Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Kạn - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC LUẬN VĂN THẠC SỸ

ĐẶC TRƯNG KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA
HỘ NGHÈO TẠI TỈNH BẮC KẠN CHUYÊN NGÀNH : XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ : 60 31 30
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. VŨ HÀO QUANG
NGƯỜI THỰC HIỆN : ĐẶNG ĐỖ QUYÊN


1.3. Một số khái niệm công cụ của đề tài 31
Chương 2. Đặc trưng kinh tế của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Kạn

ii
2.1. Tình trạng và mức độ nghèo đói của hộ nghèo thông qua đo lường
thu nhập - chi tiêu của hộ nghèo 38
2.2. Đất đai, tài sản và điều kiện sinh hoạt của hộ nghèo 48
2.3. Tình trạng hoạt động kinh tế và tình trạng việc làm của hộ nghèo 63
Nhận xét và bình luận 68
Chương 3. Đặc trưng xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Kạn
3.1. Thành phần dân tộc 70
3.2. Quy mô và kiểu loại hộ 74
3.3. Trình độ học vấn của người nghèo 79
3.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người nghèo 86
3.5. Quan hệ giới, cơ cấu tuổi và tình trạng hôn nhân của chủ hộ 92
Nhận xét và bình luận 97
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị
3.1. Kết luận 101
3.2. Những khuyến nghị cho công cuộc xoá đói giảm nghèo thời gian tới
của tỉnh Bắc Kạn 105
Tài liệu tham khảo 108
Phụ lục 1 113
Phụ lục 2 116 iii
Biểu
Biểu 1: Tỷ lệ nghèo của các xã/phường được khảo sát 30
Biểu 2: Cơ cấu thu nhập 39
Biểu 3: Tổng thu nhập của hộ và thu nhập bình quân 41

Khung
Khung 1: Tình hình thu nhập - chi tiêu của hộ nghèo 47
Khung 2: Tình trạng thiếu đất sản xuất của hộ dân tộc thiểu số 50
Khung 3: Chất lượng đất sản xuất 52
Khung 4: Hộ nghèo mong muốn được hỗ trợ đất sản xuất 54
Khung 5: Tình trạng nhà ở 56
Khung 6: Nhu cầu được hỗ trợ tạo việc làm của hộ nghèo 67
Khung 7: Tình trạng bỏ học trẻ em 85
Khung 8: Thiếu trình độ CMKT, không được đào tạo là một nguyên nhân
dẫn đến nghèo đói 89
Khung 9: Ý kiến của người nghèo về cách thức vươn lên thoát nghèo 91 1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được khởi xướng vào năm 1986 đã mang
lại những thay đổi sâu sắc, nhiều mặt trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của
đất nước. Trải qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta luôn đạt mức tăng
trưởng cao, làm thay đổi tích cực đời sống của hàng triệu người dân. Từ một
nước nông nghiệp lạc hậu, thiếu lương thực thường xuyên, Việt Nam đã vươn
lên thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Chính sách
mở cửa, hội nhập đã mở ra những cơ hội chưa từng có cho người dân trong sản
xuất kinh doanh, việc làm và đời sống. Việt Nam đã trở thành một trong những
nước có tốc độ tăng trưởng ngoại thương cao nhất thế giới, môi trường đầu tư
ngày càng được cải thiện cộng với các điều kiện tự nhiên và nguồn nhân lực

Tuy nhiên, kết quả xoá đói giảm nghèo lại chưa thật sự vững chắc và chưa
đồng đều. Tỷ lệ nghèo đặc biệt cao ở các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc ít
người và các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển (các tỉnh miền núi
phía Bắc và Tây Nguyên là nơi có tỷ lệ nghèo cao nhất trong cả nước). Số hộ đói
nghèo tuy giảm nhanh nhưng số hộ mới thoát nghèo thì phần lớn vẫn sát chuẩn
nghèo nên nguy cơ tái nghèo cao cộng với tình trạng phân hoá giàu nghèo và
phát triển không đồng đều giữa các vùng đang có chiều hướng gia tăng có thể
gây ra những hậu quả xã hội tiêu cực khó lường, khiến cho cuộc chiến chống đói
nghèo ở nước ta vẫn còn đầy cam go và thách thức.
Hiện nay có rất nhiều công trình trong nước và quốc tế nghiên cứu về thực
trạng đói nghèo ở Việt Nam. Tuy nhiên những nghiên cứu sâu về người nghèo
dưới cách tiếp cận xã hội học có nhiều vấn đề quan trọng còn bỏ ngỏ. Để phục
vụ cho công tác theo dõi, đánh giá tình trạng nghèo đói theo chuẩn nghèo mới
của Chính Phủ áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu

3
vấn đề nghèo đói của tỉnh Bắc Kạn - một tỉnh được xem là một trong những tỉnh
nghèo, khó khăn nhất của cả nước - làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học.
Việc tiếp tục làm rõ những vấn đề về đặc trưng kinh tế, đặc trưng xã hội của
hộ nghèo rất cấp thiết về phương diện lý luận cũng như thực tiễn, để làm cơ sở
cho việc nhận diện hộ nghèo, quản lý và theo dõi diễn tiến nghèo đói, đảm bảo
xoá đói giảm nghèo công bằng hơn, toàn diện hơn, vững chắc hơn.
1.2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một số công trình nghiên cứu về nghèo khổ của của các nhà xã hội học
được đề cập trong cuốn Nhập môn Xã hội học của Tony Bilton và cộng sự như:
nghiên cứu của Townsend và Atkinson (Anh), Harrington (Hoa Kỳ) Theo kết
quả của Townsend (1979) khi ông đo lường sự thiếu thốn theo việc không đủ
khả năng hoặc bất lực để tham gia vào “các hoạt động và để có những điều kiện
và tiện nghi sinh hoạt thông thường, hay ít nhất được khuyến khích hoặc tán
thành rộng rãi” vì thiếu những “phương kế”. Townsend đã sử dụng 60 chỉ tiêu

dân tộc thiểu số là những nhóm người sẽ vẫn còn ở trong tình trạng nghèo trong
tương lai dài; những người di cư từ nông thôn ra vùng thành thị cũng là nhóm
người có nhiều khả năng bị rủi ro…
Bài viết: "Nghiên cứu nghèo khổ đô thị ở Việt Nam trong thập niên 90: kết
quả và những vấn đề đặt ra" của Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Xuân Mai, tạp
chí Xã hội học số 3 (87) - 2004 dựa trên những kết quả nghiên cứu về nghèo khổ
đô thị từ những cuộc khảo sát về người nghèo đô thị từ những năm 90 đã nêu ra
một số đặc trưng về mặt kinh tế và xã hội của người nghèo đô thị. Áp dụng kết
hợp nhiều phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, các nghiên cứu đã
chỉ ra tính đa diện của nghèo khổ đô thị dựa vào việc phân tích các đặc trưng
kinh tế và xã hội của người nghèo: "người nghèo đô thị thường được đặc trưng
bởi tình trạng không có việc làm hoặc có việc làm không đầy đủ. Công việc làm
của họ thường là thuộc khu vực kinh tế phi chính thức… Thu nhập của người
nghèo thường thấp và không ổn định. Phần lớn các chi tiêu là dành cho các nhu
cầu thiết yếu nhất về lương thực và thực phẩm. Trong điều kiện đó người nghèo
thường rơi vào cảnh nợ nần… Nghèo khổ của các gia đình thường có mối liên

5
quan chặt chẽ với số lượng thành viên trong gia đình, đặc biệt là các thành viên
không có khả năng lao động… Trình độ học vấn của người nghèo là thấp hơn so
với ngưỡng chung của xã hội… Một đặc điểm cơ bản về mặt xã hội của người
nghèo là sự hạn chế về vốn xã hội và điều đó làm giảm khả năng thoát nghèo
của họ. Người nghèo thành thị rất dễ bị tổn thương bởi nhiều lý do khác nhau
liên quan đến nhà ở, quyền sử dụng đất, điều kiện sinh nhai không bảo đảm, bị
đe doạ bởi bệnh tật " [29, 58].
Cuộc khảo sát "Đặc điểm kinh tế - xã hội và nhà ở của người nghèo đô thị"
tại 5 phường nội thành Hà Nội do GS. Tương Lai (chủ nhiệm) và PTS Trịnh
Duy Luân tiến hành năm 1994, kết quả xử lý 669 hộ gia đình được khảo sát tại 5
phường nội thành Hà Nội nhằm: (i) mô tả chi tiết những đặc trưng xã hội – nghề
nghiệp, nhân khẩu - văn hoá của người nghèo đô thị Hà Nội; (ii) xác định các

