THƯ VIỆN
KHOA HỌC
XÃ HỘI
•
•
•
NGUÒN T ư LIỆU QUÝ CHO NGHIÊN c ứ u VIỆT NAM HỌC
Phạm Xuân Hoàng *
1. Thư viện Khoa học xã hội - sự hình thành và phát triển
Thư viện Khoa học xã hội (Thư viện KHXH) (thuộc Viện Khoa học xã hội
Việt Nam do Viện Thông tin khoa học xã hội quản lý và chịu trách nhiệm tổ chức
hoạt động), được kế thừa trực tiếp phần lớn các di sản của Học viện Viễn Đông Bác
cổ Pháp (EFEO) - còn gọi là Trường Viễn Đông Bác cổ hay Viện Viễn Đông Bác
cổ Pháp.
Việc thành lập Thư viện EFEO được thể hiện trong khoản 2, Điều 3, sắc lệnh
ngày 26/2/1901 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về Tổ chức Học viện Viễn Đông
Bác cổ. Điều khoản này đã nêu lên một trong những nhiệm vụ của EFEO là "duy tri
và phát triển thư viện và bảo tàng của Học viện" (Ngô Thế Long - Trần Thái Bình,
2009, tr.128). Do vậy, Thư viện EFEO đã ra đời và hoạt động cùng với thời điểm
hình thành và đi vào hoạt động của Học viện Viễn Đông Bác cổ.
Lúc đầu, văn phòng và Thư viện của EFEO đặt tại số nhà 140 đường Pellerin
Sài Gòn (nay là đường Pasteur, thành phố Hồ Chí Minh), tới năm 1903 chuyển ra
Hà Nội tại số 3 phố Teinturiers (nay là phổ Thợ Nhuộm) và 60 đại lộ Gambetta (nay
là phố Trần Hưng Đạo). Năm 1905, chính quyền thuộc địa cấp trụ sở mới cho văn
phòng thư viện của EFEO tại 26 đại lộ Caưeau và sau nhiều lần xây dựng và mở
rộng thêm. Tới năm 1943, tòa nhà 5 tầng của Thư viện đã được hoàn thành. Thư
viện mới xây ngay cạnh tòa nhà cũ của Thư viện tại 26 đại lộ Carrau (nay là 26 Lý
Thường Kiệt), với kết cấu bê tông cốt thép, dài 29m, rộng 15,6m, cao 16m. Năm
1957, Pháp bàn giao lại Viện Viễn Đông Bác cổ cho phía Việt Nam. Năm 1958,
Thư viện Viễn Đông Bác cổ được bàn giao cho thuộc Bộ Giáo dục. Năm 1959, sau
làng Việt cổ (tương đương khoảng 230 nghìn trang tư liệu viết tay) trong đó có
khoảng 50 văn bản soạn vào thế kỷ XVIII-XIX; 1.225 bàn hương ước bàng chữ
Hán, chữ Nôm, bằng bút lông trên giấy dó; 5.000 bản hương ước bằng chữ quốc
ngữ; hơn 3.000 bản kê bằng chữ Hán, chữ Nôm các dạng văn hóa làng xã như thần
tích, thần sắc, văn bia, địa bạ, khoán lệ...và bản kê địa danh làng xã năm 1923 của
hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước;
v ề sách báo và ấn phẩm, Thư viện KHXH chi đứng sau Thư viện Quốc gia
Việt Nam2. Hiện có khoảng 1.000.000 bản sách báo với 500 nghìn sách, hơn 2.000
loại báo và tạp chí tiếng Việt và tiếng nước ngoài thuộc các lĩnh vực khác nhau,
trong đó có khoảng hơn 400 loại báo và tạp chí nước ngoài được bổ sung đủ và
thường xuyên. Nhiều tên tạp chí ở các thư viện lớn khác ở Hà Nội không thấy có.
1. Những số liệu trong bài viết này về Thư viện KHXH chúng tôi căn cứ trên cuốn sách "Thư
viện KHXH " (xem Phần mục Tài liệu tham khảo của Tham luận này)
2. Theo số liệu cập nhật ngày 24/9/2012 trên website Thư viện Quốc gia Việt Nam thì nguồn
tài nguyên thư viện này có: Sách: 1.500.000 đơn vị (hàng năm tăng từ 100-120 nghìn bãn
sách). Sách lưu chiểu có gần 200.000 tên với khoảng 300.000 bản và tăng dần theo mức dộ
tăng trưởng cùa ngành xuất bản nước ta. Báo, tạp chí: hơn 9.000 tên báo, tạp chí trong nước
và nước ngoài. .V.V.. Nguồn lực thông tin, website Thư viện Quốc gia Việt Nam.
