Đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng việt - Pdf 13

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ NGỌC ANH
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI 2014
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ NGỌC ANH
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lý luận Ngôn ngữ
Mã số: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Nguyễn Thị Thanh Bình
2. TS. Bùi Thị Minh Yến
HÀ NỘI 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả nêu
trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu nào.
Bùi Thị Ngọc Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 18

2.4.2. Phủ nhận, bác bỏ 62
2.4.3. Xúc phạm đối phương 64
2.4.4. Mắng yêu 65
2.4.5. Gây cười 66
2.4.6. Gây sự chú ý 69
2.4.7. Thể hiện sức mạnh 70
2.5. TIỂU KẾT 71
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA TUỔI VÀ GIỚI ĐẾN SỰ SỬ DỤNG TỪ
NGỮ KIÊNG KỊ 74
3.1. DẪN NHẬP 74
3.2. TUỔI VÀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 76
3.2.1. Tuổi và số lượng từ ngữ kiêng kị được sử dụng 76
3.2.2. Tuổi và tần số xuất hiện từ ngữ kiêng kị 80
3.2.3. Sự sử dụng TNKK khi người lớn nói với bé lớn và người lớn nói với bé
nhỏ 82
3.2.4. Phản ứng của người lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKK. .86
3.3. GIỚI VÀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 93
3.3.1. Giới và số lượng từ ngữ kiêng kị được sử dụng 94
3.3.2. Giới và tần số xuất hiện từ ngữ kiêng kị 100
3.3.3. Sự sử dụng TNKK khi người lớn nói với bé trai và người lớn nói
với bé gái 102
3.3.4. Phản ứng của người lớn khi bé trai sử dụng TNKK và bé gái sử dụng
TNKK 104
3.4. TIỂU KẾT 108
CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP ĐẾN SỰ
SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 110
4.1. DẪN NHẬP 110
4.2. MIÊU TẢ CHUNG VỀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG CÁC
TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP 111
4.3. SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP

Bảng 3.2. Mục đích sử dụng TNKK của bé nhỏ và bé lớn ở Hoài Thị
Bảng 3.3. Tuổi của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Bảng 3.4. Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK
Bảng 3.5. Người lớn sử dụng TNKK với bé lớn và bé nhỏ
Bảng 3.6. Tỉ lệ TNKK của trẻ em Hoài Thị nói với người lớn và trẻ em
Bảng 3.7. Phản ứng của người lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKK
Bảng 3.8. TNKK ở Hoài Thị thường được các bé trai và bé gái sử dụng
Bảng 3.9. Mục đích sử dụng TNKK của bé trai và bé gái ở Hoài Thị
Bảng 3.10. Giới của người lớn và TNKK trong sử dụng
Bảng 3.11. Giới của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Bảng 3.12. Tỉ lệ sử dụng TNKK của người lớn với bé trai và bé gái
Bảng 3.13. Phản ứng của người lớn khi nghe bé trai và bé gái sử dụng TNKK
Bảng 4.1. Tần số các TNKK xuất hiện trong các tình huống giao tiếp (theo tỉ lệ)
Bảng 4.2. Sự xuất hiện của các nhóm TNKK trong các tình huống giao tiếp
Bảng 4.3. Tỉ lệ sử dụng TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm
cùng giới - lẫn giới và các tình huống giao tiếp còn lại
Bảng 4.4. Tỉ lệ xuất hiện TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm
cùng giới và lẫn giới
Bảng 4.5. Mức độ tăng cấp của TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp trẻ
chơi trong nhóm cùng giới và lẫn giới
Bảng 4.6. TNKK của trẻ em xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng và
phi trang trọng
Bảng 4.7. TNKK của người lớn xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng
và phi trang trọng
Bảng 4.8. Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK trong tình huống
giao tiếp trang trọng
Bảng 4.9. Mức độ tăng cấp của TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp
trang trọng và phi trang trọng
Bảng 4.10. Trẻ em sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và người dưới
Bảng 4.11. Người lớn sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và