địa phương. Mục đích của báo cáo này nhằm nắm bắt các yếu tố của tình trạng
nghèo đói và các nguyên nhân của nó; hiểu rõ hơn về hiệu quả của các phương
pháp xác định đối tượng của các chương trình chống tình trạng nghèo đói và các
cách thức tiếp cận có hiệu quả hơn trong việc giám sát tình trạng nghèo đói ở
các cấp khác nhau. Báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị trên cơ sở các ý
kiến của người dân và cán bộ địa phương cũng như từ việc tổng hợp phân tích số
liệu định lượng và định tính.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Vận dụng các lý thuyết xã hội học đại cương, xã hội học nông thôn, xã hội
học gia đình, xã hội học dân số, xã hội học kinh tế… đề tài nghiên cứu nhằm mô
tả và phân tích đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo nhằm tìm ra quy luật
biến đổi các đặc trưng kinh tế và xã hội và mối liên hệ giữa những đặc trưng này
với tình hình nghèo đói và quá trình xoá đói giảm nghèo của các hộ nghèo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

7
Mô tả những đặc trưng kinh tế và xã hội của nhóm hộ nghèo theo chuẩn
nghèo mới và chỉ ra mối liên hệ của những đặc trưng đó với vấn đề đói nghèo từ
đó bước đầu đưa ra những dự báo về xu hướng nghèo đói trong tương lai nhằm
giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra những chính sách giảm
nghèo hiệu quả.
1.4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.4.1. Phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo nhằm nhận
diện hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới.
1.4.2. Chỉ ra mối liên hệ của các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo
với tình trạng và mức độ nghèo đói của hộ.
1.4.3. Tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu được trợ giúp của hộ nghèo
nhằm xoá đói giảm nghèo bền vững.
1.4.4. Đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế và xã

thuộc khu vực Đông Bắc Bộ.
1.7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.7.1. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 năm 2004 đến tháng 08 năm 2006.
1.7.2. Không gian nghiên cứu: Tỉnh Bắc Kạn.
1.8. HỆ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.8.1. Phƣơng pháp luận Macxit:

9
Trong đề tài này chúng tôi dựa vào quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch
sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận, giữ vai trò nền
tảng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu.
Vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể để phân tích hiện tượng nghiên cứu.
Các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm phải xuất phát từ thực tế của một xã hội
cụ thể, đặt hoạt động của con người vào những điều kiện hiện thực trong từng
tình huống cụ thể.
Quá trình nhận thức trong xã hội không chỉ dừng lại bên ngoài sự vật
hiện tượng mà cần nhận thức được bản chất bên trong cũng như quy luật khách
quan vốn có của nó.
1.8.2. Phƣơng pháp phân tích tài liệu:
- Dựa trên nguồn số liệu của cuộc khảo sát xác định hộ nghèo năm 2005
của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khảo sát tại 64 tỉnh/thành phố trên
toàn quốc. Mục tiêu của cuộc khảo sát nhằm lập danh sách toàn bộ các hộ
nghèo theo chuẩn nghèo mới thời kỳ 2006-2010; xác định các nguyên nhân và
mức độ nghèo đói làm cơ sở xây dựng chính sách và chương trình mục tiêu
xoá đói giảm nghèo thời kỳ 2006-2010; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho
việc theo dõi, giám sát, đánh giá nghèo đói thời kỳ 2006-2010. Trong phạm vi
của đề tài chỉ phân tích số liệu khảo sát 1.841 hộ gia đình tại 9 xã (thuộc 3
huyện) của tỉnh Bắc Kạn.
- Dựa trên kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004 của Tổng Cục

1.10. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, kết cấu của luận văn bao gồm
các phần chính sau:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

11
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài
1.2. Tổng quan về tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh Bắc Kạn
1.3. Một số khái niệm công cụ của đề tài
Chƣơng 2. Đặc trƣng kinh tế của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Kạn
Chƣơng 3. Đặc trƣng xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Kạn

