Nhà nước ta đưa ra qua các thời kỳ ngày càng được hoàn thiện hơn,
từ việc xác định đối tượng, yêu cầu, nội dung, hình thức ĐTBD…để đội ngũ CBCC
đáp ứng được các yêu cầu trong thực thi công vụ.
1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức
Tổ chức thực hiện chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính
sách, nhằm biến chính sách vào hiện thực đời sống xã hội để đạt được các mục tiêu
theo định hướng. Đối với một chính sách cụ thể như chính sách ĐTBD CBCC, việc
thực hiện chính sách này có ý nghĩa rất đặc biệt, cụ thể ở các mặt sau:
Thứ nhất: Nhằm biến ý đồ chính sách thành hiện thực. Chính sách thể hiện ý
chí và thái độ của nhà nước trước một vấn đề cụ thể, hay nói một cách khác chính
sách là một công cụ được nhà nước sử dụng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình
đến các đối tượng quản lý thông qua một chính sách cụ thể được thể hiện trong các
văn bản quy phạm pháp luật. Việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC nhằm từng
bước nâng cao chất lượng đội ngũ này về mặt năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ
năng giải quyết công việc, xử lý vấn đề mà mỗi cá nhân được đảm nhận. Một chính
sách có thể coi là thất bại nếu không được đưa vào tổ chức thực hiện, không biến ý
chí của chủ thể ban hành vào trong điều kiện thực tiễn.
Thứ hai: Nhằm từng bước hiện thực hóa các mục tiêu chính sách và mục tiêu
chung. Có thể khẳng định rằng mục tiêu của chính sách ĐTBD CBCC chỉ đạt được
khi chính sách đó được đưa vào thực hiện. Bởi lẽ, việc thực hiện chính sách ĐTBD
bao gồm tổng thể các hoạt động có tổ chức được chính phủ thực hiện nhằm hướng
tới các mục tiêu. Trong quá trình đưa chính sách ĐTBD vào thực hiện các cơ quan
thực hiện chính sách phải xây dựng được các chương trình, đề án, kế hoạch và các

trách nhiệm thực hiện nội dung của chính sách ĐTBD CBCC. Bên cạnh đó cũng
bao gồm cả đội ngũ CBCC - đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách ĐTBD.

18


Hay nói cách khác, chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách ĐTBD CBCC là các cơ
quan, đơn vị, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ QLNN về CBCC - Bộ Nội vụ.
Chủ thể gián tiếp thực hiện chính sách: các cơ quan, đơn vị và tổ chức có
trách nhiệm phối kết hợp trong công tác tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD
CBCC. Cụ thể, trong thực hiện chính sách ĐTBD CBCC có sự phối kết hợp của các
bên hữu quan như Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Kế hoạch và đầu tư …
Theo đó, sau khi ban hành chính sách để thực hiện chính sách một cách cụ
thể cần có sự phối kết hợp một cách nhịp nhàng của nhiều các chủ thể khác nhau
mang tính liên ngành, đa ngành. Vì thế, để đảm bảo chính sách có tính khả thi, tính
đúng đắn và đạt được các mục tiêu của chính sách cần phải có kế hoạch, phân công,
phối hợp thực hiện giữa các bên liên quan.
Chủ thể ban hành chính sách ĐTBD CBCC: các cơ quan có thẩm quyền ban
hành chính sách bao gồm, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Nội vụ.
1.5. Nội dung các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức
1.5.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức
Thực hiện chính sách nói chung và thực hiện chính sách ĐTBD CBCC nói
riêng là một quá trình tương đối phức tạp, có thể diễn ra trong một thời gian dài. Vì
vậy phải xác định được công tác lập kế hoạch, chương trình để các bên triển khai
thực hiện một cách chủ động có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo đó, kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ĐTBD bao gồm rất nhiều
các nội dung khác nhau: kế hoạch về thời gian thực hiện chính sách; kế hoạch tổ
chức, điều hành; kế hoạch phân công phối hợp thực hiện; cung cấp các nguồn vật

cơ quan: Nội vụ, Tài chính, Kế hoạch và đầu tư…. Trong hoạt động này cần lưu ý
tới đặc điểm, thế mạnh của từng cá nhân, cơ quan, đơn vị trong phối hợp thực hiện
tránh tình trạng chồng chéo, trùng lặp, không rõ trách nhiệm hay không đủ năng lực
thực hiện chính sách. Bởi thực tiễn chỉ ra rằng hiệu quả, kết quả thực hiện phụ thuộc
phần lớn vào năng lực thực hiện, khả năng phối hợp giữa các bên thực hiện.
1.5.4. Duy trì thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Để có thể duy trì thực hiện chính sách ĐTBD CBCC theo định hướng mục
tiêu cần phải thường xuyên kiểm tra quá trình thực hiện, đánh giá thực hiện và đề

20


xuất các giải pháp để thực hiện tốt việc duy trì chính sách. Thường xuyên kiểm tra
giúp nhà quản lý nắm bắt được điểm mạnh, điểm yếu trong thực hiện từ đó có
những điều chỉnh để duy trì chính sách. Bên cạnh đó, phải quan tâm đến đánh giá
thực hiện chính sách để các đối tượng thực hiện chính sách ĐTBD biết được những
hạn chế trong quá trình thực hiện, từ đó nhận thức đúng vị trí, trách nhiệm, quyền
lợi, nghĩa vụ của mình trong thực hiện chính sách. Việc kiểm tra, đánh giá nhằm
chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện giúp duy trì, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực
hiện mục tiêu. Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD các cơ quan tổ
chức và cá nhân CBCC thực hiện chính sách cần có những tham mưu, đề xuất các
giải pháp nhằm duy trì chính sách trong điều kiện thực tế. Bởi trong quá trình thực
hiện do môi trường thực hiện luôn thay đổi hoặc gặp những khó khăn tác động nhất
định. Do đó đòi hỏi đội ngũ CBCC khi thực hiện chính sách ĐTBD phải có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức nhất định để đảm bảo có thể tạo lập được một
môi trường thuận lợi nhất cho quá trình thực hiện chính sách trong điều kiện thực tế
địa phương mình.
1.5.5. Điều chỉnh thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Điều chỉnh chính sách là hoạt động cần thiết trong quá trình tổ chức thực
hiện chính sách ĐTBD CBCC bởi môi trường thực tế thực hiện chính sách luôn

1.5.7. Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức
Trong quá trình duy trì chính sách các cơ quan, đơn vị, cá nhân được giao
nhiệm vụ có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện, trong đó đánh
giá toàn bộ được thực hiện sau khi chính sách hết hiệu lực. Đánh giá, tổng kết rút
kinh nghiệm thực hiện chính sách là hoạt động nhằm đưa ra những kết luận, đánh
giá về sự điều hành và chấp hành của các đối tượng liên quan trong quá trình tổ
chức thực hiện chính sách ĐTBD CBCC.
Cụ thể, hoạt động đánh giá, tổng kết về chỉ đạo điều hành và chấp hành thực
hiện chính sách ĐTBD nhắm vào đối tượng là các cơ quan nhà nước trong quá trình
ban hành và thực hiện chính sách. Cơ sở để đánh giá, tổng kết là các kế hoạch được
giao và căn cứ vào những nội quy, quy chế đã được xây dựng. Đồng thời, cần có sự
kết hợp sử dụng một số các văn bản quy phạm, văn bản liên tịch để có thể xem xét,

22


đánh giá tình hình phối hợp thực hiện chính sách của nhà nước với các tổ chức
chính trị - xã hội.
Bên cạnh đó cũng cần phải chú trọng xem xét đánh giá việc thực hiện chính
sách ĐTBD của các đối tượng CBCC tham gia quá trình thực hiện, bao gồm cả đối
tượng thụ hưởng từ chính sách. Quá trình đánh giá thường hướng đến tinh thần
hưởng ứng việc thực hiện các mục tiêu của chính sách cũng như đánh giá ý thức
chấp hành những quy định, quy chế do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Nhằm
thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của chính sách ĐTBD.
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức
1.6.1. Các yếu tố bên ngoài
Tính chất của vấn đề chính sách ĐTBD CBCC: tính chất của vấn đề chính
sách tác động một cách trực tiếp đến cách thức, biện pháp giải quyết vấn đề và quá

Tiềm lực các nhóm đối tượng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC: những
tiềm lực mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng
khác. Cụ thể, trong chính sách ĐTBD CBCC tiềm lực thuộc về đối tượng thụ hưởng
chính sách - đội ngũ CBCC, tiềm lực kinh tế của đối tượng thụ hưởng chính sách và
các đối tác hỗ trợ thực hiện chính sách ĐTBD quyết định mức độ tham gia vào quá
trình thực hiện chính sách của CBCC. Trong trường hợp vì lí do kinh tế mà đội ngũ
CBCC - đối tượng thụ hưởng chính sách, không thể tiếp cận được với các mục tiêu
của chính sách thì coi như chính sách đó thất bại. Bên cạnh đó, các đối tác không
nhiệt tình tham gia thì mục tiêu chính sách cũng không đạt được. Tiềm lực của đội
ngũ CBCC hiện nay có nhiều thuận lợi hơn trong việc thực hiện chính sách này.
Đặc tính của đối tượng thực hiện chính sách ĐTBD CBCC: những tính chất
mang tính đặc trưng mà đối tượng thực hiện có được từ đặc tính cố hữu hay do môi
trường sống tạo nên. Đội ngũ CBCC hiện nay đa phần là những người có năng lực,
trình độ, có tinh thần trách nhiệm, kỉ luật, lòng quyết tâm trong công việc. Vì vậy
khá nhanh nhạy trong tiếp nhận các chính sách mới và nhanh chóng thực hiện chính
sách ĐTBD một cách có hiệu quả, đây được xem là những thuận lợi trong thực hiện
chính sách ĐTBD CBCC ở nước ta hiện nay.

24


1.6.2. Các yếu tố bên trong
Mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách
ĐTBD CBCC: là yêu cầu mang tính quan trọng hàng đầu, việc tuân thủ đầy đủ các
bước có vai trò quan trọng bởi mối liên hệ tương tác giữa các bước đến hiệu quả của
chính sách. Thực tế cho thấy hiệu quả công tác ĐTBD CBCC ở nước ta hiện nay
một phần kém hiệu quả do tuân thủ các bước trong tổ chức thực hiện đặc biệt là
trong phổ biến tuyên truyền, lập kế hoạch, phân công phối hợp của của các cấp chưa
được đầy đủ dẫn đến hiệu quả của chính sách chưa được như mong muốn.
Năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức: hiệu quả, kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status