người dưới
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VÀ CÁC QUY ƯỚC TRONG LUẬN ÁN
1. Các chữ viết tắt
TNKK: Từ ngữ kiêng kị
LA: Luận án
ĐTV: Điều tra viên
2. Các quy ước
Ví dụ:
(trai, 5t): bé trai, 5 tuổi
(gái, 5t): bé gái, 5 tuổi
(lớn, 10t): bé lớn, 10 tuổi
(nhỏ, 5t): bé nhỏ, 5 tuổi
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Giống như trong nhiều ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt có một lớp từ ngữ
thường bị coi là những từ ngữ không nên dùng, cần kiêng tránh bởi chúng là
những từ ngữ gây phản cảm cho người khác. Lớp từ ngữ này thường diễn tả hoặc
tạo ra sự liên tưởng đến những quan niệm, những đề tài, những sự vật, sự việc bị
coi là cấm kị trong văn hóa cộng đồng, ví dụ như tôn giáo, tâm linh, tình dục.
Những người sử dụng loại từ ngữ này thường bị đánh giá là vô học, thiếu văn
hóa, mất lịch sự, thô lỗ, cộc cằn v.v…, trẻ em thường bị trách phạt, bị cấm dùng
những từ ngữ đó, vì vậy chúng được dạy bằng cách dùng uyển ngữ để thay thế
cho những từ ngữ kiêng kị (TNKK) nói trên.
Tuy nhiên, mặc dù bị cấm đoán và bị đánh giá thấp, TNKK vẫn tồn tại từ
thời này qua thời khác trong vốn từ vựng tiếng Việt, nhất là trong giao tiếp ngôn
ngữ của thanh thiếu niên trên các mạng xã hội hiện nay. Để có thể có thái độ ứng
xử thỏa đáng trước hiện tượng này cần có sự chung tay góp sức của các chuyên
ngành khác nhau, trong đó có ngôn ngữ học. Luận án (LA) này là một đóng góp
vào sự nghiệp chung đó.

thô thiển, thậm chí tục tĩu. Do đó TNKK phải bị cấm sử dụng hoặc tránh sử dụng
bằng cách dùng uyển ngữ để thay thế. Quan điểm ngôn ngữ học xã hội cho rằng:
chỉ có thể hiểu được ý nghĩa của ngôn từ khi chúng hành chức trong hoàn cảnh
giao tiếp cụ thể. Do đó, tính thô tục, mất lịch sự, thô lỗ của TNKK phụ thuộc vào
các yếu tố xã hội tạo nên hoàn cảnh giao tiếp mà chúng xuất hiện, ví dụ như tuổi,
giới, vị thế giao tiếp, giai tầng, v.v… của những người tham gia giao tiếp, đề tài
giao tiếp, mức độ trang trọng hay thân tình của sự kiện giao tiếp, v.v…
2
2.1. Nghiên cứu từ ngữ kiêng kị theo hướng miêu tả từ vựng truyền thống
Xuất phát từ khía cạnh tôn giáo, Freud (1950) [49] và Steiner (1975) [98]
là những người đầu tiên nghiên cứu TNKK, cho rằng TNKK ban đầu là những từ
ngữ thuộc tôn giáo, chỉ xuất hiện trong đời sống tín ngưỡng của con người. Tuy
nhiên, cả hai tác giả đều cho rằng mặc dù khái niệm kiêng kị đang ngày càng trở
nên lỏng lẻo hơn, kiêng kị đang chuyển dần từ lĩnh vực tôn giáo sang các lĩnh
vực khác của đời sống con người, nhưng vẫn còn nhiều những kiêng kị không
được nói ra như: không được phép gọi tên những thế lực siêu nhiên như Chúa
trời, ma quỷ; không được gọi tên về sự chết chóc, bệnh tật; không được nói những
lời nguyền rủa. Ngoài ra, ở một số xã hội, còn phải kiêng nói đến sự nghèo hèn,
nghề nghiệp tầm thường, và những thứ liên quan đến quần áo lót.
Liên quan đến niềm tin, Nguyễn Quý Thành (1993) [16] nghiên cứu
những TNKK trong nghề đi biển vùng Nam Trung Bộ, và giải thích rằng nghề đi
biển là nghề khắc nghiệt và nguy hiểm nên để tránh những rủi ro do thiên tai
mang lại, dân đi biển kiêng nói những từ ngữ gợi báo điềm gở, sự mất mát,
không vững chắc: như về (vì về gợi báo trước điều chẳng lành, không gặp may),
mất (nếu đánh mất đồ - vì sợ mất mát, chết chóc); úp (vì sợ bị úp thuyền); v.v …
Nguyễn Thị Tâm Hạnh (2010) [7] cũng đã miêu tả các TNKK trong nghề làm
gốm, ví dụ, kiêng kị nói đến những gì liên quan đến: sự thiếu lành nguyên, méo
mó, đổ vỡ như: rịn (rịn nước), nứt (nứt toác ra), tréo chân méo miệng, nát (vì
liên quan đến sự đổ nát), (kể cả trong giao tiếp thông thường bên ngoài lò nung),
vì những từ này vốn thường dùng để chỉ sản phẩm không đạt chất lượng hoặc

không lịch sự, không tế nhị. Khảo sát các yếu tố tục trong tiếng Việt, Đỗ Anh Vũ
(2003) [20] đi tìm nghĩa biểu trưng của từ cứt qua thành ngữ và tục ngữ tiếng
Việt, kết quả là từ cứt có 16 nghĩa biểu trưng: chỉ thói kiêu căng, hợm hĩnh, chỉ
sự khinh bỉ coi thường, chỉ tính lười biếng vô tích sự, v.v Từ góc độ từ vựng,
Tạ Văn Thông (2003) [17] phát hiện ra trong tiếng Việt, khi cãi cọ nhau hoặc tức
giận về một điều gì đó, người ta hay dùng những từ được xem là biểu tượng của
4
sự tục tĩu mà bình thường phải giấu kín đi: cái con củ cặc để biểu thị sự ngạo
mạn, coi thường đối thủ của mình.
Kị húy hay kiêng húy cũng là một vấn đề kiêng kị trong ngôn ngữ nhận
được sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, thời phong kiến tục
kiêng huý gần như là một quy tắc bắt buộc [11].
Trước tiên, ở phạm vi của một quốc gia, mọi thần dân phải kiêng kị tên
húy của vua. Chẳng hạn, có một thời gian ánh trong ánh sáng là kiêng kị (vì tên
thật của Vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh), nên phải nói là yến sáng; cảnh
trong cây cảnh là kiêng kị (vì tên con trai vua Gia Long là Nguyễn Phúc Cảnh),
nên phải nói là cây kiểng. Ngoài việc kiêng nói tên vua, nhiều khi tên của những
người thân thuộc với vua cũng phải kiêng như: cha, mẹ, vợ, con, anh em,… và
có khi đến hàng ông nội, bà nội, tên giả, chữ đệm của vua cũng phải kiêng.
Trong phạm vi làng xã, cũng có những kiêng huý nhất định. Chẳng hạn ở
Làng Phước Tích (vùng biển Nam Trung Bộ), nồi là tên của ngài Khai canh -
Bổn nghệ (họ Hoàng) của làng: “ngài thỉ tổ họ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng Minh
Hùng, tục gọi là Nồi nguyên người làng Cảm Quyết, tỉnh Nghệ An đã thân chinh
đánh đuổi Chiêm Thành ” [7], do đó, nồi là một từ kiêng kị. Hoặc ở làng Vịa
(Thình Quang - Gia Lâm - Hà Nội) thờ ông Lí Bí và Lí Chiêu Hoàng, vì vậy bí
trong quả bí là kiêng kị, và phải nói tránh là quả bầu.
Trong phạm vi gia đình, do truyền thống văn hóa, con cái có thể kiêng gọi
tên thật ông bà tổ tiên, những người đã mất hoặc những người có vai trò trong
dòng tộc nên nếu ai sử dụng những từ đó phải sẽ phạm tội hỗn láo [11]. Do đó,
trong cuộc sống hàng ngày gặp phải những tên giống với tên của ông bà tổ tiên,