1.11. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Giả thuyết 1: Tình trạng nghèo đói của các hộ gia đình được khảo sát thể
hiện rất đa dạng qua các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộvì vậy việc thu thập
và theo dõi các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo là một công cụ hiệu quả
cho việc nhận diện, quản lý hộ nghèo và xoá đói giảm nghèo bền vững;
Giả thuyết 2: Đa số hộ nghèo đã nhận thức được cách thức vươn lên, thoát
khỏi tình trạng nghèo đói của mình tuy nhiên họ vẫn cần có những thiết chế, tổ
chức hướng dẫn, hỗ trợ về các loại nguồn vốn để khắc phục tình trạng nghèo
đói, tiến tới vươn lên thoát nghèo bền vững.
Giả thuyết 3: Nghèo đói vẫn tiếp tục là thách thức lớn đối với Bắc Kạn
trong thời gian tới và đặc biệt trầm trọng đối với nhóm dân tộc thiểu số. Để xoá
đói giảm nghèo bền vững cần có những giải pháp hữu hiệu nhằm giúp người
nghèo phát huy nội lực, nâng cao khả năng tự vươn lên thoát nghèo, giảm thiểu
nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo.

12
1.12. KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU


đình
Khía cạnh giới,
tuổi, tình trạng
hôn nhân
Trình độ học
vấn, chuyên
môn kỹ thuật
TÌNH TRẠNG VÀ MỨC ĐỘ NGHÈO ĐÓI CỦA HỘ

13
PHẦN 2
NỘI DUNG CHÍNH

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo
1.1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Theo quan điểm Mác xít: “Loài người trước nhất cần phải có cái ăn, có
chỗ trú ẩn, có cái mặc trước khi có thể đeo đuổi chính trị, khoa học, nghệ
thuật, tôn giáo ”[43, 57].
Quan điểm của Karl Marx về nghèo đói thể hiện trong lý luận của ông về
nguyên tắc phân phối trong chủ nghĩa xã hội. Theo Marx trong điều kiện của
chủ nghĩa xã hội, sự phân phối công bằng theo nguyên tắc mỗi người sản
xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá
ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã
khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội) chẳng những chưa loại
trừ được, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất
bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội, vì “với một công

Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước ta được độc lập mà dân không
được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì". Người đã
nhấn mạnh đến bổn phận của Nhà nước phải chăm lo cho dân có cơm ăn, áo
mặc, chỗ ở và việc học hành. Người nói: "Chúng ta dành được tự do, độc lập
rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ
biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng
ta phải thực hiện ngay:

15

1. Làm cho dân có ăn
2. Làm cho dân có mặc
3. Làm cho dân có chỗ ở
4. Làm cho dân có học hành
Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng
đáng với tự do độc lập, và giúp sức được cho tự do độc lập" [4, 152].
Người còn dạy rằng: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân
dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm,
được ấm no và sống một đời hạnh phúc”. Người cũng chủ trương khuyến
khích mọi người làm giàu với mục tiêu:
Làm cho người nghèo thì đủ ăn.
Người đủ ăn thì khá giàu.
Người khá giàu thì giàu thêm.
Tư tưởng trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xoá đói giảm
nghèo, nhất là trong thời kỳ đổi mới.
1.1.2. Chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về xoá đói giảm nghèo
Chủ trương của Đảng ta trong Nghị quyết Đại hội VI là “vấn đề lương
thực phải được giải quyết một cách căn bản”. Đây là một chủ trương cực kỳ
quan trọng, có tính chất đột phá, liên quan đến an ninh lương thực và tấn công

nâng lên tầm cao mới, đặt xoá đói giảm nghèo trong chiến lược phát triển
kinh tế xã hội thời kỳ 2001-2010 và nhấn mạnh làm tốt công tác xoá đói giảm
nghèo sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn và
phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, tích cực phát triển và bảo vệ
môi trường, góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước, từng bước hội

