Đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng việt ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------------

BÙI THỊ NGỌC ANH

ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI 2014


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------------

BÙI THỊ NGỌC ANH

ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lý luận Ngôn ngữ
Mã số: 62 22 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. TS. Nguyễn Thị Thanh Bình

1.4.3. Về vai trò phản hồi của những ngƣời chăm sóc trẻ em ................. 39
1.5. TIỂU KẾT ..................................................................................................... 40
CHƢƠNG 2: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ Ở
HOÀI THỊ ........................................................................................................... 42
2.1. DẪN NHẬP .................................................................................................. 42
2.2. SỐ LƢỢNG, TẦN SỐ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN LOẠI TỪ NGỮ KIÊNG
KỊ Ở HOÀI THỊ ................................................................................................... 44
2.2.1. Số lƣợng từ ngữ kiêng kị đƣợc sử dụng ................................................. 44
2.2.2. Tần số xuất hiện từ ngữ kiêng kị ............................................................ 46
2.2.3. Phân loại từ ngữ kiêng kị......................................................................... 48
2.3. SỰ PHỔ BIẾN CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ ................................................ 50


2.3.1. Từ ngữ kiêng kị xuất hiện trong ngôn từ của ngƣời nói thuộc các thế
hệ, lứa tuổi, giới tính khác nhau ....................................................................... 51
2.3.2. Từ ngữ kiêng kị xuất hiện trong giao tiếp ở mọi gia đình ................... 53
2.4. MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ Ở HOÀI THỊ ...................... 57
2.4.1. Biểu thị sự tức giận................................................................................... 58
2.4.2. Phủ nhận, bác bỏ ...................................................................................... 62
2.4.3. Xúc phạm đối phƣơng ............................................................................. 64
2.4.4. Mắng yêu ................................................................................................... 65
2.4.5. Gây cƣời .................................................................................................... 66
2.4.6. Gây sự chú ý.............................................................................................. 69
2.4.7. Thể hiện sức mạnh ................................................................................... 70
2.5. TIỂU KẾT ..................................................................................................... 71
CHƢƠNG 3: ẢNH HƢỞNG CỦA TUỔI VÀ GIỚI ĐẾN SỰ SỬ DỤNG TỪ
NGỮ KIÊNG KỊ ................................................................................................. 74
3.1. DẪN NHẬP .................................................................................................. 74
3.2. TUỔI VÀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ .......................................... 76
3.2.1. Tuổi và số lƣợng từ ngữ kiêng kị đƣợc sử dụng .................................... 76

4.4.2. Mức độ tăng cấp của các TNKK trong tình huống giao tiếp trang
trọng và phi trang trọng .................................................................................. 134
4.5. SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAO

TIẾP CÓ SỰ THAY ĐỔI QUAN HỆ VỊ THẾ GIỮA NGƢỜI NÓI VÀ
NGƢỜI NGHE............................................................................................. 136
4.5.1. Sự xuất hiện của TNKK trong tình huống giao tiếp có sự thay đổi
quan hệ vị thế giữa ngƣời nói và ngƣời nghe................................................. 137
4.5.2. Mức độ tăng cấp của các TNKK trong tình huống giao tiếp có sự thay
đổi quan hệ vị thế giữa ngƣời nói và ngƣời nghe .......................................... 143
4.6. TIỂU KẾT .................................................................................................. 144
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Số lƣợng TNKK đƣợc trẻ em và ngƣời lớn sử dụng ở Hoài Thị
Bảng 2.2. TNKK xuất hiện nhiều nhất trong giao tiếp của ngƣời dân Hoài Thị
Bảng 2.3. TNKK xuất hiện ít nhất trong giao tiếp của ngƣời dân Hoài Thị
Bảng 2.4. Tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm của các nhóm TNKK
Bảng 2.5. Mức độ sử dụng TNKK trong từng hộ gia đình
Bảng 2.6. Mục đích sử dụng TNKK của ngƣời dân Hoài Thị
Bảng 3.1. TNKK ở Hoài Thị thƣờng đƣợc ngƣời lớn và các bé nhỏ bé lớn sử dụng
Bảng 3.2. Mục đích sử dụng TNKK của bé nhỏ và bé lớn ở Hoài Thị
Bảng 3.3. Tuổi của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Bảng 3.4. Tuổi của ngƣời nói và xu hƣớng sử dụng TNKK
Bảng 3.5. Ngƣời lớn sử dụng TNKK với bé lớn và bé nhỏ
Bảng 3.6. Tỉ lệ TNKK của trẻ em Hoài Thị nói với ngƣời lớn và trẻ em
Bảng 3.7. Phản ứng của ngƣời lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKK

Biểu đồ 2.1. Số lƣợng TNKK đƣợc trẻ em và ngƣời lớn sử dụng ở Hoài Thị
Biểu đồ 2.2. TNKK xuất hiện nhiều nhất trong giao tiếp của ngƣời dân Hoài Thị
Biểu đồ 2.3. TNKK xuất hiện ít nhất trong giao tiếp của ngƣời dân Hoài Thị
Biểu đồ 2.4. Tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm của các nhóm TNKK
Biểu đồ 2.5. Mức độ sử dụng TNKK trong từng hộ gia đình
Biểu đổ 2.6. Mục đích sử dụng TNKK của ngƣời dân Hoài Thị
Biểu đồ 3.1. Tuổi của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Biểu đồ 3.2. Tuổi của ngƣời nói và xu hƣớng sử dụng TNKK
Biểu đồ 3.3. Ngƣời lớn sử dụng TNKK với bé lớn và bé nhỏ
Biểu đồ 3.4. Tỉ lệ TNKK của trẻ em Hoài Thị nói với ngƣời lớn và trẻ em
Biểu đồ 3.5. Phản ứng của ngƣời lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKK
Biểu đồ 3.6. Giới của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Biểu đồ 3.7. Tỉ lệ sử dụng TNKK của ngƣời lớn với bé trai và bé gái
Biểu đồ 3.8. Phản ứng của ngƣời lớn khi nghe bé trai và bé gái sử dụng TNKK
Biểu đồ 4.1. Tần số các TNKK xuất hiện trong các tình huống giao tiếp (theo tỉ lệ)


Biểu đồ 4.2. Tỉ lệ TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong
nhóm cùng giới - lẫn giới và các tình huống giao tiếp còn lại
Biểu đồ 4.3. Tỉ lệ xuất hiện TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong
nhóm cùng giới và lẫn giới
Biểu đồ 4.4. TNKK của trẻ em xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng
và phi trang trọng
Biểu đồ 4.5. TNKK của ngƣời lớn xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang
trọng và phi trang trọng
Biểu đồ 4.6.Tuổi của ngƣời nói và xu hƣớng sử dụng TNKK trong tình huống
giao tiếp trang trọng
Biểu đồ 4.7. Trẻ em sử dụng TNKK với ngƣời trên, ngƣời ngang hàng và ngƣời dƣới
Biểu đồ 4.8. Ngƣời lớn sử dụng TNKK với ngƣời trên, ngƣời ngang hàng và
ngƣời dƣới