/>
404
THƯ VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI.
2. Một số nhận xét về nguồn thông tin - tư liệu tại T hư viện Khoa học xã hội
2.
/. Thư viện là m ột kho tư liệu đồ sộ về số lượng, phong p hủ về chủng loại
và đa dạng về các ngành khoa học, phần nhiều trong sổ đó là kết quả hoạt động
sưu tầm và nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác cổ
ngôn ngừ học, tôn giáo học, văn học, địa lý, nghệ thuật. Với nội dung tìm hiểu lịch
sử và những yếu tố văn hóa chủ chốt của dân tộc Việt Nam thông qua các phương
pháp nahiên cứu đa dạne và có hiệu quả như thực địa, điều tra, điền dã dân tộc
4 05
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỨ TƯ
học, kết hợp với ghi chép, khai quật khảo cổ học, giám định, điều tra niên đại,
hiện vật, kết quả của những nghiên cứu, khảo sát đó là những công trình khoa học
có giá trị được công bổ trên các tập san, tạp đhí, hay những cuốn sách lớn. Riêng
Tập san Viện Viễn Đông Bác cổ (BEFEO) ra mắt thường niên 1 số/năm đã đăng
tải những nghiên cứu quan trọng. Mặc dù là một chuyên san về triết học và kháo
cổ học nhưng đã đăng tải rộng rãi nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên
các lĩnh vực của khoa học xã hội - nhân văn như dân tộc học, sử học, ngôn ngữ
học, tôn giáo, nghệ thuật...
Trong số các kết quả nghiên cứu thu được, nghiên cứu về Việt Nam chiếm
một phần quan trọng, khoảng Va tổng số các công trình (Philippe Le Failler, 2000,
tr.8). Dân tộc Việt Nam trong quá khứ được tái hiện, phục dựng trên nhiều khía
cạnh, đó là các nền văn hóa khảo cổ; nguồn gốc quá trình dựng nước; các đặc điểm
về ngôn ngữ, tín ngưỡng dân gian; những phong tục tập quán và những nét đặc sấc
của làng xã Việt Nam như văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn, Sa Huỳnh,... lần
đầu tiên được biết đến qua các nghiên cứu khảo cổ của Viện Viễn Đông Bác cổ.
Nhiều công trình của Viện là sản phẩm tập thể cùa các nhà khoa học Pháp Việt
hoặc là dịch từ Pháp, nghiên cứu của các học giả pháp về Việt Nam. Có thể nói,
nhiều học giả người Pháp và người Việt Nam, kế tiếp nhau góp phần xây dựng, phát
triển EFEO và thành danh với EFEO. Trong đó nhiều người nổi danh như: nhà khảo
cổ học, dân tộc học, tôn giáo Gustave Dumoutier, nhà tiền sử học Madeleine
Colani, nhà ngữ văn học, dân tộc học Léopolé Cadière, nhà nghệ thuật học và kiến
trúc Henri Parmentier, nhà sử học Charles Maybon, nhà sử học và Hán học Henri
XVIII. Một phần bộ "Vĩnh lạc đại điển" và một phần bộ "Tứ khố toàn thư" là những
sácầ có giá trị đặc biệt mà ngay tại Trung Quốc cũng không có đủ thì có mặt và
đưcc lưu giữ bảo quản tại Thư viện KHXH Việt Nam. Đây thực là những tài liệu
qu>' hiếm mà ngày nay nó xếp vào loại tư liệu không dễ gì để có được nó.
Năm 2002, khi tới tham quan kho sách Latinh cổ, chuyên gia thư viện nổi
tiếrg về Việt Nam ở Pháp, bà Ch.P.Rageau, đã thực sự kinh ngạc khi thấy bộ Tour
du nonde, Pari, 1831 (8°3709) "Các bạn có trong tay một bộ sách không thể mua
đưọc bằng vàng". Đây là bộ sách khảo cứu về xứ Đông Dương trước đây, chắc sẽ
rất ìừu ích cho việc tham khảo, nghiên cứu của các nhà Việt Nam học.
Chỉ riêng các bộ sun tập như Bản đồ, sẳc phong, Thần tích - Thần sắc, Hương
ước Ảnh hay sách cổ các thứ tiếng cổ có thể xứng đáng coi là những trung tâm lưu
trữ :huyên ngành hay những bộ sưu tập có tính đến khả năng đăng kí vào các loại
hìnl di sản văn hóa của nhân loại. Những kho này, tùy nội dung và đặc điểm của
chúig, có những giá trị nhất định đối với giới nghiên cứu và cộng đồng xã hội.