17
nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá. Đảng ta luôn chủ trương “khuyến
khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo”. Nhưng đến đại hội
IX, nhận thức của Đảng ta về xoá đói giảm nghèo chuyển dần sang hướng xoá
đói giảm nghèo bền vững và gắn với phát triển. Mục tiêu chiến lược xoá đói
giảm nghèo thời kỳ 2001-2010 mà đại hội IX đề ra là “cơ bản xoá đói, giảm
mạnh số hộ nghèo, phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo.
Thường xuyên củng cố thành quả xoá đói giảm nghèo". Mục tiêu cụ thể kế
hoạch 5 năm 2001-2005 là cơ bản xoá hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới
10% (theo chuẩn nghèo năm 2001) vào năm 2005.
Có thể nói rằng, chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xoá
đói giảm nghèo thể hiện rất rõ quan điểm có tính chất chiến lược, xuyên suốt
và nhất quán của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, góp phần thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
1.1.3. Các lý thuyết vận dụng nghiên cứu
1.1.3.1. Lý thuyết phân tầng xã hội
Xã hội học hiện đại, kể cả xã hội học hiện đại phương Tây nói chung đều
thừa nhận có hai ông tổ về lý thuyết phân tầng xã hội - đó là Karl Marx và
Max Weber. Bởi lý thuyết của các ông tổng hợp lại đã cung cấp cho người ta
những nhận thức rất cơ bản về tiền đề và điều kiện (hay những nhân tố về
kinh tế, chính trị, văn hóa) dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp và
tầng lớp khác nhau.
a. Lý thuyết phân tầng xã hội của Karl Marx (1818-1883):

phẩm chất con người của hắn, mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư
bản” [14, 89]. Còn người công nhân vì không có ruộng đất, không có tư liệu
sản xuất trong tay nên phải bán sức lao động cho nhà tư sản. Khả năng của
người công nhân để lao động (năng lực lao động) tự nó là một hàng hoá trên

19
thị trường, được mua với cái giá ít nhất để nhà tư bản tuỳ ý sử dụng [43, 59].
Người công nhân chỉ nhận được mức tiền công ngang với giá trị sức lao động
của mình (theo giá cả được thỏa thuận trên thị trường), cho dù sức lao động
này có khả năng tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Trong điều
kiện như thế, “toàn bộ xã hội không tránh khỏi phân chia thành hai giai cấp -
những người sở hữu và những công nhân không có sở hữu”.
Nêu bật nhân tố hàng đầu của phân tầng xã hội là quyền sở hữu tài sản,
Marx (và cả F. Engel) còn lưu ý đến nhân tố phân công lao động xã hội (như
phân công giữa lao động trí óc và lao động chân tay, phân công giữa nông
nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp) mà bản thân nhân tố này lại có mối
quan hệ tác động qua lại với lực lượng sản xuất xã hội và do đó với quyền sở
hữu tài sản.
Điều đó giải thích tại sao, trong khi tập trung phân tích hai giai cấp chủ
yếu trong xã hội tư bản là tư sản và vô sản, vào thời đại của mình, Marx
không hề bỏ qua các giai tầng xã hội khác như: giai cấp địa chủ, giai cấp nông
dân sản xuất nhỏ; tầng lớp tăng lữ, tầng lớp trí thức xuất thân từ các giai cấp
khác nhau; tầng lớp công nhân “quí tộc”, tầng lớp vô sản “lưu manh” trong
bản thân giai cấp công nhân… [31, 108].
b. Lý thuyết phân tầng xã hội của Max Weber (1864-1920)
Cũng là một người Đức nhưng thuộc thế hệ hậu sinh của Marx, Weber
đã đưa ra lý thuyết phân tầng của mình, trong đó vừa có điểm “vay mượn”
của Marx vừa có những điểm phát triển thêm.
Mặc dù không tán thành mục tiêu chính trị của Marx, hơn nữa còn phê
phán quan điểm của Marx cho rằng những quan hệ kinh tế (chủ yếu là quan

quyền lực chính trị được huy động thông qua một đảng. Khác với Marx
xem quyền lực kinh tế của nhà tư bản có thể đem đến cho hắn cả quyền lực
chính trị nữa, Weber cho rằng quyền lực chính trị có thể xuất phát từ quyền

Trích đoạn Quan hệ giới, cơ cấu tuổi và tỡnh trạng hụn nhõn của chủ hộ Những khuyến nghị cho cụng cuộc xoỏ đúi giảm nghốo thời gian tớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status