thƣờng bị coi là những từ ngữ không nên dùng, cần kiêng tránh bởi chúng là
những từ ngữ gây phản cảm cho ngƣời khác. Lớp từ ngữ này thƣờng diễn tả hoặc
tạo ra sự liên tƣởng đến những quan niệm, những đề tài, những sự vật, sự việc bị
coi là cấm kị trong văn hóa cộng đồng, ví dụ nhƣ tôn giáo, tâm linh, tình dục.
Những ngƣời sử dụng loại từ ngữ này thƣờng bị đánh giá là vô học, thiếu văn
hóa, mất lịch sự, thô lỗ, cộc cằn v.v…, trẻ em thƣờng bị trách phạt, bị cấm dùng
những từ ngữ đó, vì vậy chúng đƣợc dạy bằng cách dùng uyển ngữ để thay thế
cho những từ ngữ kiêng kị (TNKK) nói trên.
Tuy nhiên, mặc dù bị cấm đoán và bị đánh giá thấp, TNKK vẫn tồn tại từ
thời này qua thời khác trong vốn từ vựng tiếng Việt, nhất là trong giao tiếp ngôn
ngữ của thanh thiếu niên trên các mạng xã hội hiện nay. Để có thể có thái độ ứng
xử thỏa đáng trƣớc hiện tƣợng này cần có sự chung tay góp sức của các chuyên
ngành khác nhau, trong đó có ngôn ngữ học. Luận án (LA) này là một đóng góp
vào sự nghiệp chung đó.
1.2. TNKK là một lớp từ bị đánh giá thấp và quan điểm thƣờng thấy đối với
chúng đơn giản là cấm sử dụng hoặc cần thiết lắm thì tránh sử dụng bằng cách
dùng uyển ngữ thay thế. Vì vậy, TNKK chƣa thực sự thu hút đƣợc sự quan tâm
của các nhà Việt ngữ học. Các công trình đã có thƣờng đi theo hƣớng mô tả/phân
loại TNKK và dùng uyển ngữ thay thế, nhƣng mô tả TNKK và các cách tránh sử
dụng chúng không giải thích đƣợc bản chất, sự tồn tại và phát triển của lớp từ
này. Ví dụ, không thể giải thích đƣợc tại sao những từ nhƣ “con đĩ” lại là TNKK,
không nên sử dụng trong khi có hẳn một xuất bản phẩm với tên “Xin lỗi em chỉ
là con đĩ”. Thực ra, cũng giống nhƣ mọi hiện tƣợng xã hội khác, để tồn tại,

1


TNKK cũng phải có chức năng xã hội của nó nên chúng ta chỉ có thể đánh giá
đƣợc những từ ngữ nhƣ trên có thô thiển, mất lịch sự hay không thông qua việc
tìm hiểu chức năng xã hội của nó, tức là nghiên cứu chúng trong mối tƣơng liên

là những ngƣời đầu tiên nghiên cứu TNKK, cho rằng TNKK ban đầu là những từ
ngữ thuộc tôn giáo, chỉ xuất hiện trong đời sống tín ngƣỡng của con ngƣời. Tuy
nhiên, cả hai tác giả đều cho rằng mặc dù khái niệm kiêng kị đang ngày càng trở
nên lỏng lẻo hơn, kiêng kị đang chuyển dần từ lĩnh vực tôn giáo sang các lĩnh
vực khác của đời sống con ngƣời, nhƣng vẫn còn nhiều những kiêng kị không
đƣợc nói ra nhƣ: không đƣợc phép gọi tên những thế lực siêu nhiên nhƣ Chúa trời,
ma quỷ; không đƣợc gọi tên về sự chết chóc, bệnh tật; không đƣợc nói những lời
nguyền rủa. Ngoài ra, ở một số xã hội, còn phải kiêng nói đến sự nghèo hèn, nghề
nghiệp tầm thƣờng, và những thứ liên quan đến quần áo lót.
Liên quan đến niềm tin, Nguyễn Quý Thành (1993) [16] nghiên cứu
những TNKK trong nghề đi biển vùng Nam Trung Bộ, và giải thích rằng nghề đi
biển là nghề khắc nghiệt và nguy hiểm nên để tránh những rủi ro do thiên tai
mang lại, dân đi biển kiêng nói những từ ngữ gợi báo điềm gở, sự mất mát,
không vững chắc: nhƣ về (vì về gợi báo trƣớc điều chẳng lành, không gặp may),
mất (nếu đánh mất đồ - vì sợ mất mát, chết chóc); úp (vì sợ bị úp thuyền); v.v …
Nguyễn Thị Tâm Hạnh (2010) [7] cũng đã miêu tả các TNKK trong nghề làm
gốm, ví dụ, kiêng kị nói đến những gì liên quan đến: sự thiếu lành nguyên, méo
mó, đổ vỡ nhƣ: rịn (rịn nƣớc), nứt (nứt toác ra), tréo chân méo miệng, nát (vì
liên quan đến sự đổ nát), (kể cả trong giao tiếp thông thƣờng bên ngoài lò nung),
vì những từ này vốn thƣờng dùng để chỉ sản phẩm không đạt chất lƣợng hoặc
quy trình sản xuất bị trục trặc.
Nhìn chung, những nghiên cứu bàn về TNKK xuất phát từ khía cạnh tôn
giáo đều có xu hƣớng khai thác các từ ngữ linh thiêng gắn với niềm tin tôn giáo
của những con ngƣời mà tiềm thức gắn với tƣ tƣởng “có thờ có thiêng, có kiêng
có lành”. Điều này đã chi phối các hoạt động của con ngƣời, lâu dần trở thành
phong tục, tập quán.

3



4


sự tục tĩu mà bình thƣờng phải giấu kín đi: cái con củ cặc để biểu thị sự ngạo
mạn, coi thƣờng đối thủ của mình.
Kị húy hay kiêng húy cũng là một vấn đề kiêng kị trong ngôn ngữ nhận
đƣợc sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, thời phong kiến tục
kiêng huý gần nhƣ là một quy tắc bắt buộc [11].
Trƣớc tiên, ở phạm vi của một quốc gia, mọi thần dân phải kiêng kị tên
húy của vua. Chẳng hạn, có một thời gian ánh trong ánh sáng là kiêng kị (vì tên
thật của Vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh), nên phải nói là yến sáng; cảnh
trong cây cảnh là kiêng kị (vì tên con trai vua Gia Long là Nguyễn Phúc Cảnh),
nên phải nói là cây kiểng. Ngoài việc kiêng nói tên vua, nhiều khi tên của những
ngƣời thân thuộc với vua cũng phải kiêng nhƣ: cha, mẹ, vợ, con, anh em,… và
có khi đến hàng ông nội, bà nội, tên giả, chữ đệm của vua cũng phải kiêng.
Trong phạm vi làng xã, cũng có những kiêng huý nhất định. Chẳng hạn ở
Làng Phƣớc Tích (vùng biển Nam Trung Bộ), nồi là tên của ngài Khai canh Bổn nghệ (họ Hoàng) của làng: “ngài thỉ tổ họ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng Minh
Hùng, tục gọi là Nồi nguyên ngƣời làng Cảm Quyết, tỉnh Nghệ An đã thân chinh
đánh đuổi Chiêm Thành...” [7], do đó, nồi là một từ kiêng kị. Hoặc ở làng Vịa
(Thình Quang - Gia Lâm - Hà Nội) thờ ông Lí Bí và Lí Chiêu Hoàng, vì vậy bí
trong quả bí là kiêng kị, và phải nói tránh là quả bầu.
Trong phạm vi gia đình, do truyền thống văn hóa, con cái có thể kiêng gọi
tên thật ông bà tổ tiên, những ngƣời đã mất hoặc những ngƣời có vai trò trong
dòng tộc nên nếu ai sử dụng những từ đó phải sẽ phạm tội hỗn láo [11]. Do đó,
trong cuộc sống hàng ngày gặp phải những tên giống với tên của ông bà tổ tiên,
đặc biệt tên của những ngƣời đã khuất, thì phải tìm cách đọc tránh đi, nhằm tránh
phạm vào sự linh thiêng của các linh hồn, chẳng hạn: không đƣợc nói Hà Đông,
mà nói Hà Đƣơng, không nói thịt đông mà nói thịt đặc, hồng gọi tránh là hƣờng,
hoa gọi là huê, xuân gọi là xoan, bƣởi gọi là bòng [15].
Ngoài ra, có khá nhiều công trình nghiên cứu về những từ ngữ chỉ điều

Coi TNKK là một hiện tƣợng trong ngôn ngữ học xã hội, Hongxu và các
cộng sự (1990) [55] đã thâm nhập vào một cộng đồng nhỏ ở Trung Quốc, và
phát hiện ra rằng TNKK là một hiện tƣợng ngôn ngữ, văn hóa, xã hội có quan hệ
với mê tín, tập tục, và quyền lực phân cấp. Họ đã thảo luận những ảnh hƣởng

6


của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự hình thành và phát triển của TNKK.
Hongxu và các cộng sự đề xuất cách phân loại, cho rằng kiêng kị rơi vào hai
nhóm: ngôn ngữ vĩ mô và ngôn ngữ vi mô. Nhóm đầu tiên, tất cả các từ đƣợc
hầu hết mọi ngƣời hội thoại trong cộng đồng coi là đáng ghê tởm và tục tĩu nhƣ
tình dục và chết chóc. Với nhóm TNKK vi mô, những từ nhất định đƣợc cảm
nhận là kiêng kị trong mối quan hệ với ngữ cảnh cụ thể. Họ đề xuất một cách
phân loại cho TNKK, bao gồm "ngữ cảnh vĩ mô" (tức là các yếu tố xã hội) và
"ngữ cảnh vi mô", bao gồm các yếu tố mang tính tình huống nhƣ hình thức và
ngƣời đối thoại.
Jay (1992) nhận ra “ngôn ngữ bẩn” (dirty language) “đang dần dần đƣợc
chấp nhận rộng rãi đối với công chúng Mĩ” [62]. Đây là lí do khiến ông tiến
hành nghiên cứu “ngôn ngữ bẩn” ở tòa án, phim ảnh, sân trƣờng và trên đƣờng
phố ở Mĩ. Cuốn sách của ông là công trình đầu tiền khảo sát lời chửi rủa của
ngƣời Mĩ một cách sâu rộng từ khía cạnh ngôn ngữ học tâm lí - ngữ cảnh
(psycholinguistic - contextual). Rất nhiều những nghiên cứu thực địa và thí
nghiệm trong phòng thực nghiệm tập trung khảo sát mối liên hệ giữa lời chửi rủa
và sự thụ đắc ngôn ngữ, giới, sự thô lỗ, v.v... Tất cả các từ ngữ khiêu dâm, quấy
rối tình dục, nói điện thoại tục tĩu, và chửi rủa ở trƣờng học đều đƣợc phân tích
và liên hệ với dữ liệu ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học tâm lí. Tần số xuất
hiện, mức độ thô lỗ của từ ngữ, giới, tuổi của ngƣời nói cũng đƣợc khảo sát.
Nghiên cứu đã chỉ ra những lời chửi rủa đƣợc sử dụng trong những hoàn cảnh
giao tiếp đặc biệt trong cuộc sống, và cũng chỉ ra nó đã ảnh hƣởng đến ngƣời nói

nói ngôn ngữ thô lỗ dễ dàng đƣợc chấp nhận hơn nữ giới, còn nữ giới – từ khi có
sự mở cửa của xã hội – đã sử dụng TNKK nhiều hơn so với trong quá khứ.
Để tìm sự tƣơng đồng và khác biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ kiêng kị
của nam giới và nữ giới, Gao (2008) [50] dựa trên tƣ liệu hội thoại của nam giới
và nữ giới trong nhóm cùng giới và lẫn giới qua hàng loạt các tập phim Sex and
the City, chiếu từ năm 1998 đến năm 2004, qua kênh HBO của Mĩ. Phát hiện của
nghiên cứu này là cả nam giới và nữ giới đều sử dụng ngôn ngữ kiêng kị nhiều
hơn trong hoàn cảnh giao tiếp cùng giới; trong khi đó nam sử dụng nhiều TNKK
hơn nữ trong nhóm hội thoại lẫn giới. Kết quả này không đồng thuận với phát
hiện của Coates (2004) [38] rằng cả nam và nữ đều điều chỉnh hành vi lời nói

8


của mình để phù hợp với giới còn lại. Sự khác biệt giới còn thể hiện ra trong việc
sử dụng những loại TNKK khác nhau, nữ giới sử dụng những từ ngữ lăng mạ
thƣờng xuyên, trong khi đó thì nam giới lại sử dụng những từ ngữ khiêu dâm.
Bằng phƣơng pháp phân tích hội thoại, Teguh (2008) [105] đã khảo sát
cách sử dụng TNKK và uyển ngữ sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau của bộ
phim Ali G Film (đạo diễn Mark Mlyod). Để có đƣợc tƣ liệu tin cậy, tác giả đã
nghe lại lời thoại của tất cả những phát ngôn mà có sử dụng TNKK và uyển ngữ,
sau đó nhận diện và phân loại. Kết quả nghiên cứu là có 3 loại TNKK đƣợc sử
dụng là kiêng kị thô tục, khiêu dâm và thông tục, có 4 loại uyển ngữ: uyển ngữ
về sự chết chóc, về sự xúc phạm, về tôn giáo và tình dục. Đi tìm các biến thể
ngôn ngữ học xã hội của từ fuck trong tiếng Anh Ailen từ khía cạnh tuổi và giới,
dựa vào kho ngữ liệu, Murphy (2009) [86] nhận thấy trong hội thoại hàng ngày,
fuck là từ xuất hiện với tần số cao, và đặc biệt xuất hiện nhiều trong nhóm nam
giới độ tuổi 20. Biến thể fucking, dạng thay đổi cảm xúc mạnh, là mục từ có tần
số cao trong giao tiếp nhóm nam giới lứa tuổi 20 và 40. Sự tăng mạnh về cảm
xúc khi sử dụng biến thể fucking là do đặc tính giao tiếp của đàn ông. Trong một

rằng không đƣợc phép nói ra TNKK; và lối nói vòng vo là phƣơng tiện hữu ích
nhất đề nói về chủ đề kiêng kị trong ngữ cảnh trang trọng. Đồng tình với quan
điểm của sinh viên nam, sinh viên nữ khẳng định trong tình huống giao tiếp phi
trang trọng, TNKK là những từ thô lỗ hơn.
Sử dụng cách tiếp cận “lịch sự” của Brown và Levinson (1978, 1987) làm
cơ sở cho việc phân tích những kiêng kị ngôn ngữ trong xã hội Yemen, Qanbar
(2011) [93] đã khảo sát các nhóm TNKK trong các nhóm xã hội khác nhau, và
thảo luận những yếu tố tác động đến việc biểu đạt những từ ngữ gọi là kiêng kị ở
các nhóm xã hội đó, trên cơ sở đó đƣa ra các nhóm từ thay thế dễ chấp nhận hơn
nhóm kiêng kị ngôn ngữ nhƣ: uyển ngữ, từ trái nghĩa, ẩn dụ, v.v... Tác giả cho
rằng, trong xã hội Yemen mức độ kiêng kị của những TNKK bị ảnh hƣởng bởi
nhiều yếu tố khác nhau, một từ gọi là kiêng kị có ảnh hƣởng khác nhau đến
những nhóm ngƣời hội thoại khác nhau. Những từ này có thể gây sửng sốt cho
một cá nhân hay một nhóm ngƣời hội thoại này, nhƣng lại không gây sửng sốt
đối với một nhóm khác. Thời gian tồn tại cũng có vai trò nhất định, chẳng hạn

10


một số từ là húy kị trong quá khứ, nhƣng trải qua một giai đoạn thì tính kiêng kị
đã bị loại bỏ, ví dụ, vợ nói đến tên chồng không còn là kiêng kị nhƣ trƣớc đây.
Bản chất của từ đƣợc sử dụng cũng xác định mức độ kiêng kị, ví dụ nhƣ bộ phận
sinh dục của nữ giới thƣờng bị coi là kiêng kị hơn so với của nam giới; các yếu
tố giáo dục, giới, bối cảnh nhân khẩu học cũng có ảnh hƣởng nhất định đến việc
sử dụng TNKK; tuy nhiên những vấn đề này mới chỉ đƣợc tác giả đặt ra nhƣ là
giả thuyết cho những nghiên cứu trong tƣơng lai. Chẳng hạn: những ngƣời có
học có vẻ sử dụng TNKK ít hơn những ngƣời không có học, đàn ông sử dụng
TNKK sẽ đƣợc xã hội dễ chấp nhận hơn phụ nữ, ngƣời nông thôn dƣờng nhƣ sử
dụng TNKK liên quan tới tình dục và chức năng cơ thể nơi công cộng thƣờng
xuyên hơn ngƣời thành phố vì họ đƣợc nuôi lớn trong cộng đồng nông nghiệp