nhà nghiên cứu sử dụng để thu thập tư liệu (Hughes 1992 [57]; Veronica 1997
[115]; Tsang 2005 [112]; Bakhtiar 2011 [28]).
Coi TNKK là một hiện tượng trong ngôn ngữ học xã hội, Hongxu và các
cộng sự (1990) [55] đã thâm nhập vào một cộng đồng nhỏ ở Trung Quốc, và
phát hiện ra rằng TNKK là một hiện tượng ngôn ngữ, văn hóa, xã hội có quan hệ
với mê tín, tập tục, và quyền lực phân cấp. Họ đã thảo luận những ảnh hưởng
6
của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự hình thành và phát triển của TNKK.
Hongxu và các cộng sự đề xuất cách phân loại, cho rằng kiêng kị rơi vào hai
nhóm: ngôn ngữ vĩ mô và ngôn ngữ vi mô. Nhóm đầu tiên, tất cả các từ được
hầu hết mọi người hội thoại trong cộng đồng coi là đáng ghê tởm và tục tĩu như
tình dục và chết chóc. Với nhóm TNKK vi mô, những từ nhất định được cảm
nhận là kiêng kị trong mối quan hệ với ngữ cảnh cụ thể. Họ đề xuất một cách
phân loại cho TNKK, bao gồm "ngữ cảnh vĩ mô" (tức là các yếu tố xã hội) và
"ngữ cảnh vi mô", bao gồm các yếu tố mang tính tình huống như hình thức và
người đối thoại.
Jay (1992) nhận ra “ngôn ngữ bẩn” (dirty language) “đang dần dần được
chấp nhận rộng rãi đối với công chúng Mĩ” [62]. Đây là lí do khiến ông tiến
hành nghiên cứu “ngôn ngữ bẩn” ở tòa án, phim ảnh, sân trường và trên đường
phố ở Mĩ. Cuốn sách của ông là công trình đầu tiền khảo sát lời chửi rủa của
người Mĩ một cách sâu rộng từ khía cạnh ngôn ngữ học tâm lí - ngữ cảnh
(psycholinguistic - contextual). Rất nhiều những nghiên cứu thực địa và thí
nghiệm trong phòng thực nghiệm tập trung khảo sát mối liên hệ giữa lời chửi rủa
và sự thụ đắc ngôn ngữ, giới, sự thô lỗ, v.v Tất cả các từ ngữ khiêu dâm, quấy
rối tình dục, nói điện thoại tục tĩu, và chửi rủa ở trường học đều được phân tích
và liên hệ với dữ liệu ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học tâm lí. Tần số xuất
hiện, mức độ thô lỗ của từ ngữ, giới, tuổi của người nói cũng được khảo sát.
Nghiên cứu đã chỉ ra những lời chửi rủa được sử dụng trong những hoàn cảnh
giao tiếp đặc biệt trong cuộc sống, và cũng chỉ ra nó đã ảnh hưởng đến người nói
cũng như người nghe.

và nữ giới trong nhóm cùng giới và lẫn giới qua hàng loạt các tập phim Sex and
the City, chiếu từ năm 1998 đến năm 2004, qua kênh HBO của Mĩ. Phát hiện của
nghiên cứu này là cả nam giới và nữ giới đều sử dụng ngôn ngữ kiêng kị nhiều
hơn trong hoàn cảnh giao tiếp cùng giới; trong khi đó nam sử dụng nhiều TNKK
hơn nữ trong nhóm hội thoại lẫn giới. Kết quả này không đồng thuận với phát
hiện của Coates (2004) [38] rằng cả nam và nữ đều điều chỉnh hành vi lời nói
8
của mình để phù hợp với giới còn lại. Sự khác biệt giới còn thể hiện ra trong việc
sử dụng những loại TNKK khác nhau, nữ giới sử dụng những từ ngữ lăng mạ
thường xuyên, trong khi đó thì nam giới lại sử dụng những từ ngữ khiêu dâm.
Bằng phương pháp phân tích hội thoại, Teguh (2008) [105] đã khảo sát
cách sử dụng TNKK và uyển ngữ sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau của bộ
phim Ali G Film (đạo diễn Mark Mlyod). Để có được tư liệu tin cậy, tác giả đã
nghe lại lời thoại của tất cả những phát ngôn mà có sử dụng TNKK và uyển ngữ,
sau đó nhận diện và phân loại. Kết quả nghiên cứu là có 3 loại TNKK được sử
dụng là kiêng kị thô tục, khiêu dâm và thông tục, có 4 loại uyển ngữ: uyển ngữ
về sự chết chóc, về sự xúc phạm, về tôn giáo và tình dục. Đi tìm các biến thể
ngôn ngữ học xã hội của từ fuck trong tiếng Anh Ailen từ khía cạnh tuổi và giới,
dựa vào kho ngữ liệu, Murphy (2009) [86] nhận thấy trong hội thoại hàng ngày,
fuck là từ xuất hiện với tần số cao, và đặc biệt xuất hiện nhiều trong nhóm nam
giới độ tuổi 20. Biến thể fucking, dạng thay đổi cảm xúc mạnh, là mục từ có tần
số cao trong giao tiếp nhóm nam giới lứa tuổi 20 và 40. Sự tăng mạnh về cảm
xúc khi sử dụng biến thể fucking là do đặc tính giao tiếp của đàn ông. Trong một
nghiên cứu tương tự khác của Murphy (2010) [87] khi tác giả khảo sát cách sử
dụng TNKK tình dục ở nhóm phụ nữ tuổi 20, kết quả cũng cho thấy fuck là từ
kiêng kị tình dục phổ biến nhất và xuất hiện với tần số cao nhất.
Với mục đích phân tích, tìm ra sự tương đồng và khác biệt khi sử dụng
ngôn ngữ kiêng kị trong hội thoại của nhóm nữ giới, nhóm nam giới và nhóm lẫn
giới của những người nói tiếng Anh ở phòng “chat”, Ningjue (2010) [91] đã thu
thập 3 cuộc hội thoại trong trang mạng Palace. Đây là trang mạng của người Mĩ

rằng, trong xã hội Yemen mức độ kiêng kị của những TNKK bị ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố khác nhau, một từ gọi là kiêng kị có ảnh hưởng khác nhau đến
những nhóm người hội thoại khác nhau. Những từ này có thể gây sửng sốt cho
một cá nhân hay một nhóm người hội thoại này, nhưng lại không gây sửng sốt
đối với một nhóm khác. Thời gian tồn tại cũng có vai trò nhất định, chẳng hạn
10
một số từ là húy kị trong quá khứ, nhưng trải qua một giai đoạn thì tính kiêng kị
đã bị loại bỏ, ví dụ, vợ nói đến tên chồng không còn là kiêng kị như trước đây.
Bản chất của từ được sử dụng cũng xác định mức độ kiêng kị, ví dụ như bộ phận
sinh dục của nữ giới thường bị coi là kiêng kị hơn so với của nam giới; các yếu
tố giáo dục, giới, bối cảnh nhân khẩu học cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc
sử dụng TNKK; tuy nhiên những vấn đề này mới chỉ được tác giả đặt ra như là
giả thuyết cho những nghiên cứu trong tương lai. Chẳng hạn: những người có
học có vẻ sử dụng TNKK ít hơn những người không có học, đàn ông sử dụng
TNKK sẽ được xã hội dễ chấp nhận hơn phụ nữ, người nông thôn dường như sử
dụng TNKK liên quan tới tình dục và chức năng cơ thể nơi công cộng thường
xuyên hơn người thành phố vì họ được nuôi lớn trong cộng đồng nông nghiệp
nơi có nhiều cơ hội để quan sát hành vi tình dục của động vật.
Tuy nhiên, kho dữ liệu dựa trên cách tiếp cận vào các dạng thức ngôn ngữ
kiêng kị xuất hiện trong các hoàn cảnh giao tiếp phổ biến đã cung cấp một bức
tranh về các dạng thức và các chức năng xã hội của TNKK (Stenström 1991,
2006 [99] [101]; McEnery và Xiao 2004 [80]; Murphy 2009, 2010 [86] [87]), vì
nó cho phép nhìn vào ngữ cảnh của cộng đồng giao tiếp, và ảnh hưởng của ngữ
cảnh vào thái độ của người nói (Jay 2000) [64]. Xuất phát từ giao tiếp hội thoại qua
phim ảnh (Teguh 2008 [105]; Ningjue 2010 [91]) cho thấy những đặc trưng của
giới, của tuổi; tuy nhiên những đoạn hội thoại trong phim lại là những đoạn hội
thoại đã qua biên soạn nên lời nói không tự nhiên như ghi âm giao tiếp hàng ngày.
Có thể nói rằng, thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu đã cung cấp một
khối lượng lớn công trình nghiên cứu về TNKK ở người lớn, nhưng đúng như
Jay (2009) [69] nhận định: rất ít công trình về TNKK ở trẻ em đang sinh sống tại

cho việc ghi âm ngôn ngữ tự nhiên của trẻ em ở Hoài Thị, thuộc dự án “Tiến trình phát
triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị năm 2001-2002” cũng đã tốn
tiền tỉ.
12
đây) ở cộng đồng Hoài Thị, trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2001 đến
tháng 6 năm 2002, với thời lượng ghi âm là 39 giờ, tương đương với 3600 trang
A4 ghỡ băng.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Xem xét đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong tiếng Việt,
trường hợp giao tiếp ngôn ngữ trẻ em ở Hoài Thị, một mặt LA muốn làm rõ sự
ảnh hưởng của các biến xã hội như: tuổi, giới, và tình huống giao tiếp đến việc
sử dụng TNKK, góp phần làm sáng tỏ lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội về sự
ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến ngôn ngữ ở Việt Nam; mặt khác là để tìm
hiểu quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em (thông qua khảo sát sự sử dụng
TNKK cũng như thái độ, phản ứng của người lớn xung quanh nhóm trẻ), từ đó
khẳng định vai trò của người lớn đối với việc xã hội hóa ngôn ngữ trẻ em ở
cộng đồng Hoài Thị.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu của LA, chúng tôi đưa ra một số nhiệm vụ cơ
bản sau:
(i) Hệ thống hóa những nghiên cứu về TNKK từ quan điểm nghiên cứu từ
vựng truyền thống và quan điểm ngôn ngữ học xã hội.
(ii)Hệ thống hóa lí thuyết về ngôn ngữ học xã hội: biến ngôn ngữ, biến xã hội
và mối quan hệ giữa biến ngôn ngữ và biến xã hội.
(iii) Nghiên cứu trường hợp về sự sử dụng TNKK của trẻ em thuộc một cộng
đồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam:
+ Miêu tả tình hình sử dụng TNKK của người dân ở Hoài Thị nói
chung giai đoạn 2001-2002.
13

“Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị năm 2001-
2002”, của Trường Đại học Toronto - Canada, thông qua GS. Lương Văn Hy, hợp tác với
Viện Ngôn ngữ học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
3
Tôi là một trong những người đi thực địa để ghi âm ngôn ngữ giao tiếp tự nhiên của trẻ
thuộc Dự án “Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị
năm 2001-2002”.
14
một cách tự nhiên. Nghĩa là chúng tôi đã phải cố gắng thâm nhập thực sự vào
cuộc sống của các bé như đến lớp học cùng các bé, hay đi chơi, ăn cơm, thậm chí
ngủ cùng các bé để các bé cảm thấy an toàn và coi chúng tôi là những người thân
thiết, từ đó các bé không còn cảm thấy ngại ngùng, e dè khi giao tiếp.
Quan sát là kĩ năng được chúng tôi sử dụng trong suốt quá trình ghi âm tại
địa bàn nghiên cứu. Việc tiến hành quan sát giúp chúng tôi nắm được các cách
giao tiếp cũng như ứng xử ngôn từ của những người dân trong cộng đồng, giữa
các thành viên trong gia đình, quan sát cách sinh hoạt của cộng đồng, v.v… từ
đó có thể hiểu thêm phần nào về ngôn ngữ - văn hóa của người dân nơi đây.
Quan sát tham dự được chúng tôi thực hiện khi tham dự các lễ hội làng,
đám cưới, đám tang và một số hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân.
Tham dự vào sự kiện văn hóa của địa phương và của các gia đình tại địa bàn
nghiên cứu đã giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về cách ứng xử ngôn ngữ của cộng
đồng Hoài Thị.
5.2. Phương pháp xử lí tư liệu
Tư liệu ghi âm ngôn ngữ tự nhiên được chúng tôi ghi âm trong vòng 2
năm, từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 6 năm 2002. Cứ 4 tháng, những người đi
ghi âm lại có nhiệm vụ quay trở lại hộ gia đình để ghi âm một lần, trong 2 năm
mỗi hộ có trung bình 4 lần thu âm, mỗi lần 45 phút (4 lần x 45 phút = 180 phút),
tương đương với 3 giờ thu âm. Như vậy, tổng thời lượng ghi âm 13 hộ gia đình
là 2.340 phút (13hộ x 180phút/hộ), tương đương với 39 giờ ghi âm.
Với thời lượng 39 giờ ghi âm giao tiếp tự nhiên của các bé trong diện điều

mục đích sử dụng, các nhân tố ảnh hưởng, sự sử dụng TNKK và thái độ của
người lớn xung quanh trẻ trong cộng đồng.
- Với việc góp phần nhận thức lại vai trò/vị trí của lớp TNKK trong hệ
thống từ vựng tiếng Việt, có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu thực hành biên
soạn từ điển ngôn ngữ nói chung, và từ điển TNKK nói riêng, từ đó giúp cho việc
tra cứu dịch thuật và học tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ hay ngoại ngữ.
4
Bảng mã hóa chủ yếu dựa vào bảng mã của Nguyen, Thi Thanh Binh (2002) [90].
5
Chi-square là thuật ngữ trong thống kê học, các kết quả chỉ có giá trị thống kê khi p > 0.5
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status