Kho hương ước: Hiện sổ lượng hương ước có trong kho là 6.440 bản, được lập
trorg thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nội dung các các bản hương ước là giao kết của
nội bộ từng làng xã, các quy định về đất đai, hoa lợi, sản xuất, nghề nghiệp; quy
ước về quyền lợi, nghĩa vụ của thành viên trong cộng đồng; những quy định về
thưorng phạt; các soạn thào, sửa đổi, bổ sung, bảo quản...;
Những nội dung hương ước này rõ ràng có giá trị tham khảo lớn cho nghiên
cứu về văn hóa làng xã, về quản trị xã hội của cộng đồng trước đây, có thể tìm kiếm
đưọc nhiều ý nghĩa cho giai đoạn hiện nay. Do vậy, việc xuất bản cuốn "Thư mục
hươĩg ước Việt Nam: thời kỳ cận đại" (1991), cuốn "Thư mục hương ước Việt Nam:
văn bản Hán Nôm" (1993) đã thực sự thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu.
Kho Thần tích - Thần sắc: Kho này hiện có 13.211 quyển chép tay, đã thống
ke ỉầu như đầy đủ danh sách cùng sự tích các vị thần được thờ cúng của 47 đơn vị
cẫpđịa phương trong toàn quốc. Đặc biệt, nhiều bản thần tích, ngoài phần khai thần
tích còn sao lại toàn bộ sắc phong bàng chữ Hán, Nôm.
407
thể cho ta biết đời sổng tinh thần, tâm thức dân gian, có ý nghĩa đổi với các nghiên
cứu folklore Việt Nam.
Kho bàn đồ: Kho bản đồ của Thư viện còn lưu giữ 1.370 bản đồ các loại,
trong đó có 986 bản đồ về Đông Dương và Việt Nam được vẽ hoặc in trong khoảng
thời gian từ năm 1584 đến năm 1942. Có nhiều bản vẽ Hà Nội thế kỷ XVIII, đầu thể
kỷ XIX, chẳng hạn bản đồ Hà Nội năm 1831, 1873; bản đồ Sài Gòn năm 1902. Bàn
đồ là công cụ quan trọng của địa lý học, nó phản ánh trạng thái không gian, ý tường
quy hoạch xã hội, sự thay đổi địa giới, mốc giới của các thời kỳ lịch sử... Kho Thư
viện KHXH có những tấm bản đồ độc, ví dụ: Đại Nam An quốc họa đồ, 1884, đây
là bản đồ, vẽ trong thời đoạn đất nước có biến động lớn, có giá trị lịch sử to lớn làm
408
THƯ VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI.
càn cứ xác định nhiều vấn đề khác. Những bàn đồ cổ nói trên có ý nghĩa trong việc
tỉm hiểu địa chí, lãnh vực các thời đoạn đã qua, giúp xác lập tính xác thực cùa nhiều
vấn đề quan trọng như chủ quyền, rất có ý nghĩa cho nghiên cứu Việt Nam học. về
bàn đồ Hà Nội năm 1831 của Thư viện KHXH, nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc
nhìn nhận: “Đây là tài liệu thật quý trong việc nghiên cứu Hà Nội cũ” 1.
Ngoài ra, Thư viện còn có kho đĩa hát (1.013 chiếc), kho microfilm (2.000 tài
liệu) và nhiều hiện vật lẻ khác.
Có thể thấy, tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay, nếu bạn đọc muốn tìm
hiểi căn cứ tin cậy nhất về thần tích, thần sắc và hương ước, về các tài liệu Hán cổ
và Nhật cổ, về ảnh và bản đồ thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, về các ấn
phẩn EFEO thời Pháp, về các tạp,chí KHXH uy tín của thể giới thì thư viện KHXH
là rưi có khả năng đáp ứng được một cách đầy đủ nhất.
Trong Thư viện KHXH, có một nguồn tư liệu không kém phần độc đáo, đó là
các cuốn sách viết tay, đây là chứng tích lun trữ của một thời kỳ dài thu thập sưu
tầm tin tức từ nhiều nguồn tin khác nhau. EFEO đã thu thập được rẩt nhiều các văn
dẫn, nguồn tài liệu tham khảo của các học giả khi nghiên cứu về Việt Nam và
Đông Dương.
3.