của mình. Cho đến nay, ngoài tác giả của LA, chƣa có ai khai thác mảng tƣ liệu
về sự sử dụng từ ngữ kiêng kị của Dự án này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đặc trƣng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong tiếng Việt là
một vấn đề lớn, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và tài lực, do đó trong khuôn
khổ của một LA, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu sự sử dụng TNKK của
một nhóm trẻ em ở một cộng đồng nông thôn miền Bắc Việt Nam1. Việc khảo
sát sự sử dụng TNKK ở ngƣời lớn xung quanh nhóm trẻ chỉ là hỗ trợ cho việc lí
giải quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em ở cộng đồng Hoài Thị. Với thực tế
này, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu là những TNKK xuất hiện trong
giao tiếp tự nhiên của trẻ em (phần chọn mẫu sẽ đƣợc đề cập ở mục 5.1. dƣới

1

Chúng tôi không thể nghiên cứu những đặc trƣng ngôn ngữ học xã hội về TNKK ở một

diện rộng vì chi phí cho điều tra xã hội học rất tốn kém. Ví dụ, chỉ tính riêng kinh phí chi cho
việc ghi âm ngôn ngữ tự nhiên của trẻ em ở Hoài Thị, thuộc dự án “Tiến trình phát triển
ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị năm 2001-2002” cũng đã tốn tiền tỉ.

12


đây) ở cộng đồng Hoài Thị, trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2001 đến
tháng 6 năm 2002, với thời lƣợng ghi âm là 39 giờ, tƣơng đƣơng với 3600 trang
A4 ghỡ băng.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Xem xét đặc trƣng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong tiếng Việt,
trƣờng hợp giao tiếp ngôn ngữ trẻ em ở Hoài Thị, một mặt LA muốn làm rõ sự

Do tính chất đặc thù của nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, nên việc thu
thập và xử lí số liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng.
5.1. Phƣơng pháp thu thập tƣ liệu
Chọn mẫu là một trong những khâu đầu tiên trong quá trình thu thập tƣ
liệu đƣợc chủ nhiệm của Dự án2 thực hiện trƣớc khi những ngƣời đi thực địa3
tiến hành ghi âm. Các hộ gia đình trong diện điều tra cũng đã đƣợc cân nhắc kĩ
nhằm đảm bảo tính đại diện về giới, tuổi, giai tầng, v.v... Số lƣợng mẫu nhƣ sau:
Giới
Tuổi
Mẫu giáo (từ 1995-1998)
Tiểu học (từ 1991-1994)
Tổng

Bé gái

Tổng

10
4

4
8

14
12

14

12


đó có thể hiểu thêm phần nào về ngôn ngữ - văn hóa của ngƣời dân nơi đây.
Quan sát tham dự đƣợc chúng tôi thực hiện khi tham dự các lễ hội làng,
đám cƣới, đám tang và một số hoạt động sản xuất nông nghiệp của ngƣời dân.
Tham dự vào sự kiện văn hóa của địa phƣơng và của các gia đình tại địa bàn
nghiên cứu đã giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về cách ứng xử ngôn ngữ của cộng
đồng Hoài Thị.
5.2. Phƣơng pháp xử lí tƣ liệu
Tƣ liệu ghi âm ngôn ngữ tự nhiên đƣợc chúng tôi ghi âm trong vòng 2
năm, từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 6 năm 2002. Cứ 4 tháng, những ngƣời đi
ghi âm lại có nhiệm vụ quay trở lại hộ gia đình để ghi âm một lần, trong 2 năm
mỗi hộ có trung bình 4 lần thu âm, mỗi lần 45 phút (4 lần x 45 phút = 180 phút),
tƣơng đƣơng với 3 giờ thu âm. Nhƣ vậy, tổng thời lƣợng ghi âm 13 hộ gia đình
là 2.340 phút (13hộ x 180phút/hộ), tƣơng đƣơng với 39 giờ ghi âm.
Với thời lƣợng 39 giờ ghi âm giao tiếp tự nhiên của các bé trong diện điều
tra đƣợc những ngƣời tham gia ghi âm giải băng thành 3.600 trang khổ A4. Dựa
trên bản giải băng của Dự án, LA đã chọn ra các TNKK theo tiêu chí đƣa ra ở
phần quan niệm TNKK (chƣơng 1, mục 1.2.3.).

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status