Một số ý kiến về công tác khai thác nguồn thông tin tư liệu của Thir
viện KHXH phục vụ công tác nghiên cửu Việt Nam học nói riêng, khoa học xã
hội nói chung
3.1. Những năm qua, vì nhiều ỉỉ do khác nhau, các nguồn vốn tư liệu của
Thư viện chưa được đánh thức, nên những vốn quý tư liệu chưa được khai thác
một cách đúng mức, chưa xứng với tầm vóc tư liệu của Thư viện, để có thể mang lại
hiện quả cho giới nghiên cứu muốn tiếp cận chúng và cũng đưa những tri thức quý
tới dân chúng, tăng thêm hiểu biết phục vụ sự phát triển kinh tể xã hội của đất nước.
Đó cũng là điều rất đáng tiếc và cũng là nỗi băn khoăn của không ít cán bộ tâm
huyết của Thư viện KHXH hiện nay.
Hàng năm trước đây, Thư viện chỉ thu hút được khoảng năm trăm thẻ bạn đọc
mới và trong sổ đó chủ yểu là các học giả, trí thức đã biết và có thời gian gắn bó với
Thư viện. Nếu tình hình tiếp diễn như cũ, thì kho tư liệu quý giá này cũng chưa thể
khai thác được bao nhiêu trong một tương lai gần. Rất có thể, trong kho lưu trữ của
Thư viện KHXH còn ẩn chứa nhiều điều chưa được khai thác hoặc cần được sớm
khai thác để bổ sung vào vổn hiểu biết của dân tộc trong thời đại mới, với lớp người
mới. Và rất có thể, nếu khai thác và công bổ được những tư liệu quý trong kho bản
đồ thì những bản đồ "biết nói" sẽ có giá trị cho công cuộc đấu tranh chứng minh chủ
quyền, bảo vệ biển đảo Quốc gia mà lẽ ra chúng ta không mãi đối xử với chúng như
những điều bí mật hoặc còn do dự trong việc khai thác ý nghĩa đích thực của chúng.
3.2. Công tác bảo quản gặp không it khỏ khăn, việc thu thập phát triển tư
liệu không hề đơn giàn, cô n g tác "sổ hóa" để nâng ca o khả năng khai thác và tiếp
cận ch o độc giả qua m ạn g Online cò n chư a được như m on g m uốn.
Mấy năm nay, Thư viện không đủ kinh phí để bổ sung tài liệu truyền thống
cao học và nghiên cứu sinh, nghiên cứu viên ngành khoa học xã hội, các
khoa/ngành Việt Nam học, Đông Phương học tại các trường đại học (Sư phạm Hà
Nội I, Đại học Quốc gia...) nên coi Thư viện KHXH Việt Nam là một địa chỉ tin
cậy, cần tiếp cận và khai thác, có thể qua đọc và tìm kiếm tư liệu tại thư viện và giới
thiệu những tư liệu quý tới cộng đồng, để quảng bá, nhân lên giá trị văn hóa và lịch
sử trong các kho tư liệu của Thư viện;
3.4. Nhà nước và Viện Khoa học xã hội Việt Nam cần tiếp tục đầu tư, hỗ trợ
giúp Thư viện KHXH bổ sung, cập nhật những nguồn tư liệu mới, kết quả nghiên
cửu mới (ví dụ, các nghiên cứu về Việt Nam từ cấp luận văn thạc sĩ, các đề tài cấp
Bộ- đến luận án tiến sĩ và các đề tài, chương trình khoa học cấp quốc gia), nguồn tin
về khoa học xã hội trong và ngoài nước về khoa học xã hội và Việt Nam, để Thư
viện KHXH không chỉ dừng lại ở phục vụ vốn cổ, mà được tăng cường năng lực
phục vụ trong bổi cảnh xã hội thông tin không ngừng phát triển. Chỉ như thế mới có
thể làm phong phú nguồn tin và khai thác sâu rộng các giá trị của Thư viện KHXH
trong cộng đồng khoa học vì sự nghiệp phát triển lâu dài của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Hồ Sĩ Quý - Vương Toàn (đồng chù biên), 2011, Thư viện Khoa học xã hội, Nxb Khoa
học xã hội, H à Nội.
2. Hồ Sĩ Quý, 2010, "Về mội thư viện khoa học xã hội tầm cỡ khụ vực", trong Niên giám
Thông tin Khoa học xã hội, số 5, tr.335-342. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Ngô Thế Long, Trần Thái Bình. 2009, Học viện Viền Đông Bác co (giai đoạn 18981957), N xb K hoa học xã hội, Hà Nội.
411
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư