299
Tuyển tập công trình Hội nghị khoa học công nghệ và môi trường năm 2009
Viện Khoa học và Công nghệ GTVT
Hà Nội, 30/10/2009
Hoạt động thông tin thư viện khoa học và công nghệ ở Việt Nam,
định hướng hoạt động và phát triển giai đoạn tự chủ
theo Nghị định 15/2005/NĐ-CP tại Viện Khoa học và Công nghệ GTVT
KS. Vũ Đăng Điệt
TS. Đào Huy Hoàng
Viện Khoa học và Công nghệ GTVT
Tóm tắt: Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta đã trải qua quá trình
gần 50 năm phát triển. Các tổ chức thông tin KH&CN đã được thành lập ở tất cả các ngành, các
cấp, các địa phương và tạo nên một hệ thống thông tin KH&CN quốc gia rộng khắp. Tổ chức
Thông tin, thư viện KH&CN ngành GTVT là một bộ phận trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ
GTVT. Trong nhiều năm qua, các sản phẩm và dịch v
ụ thông tin, thư viện đã có nhiều nỗ lực trong
hoạt động, tuy nhiên còn gặp rất nhiều khó khăn trong tổ chức quản lý cũng như triển khai công
việc. Để chuyển đổi phù hợp theo cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP thì trong thời
gian tới, hoạt động thông tin, thư viện KH&CN cần phải xây dựng định hướng phát triển và hoạt
động một cách phù hợp nhằm tồn t
ại, phát triển và đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, góp
phần phát triển KH&CN, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong ngành GTVT.
Abstract: Operation of Science and Technology Information of our country has been developed
for nearly 50 years. Organizations of Science and Technology Information have been established
in many industries, levels and localities creating a nation-wide science and technology
information system. Transport Science and Technology Library, Information Center is a unit
directly under Institute of Transport Science and Technology. In the past years, information and
library products/ services have been improved much; however, there are still many difficulties in
management and execution. In order to change into self-control regime according to the
triển KH&CN đến năm 2010; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận Hội nghị
Trung ương 6 (khóa IX) về KH&CN.
Hình 1. Một phòng đọc tại thư viện khoa học khoa học kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
Những nội dung cơ bản mà các cơ quan thông tin KH&CN các ngành, các cấp tập trung triển khai
trong những năm gần đây là:
Kiện toàn bộ máy, tổ chức lại dây chuyền công nghệ theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả;
Tạo lập tiềm lực thông tin cục bộ, nhất là nguồn tin nội sinh; tăng cường nguồ
n tin điện tử,
tận dụng khai thác Internet và các nguồn tin trên CD/ROM; tận dụng các khả năng chia sẻ, hỗ trợ
nguồn tin trong và ngoài nước;
Cải tiến sản phẩm theo hướng hiện đại; lấy công cụ mạng và các CSDL làm xương sống
cho mọi hoạt động;
Tham gia tích cực các triển lãm, hội chợ, Techmart (Chợ công nghệ và thiết bị), tăng
cường phổ biến thành tựu KH&CN...;
Áp dụ
ng những hình thức phục vụ mới: Kho mở (với cổng từ, mã vạch), phòng đa phương
tiện, truy cập trực tuyến;
Đẩy mạnh việc xây dựng thư viện điện tử;
Triển khai rộng "Mô hình cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn, miền núi"...
Về thông tin tư liệu tại Việt Nam:
Nguồn tin - nguyên liệu cơ bản của hoạt độ
ng thông tin ngày càng được chú trọng lựa chọn, thu
thập bổ sung một cách chủ động. Trong những năm gần đây, hàng năm Nhà nước đầu tư trên 1 triệu
USD cho các cơ quan thông tin, thư viện để mua sách báo và các nguồn tin điện tử của nước ngoài.
Đến nay trong toàn hệ thống đã có hơn 2 triệu đầu sách; 6.000 tên tạp chí (mỗi năm được bổ sung
thêm khoảng 1.500 tên); 20 triệu bản mô tả sáng chế phát minh; 200.000 tiêu chuẩn; 50.000 catalo
công nghiệp; 4.000 bộ báo cáo
địa chất, 4.000 báo cáo lâm nghiệp; 13.000 báo cáo kết quả nghiên cứu,
bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ năm 1995 và đặc biệt phát triển nhanh về số lượng cũng như chất lượng
từ năm 1997, khi Việt Nam bắt đầu hoà nhập Internet. Trong toàn hệ thống hiện nay có tới hàng trăm
bản tin điện tử. Sản phẩm này đã ngày càng chứng tỏ những ưu đ
iểm nổi trội như: Trao đổi thuận tiện,
nhanh, bao gói thông tin dễ dàng (do tận dụng nhanh, nhiều nguồn tin, đa dạng và linh hoạt trong xuất
bản). Hiện nay hầu hết các cơ quan thông tin trung ương, bộ/ngành, địa phương, thậm chí cả cơ sở,
đều xuất bản bản tin điện tử và vai trò của nó ngày càng tăng. Hầu hết các ấn phẩm thông tin KH&CN,
ngoài bản in trên giấy đều có bản điện tử
đưa lên mạng hoặc trên CD/ROM. 302
- Các Website, các thư viện điện tử, các mạng thông tin phục vụ chuyên ngành: Việc áp dụng các
công nghệ thông tin mới trong hoạt động thông tin KH&CN ngày càng được chú trọng và phát triển
mạnh mẽ. Đến nay, hầu hết các cơ quan thông tin KH&CN ở trung ương, bộ/ngành và những thành
phố lớn đếu đã xây dựng Website về KH&CN; một số cơ quan đã tạo lập thư viện điện tử chuyên
ngành. Đặc biệt, trong phạm vi hệ
thống thông tin KH&CN quốc gia có: Mạng thông tin KH&CN Việt
Nam (VISTA); mạng thông tin KH&CN phục vụ vùng sâu, vùng xa; mạng thông tin KH&CN phục vụ
doanh nghiệp; Chợ ảo về Công nghệ và Thiết bị Việt Nam... Những mạng này đã có nhiều đóng góp
trong việc cung cấp thông tin KH&CN một cách kịp thời, thiết thực cho các đối tượng dùng tin trên
khắp mọi miền đất nước và ở nước ngoài.
Hình thành đội ngũ cán bộ thông tin chuyên nghiệp:
Tính đến nay, trong toàn hệ thống có khoảng 5.000 ng
ười, trong đó khoảng 65% cán bộ có trình
độ đại học và 4% trên đại học. Đội ngũ này thường xuyên được bồi dưỡng, đào tạo qua các lớp tập
huấn nghiệp vụ thông tin ngắn hạn trong và ngoài nước.
Hợp tác quốc tế được mở rộng:
Hiện tại, các cơ quan thông tin KH&CN trong toàn hệ thống đã thiết lập được mối quan hệ hợp
tác nhiều mặt với nhiều tổ chứ
Như Auraria Library – nằm trong khu Auraria Campus ở Denver, Colorado là thư viện lớn nhất
phục vụ cho 3 trường đại học Community College of Denver, Metropolitan State College of Denver và
University of Colorado at Denver. Để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của các nhà khoa học,
giảng viên và hơn 20.000 sinh viên của 3 trường này. Với hơn 70.000 đầu sách thuộc mọi thể loại, hơn
50 máy vi tính hiện đại kết nối Internet tốc độ cao, thư vi
ện mở cửa phục vụ hơn 10 tiếng mỗi ngày, đủ
7 ngày trong tuần. Ngoài ra, trong thư viện còn có một khu dành cho những tư liệu video. Với đầu
DVD và tivi có sẵn, bạn chỉ cần mượn DVD để bắt đầu xem những đoạn phim khoa học hoặc những
nghiên cứu mới. Ngoài ra, Auraria Library còn có một khu vực có máy in, máy scan và photocopy để
người đọc sử dụng. Để sử dụng những thiết bị này đòi hỏ
i bạn phải có thẻ ID và credit card. Mức giá
in, scan hay photocopy khá đắt, nhưng nếu so với việc phải mua sách để tham khảo và sử dụng thì vẫn
rẻ hơn rất nhiều.
Mặc dù đã có những đóng góp nhất định và quan trọng vào quá trình phát triển đất nước, song
hoạt động thông tin, thư viện KH&CN vẫn còn không ít vấn đề đặt ra, cần được giải quyết một cách
có hệ thống. Điều đó đượ
c phản ánh cụ thể qua các khía cạnh sau:
- Cơ sở vật chất dành cho hoạt động thông tin, thư viện tuy đã được quan tâm nhưng so với yêu
cầu vẫn còn hạn chế, cần được đầu tư một cách toàn diện, đồng bộ hơn nữa nhằm đáp ứng đòi hỏi của
thực tiễn.
- Chính sách, cơ chế, các giải pháp lưu giữ, quản lý, phát triển nguồn tin KH &CN còn chưa được
chú trọng một cách hợp lý. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khai thác nguồn tin này phục
vụ quá trình phát triển của đất nước nói chung, cho nghiên cứu nói riêng.
- Tính chất biệt lập, cát cứ còn rất nặng nề và phổ biến, cùng với sự hạn chế về các nguồn đầu tư
đã dẫn đến nguồn thông tin KH&CN còn chưa được đầy đủ và tập trung.
- Đội ngũ
cán bộ thông tin, thư viện cần được kiện toàn để có đủ khả năng hoạt động một cách
chuyên nghiệp hơn, có thể đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn với một hiệu quả cao và ổn định.
2. Định hướng phát triển trong giai đoạn 2010-2015 và một số năm tiếp theo của hoạt
động thông tin thư viện khoa học và công nghệ.
trung tâm thông tin, thư viện - tư liệu về các vùng, khu vực,… Có như vậy, hệ thống thông tin
KH&CN mới được hình thành và phát triển trên phạm vi ngành, quốc gia và có thể đáp ứng được một
cách đầy đủ những yêu cầu.
- Hình thành và phát triển ngân hàng thông tin KH&CN. Ngân hàng thông tin chung được tạo nên
bởi sự phân hoạch một cách hợp lý các nguồn thông tin, chứ không thể được t
ạo nên trên cơ sở đưa ra
các giải pháp về hành chính để tích tụ tại một nơi nào đó. Nếu tích tụ lại một nơi thì vừa không khả thi
về năng lực tổ chức, vừa không có hiệu quả từ góc độ của người dùng tin và không mang tính hệ thống
bởi sự đa dạng của loại hình thông tin cũng như khối lượng nguồn tin khổng lồ được gia tăng với t
ốc
độ rất cao.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả đáp ứng nhu cầu thông tin KH&CN, phục vụ quá trình nghiên
cứu và phát triển trên các phạm vi. Hoạt động thông tin, thư viện KH&CN mặc dù đã có những đóng
góp nhất định vào các quá trình nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế - xã hội, song phải luôn không
ngừng đổi mới và phát triển để nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của mình. Cùng với việc hiện
đại hoá các cơ quan thông tin, thư
viện, hình thành các mạng thông tin, các thư viện điện tử, với việc
hình thành và phát triển ngân hàng thông tin KH&CN … thì vấn đề đa dạng hoá các loại hình sản
phẩm, dịch vụ thông tin luôn cần được đặt ra và triển khai. Chính xuất phát từ việc xác định một cách
đầy đủ mọi loại nhu cầu thông tin và tận dụng các kết quả ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông mà các thế hệ sản phẩm, dịch vụ thông tin mới không ngừ
ng được tạo ra. Đó sẽ là những kết quả
cụ thể của việc nâng cao vai trò và hiệu quả của thông tin KH&CN và là nhiệm vụ cụ thể của chúng ta.
- Xây dựng mô hình thư viện điện tử (e-lib) cho thư viện KH&CN. Xây dựng thư viện điện tử
đang là xu thế phát triển chung. Trong lĩnh vực KH&CN, mô hình này có sự khác biệt rất cơ bản so
với các lĩnh vực khác. Điều đ
ó do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Thư viện điện tử là một giải pháp căn bản để dung hoà các mâu thuẫn trên, đồng thời cần chú
trọng phát triển một số dịch vụ hỗ trợ làm cho các di sản văn hoá này đến được với mọi thành viên
trong xã hội một cách trọn vẹn ở mức cao nhất.
học và Công nghệ GTVT kết hợp với bộ phận thư viện của Viện cũ tạo thành một bộ phận thông tin và
thư viện mới với quy mô khá đồ sộ với tổng số nhân viên làm công tác là trên 10 cán bộ.
Thư viện khoa học kỹ thuật của Viện với trên 3 vạn đầ
u sách, báo, tạp chí đựơc bố trí hai phòng
liền kề diện tích 70m2. Có thể nói đây là thư viện khoa học kỹ thuật lớn nhất ngành GTVT tuy nhiên
chưa được quan tâm đầu tư và nâng cấp cũng như chưa có các loại hình phục vụ hiện đại như các thư
viện lớn trong nước.
Bộ phận thông tin thực hiện các công việc như tham dự các hội chợ KH&CN, tham gia xây dựng
website, xuất bản bản tin KHKT tuy nhiên hoạt độ
ng còn gặp rất nhiều khó khăn trong các hoạt động
có thu.
Để chuyển đổi phù hợp theo cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP thì trong thời gian
tới, hoạt động thông tin, thư viện KH&CN tại Viện cần phải được xây dựng định hướng phát triển và
hoạt động một cách phù hợp. Dựa trên tình hình hoạt động và định hướng hoạt động thông tin thư viện
đã nêu trên cũng xin mạnh dạ
n đề xuất phương hướng hoạt động trong thời gian tới như sau:
3.1. Về nhân sự:
- Kiện toàn lại bộ máy tổ chức của bộ phận thông tin thư viện theo hướng gọn nhẹ hiệu quả.
Thông tin và thư viện cần xem xét điều chỉnh về một mối.
- Bố trí nhân lực hợp lý, có chế độ đãi ngộ với cán bộ có khả năng thực sự nh
ưng cũng cần xử lý
những cán bộ không có khả năng và thiếu ý thức trách nhiệm theo đúng quy định của Luật Lao động,
quy định của Viện cũng như của các đơn vị trực thuộc.
- Chuẩn bị phương án bổ sung nguồn nhân lực trẻ, lên phương án đào tạo bồi dưỡng cán bộ thông
qua các lớp tập huấn nghiệp vụ thông tin ngắn hạn trong và ngoài nước.
3.2. Về ho
ạt động:
- Tham gia tích cực các triển lãm, hội chợ, Techmart (Chợ công nghệ và thiết bị), tăng cường phổ
biến thành tựu KH&CN...
- Xây dựng ngân hàng cơ sở dữ liệu các lĩnh vực mũi nhọn trong ngành GTVT. Đặc biệt cần xây
+ Đầu tư về nhân lực.
- Lập đề án xây dựng và phát triển thư viện điện tử ngành GTVT.
- Xây dựng quy chế hoạt động thông tin của Viện, đề nghị Viện giao cho bộ phận thông tin làm
đầu mối hoặc kết hợp với phòng KQH tổ chức các hội thảo, hội nghị
KHCN trong và ngoài nước.
- Lập Đề án tăng cường trang thiết bị thông tin Khoa học và Công nghệ của Viện.
3.4. Về tìm kiếm, tăng cường triển khai các hoạt động có thu:
Cần triển khai một loạt các hoạt động theo nhu cầu thực tế hiện nay, cụ thể như:
- Dịch vụ cung cấp tư liệu, thông tin thư viện khoa học và công nghệ ngành GTVT.
- Dịch vụ quảng cáo, marketing, làm kỷ yếu cho các đơn vị trong ngành GTVT.
- T
ổ chức hội thảo, triển lãm cho các đơn vị khoa học công nghệ trong ngành GTVT.
- Các hoạt động khác.
Hoạt động thông tin, thư viện tại Viện Khoa học và Công nghệ GTVT giai đoạn hiện nay cần
thực hiện theo phương châm là cùng với quá trình hiện đại hoá, phát triển các ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông, tạo nên sự kết nối các cơ quan thông tin, thư viện chuyên ngành thành một
hệ thống thống nhất - Hệ thống thông tin, th
ư viện Khoa học và công nghệ của ngành GTVT. Để đạt
được điều này cần sự quan tâm đặc biệt của Đảng ủy, Lãnh Đạo Viện cũng như cần có sự quyết tâm và
nỗ lực rất lớn của tập thể cán bộ công nhân viên làm công tác thông tin - thư viện hiện nay.
Tài liệu tham khảo
[1]. Kỷ yếu hội thảo quốc tế về thư viện .– TP. Hồ Chí Minh (28-30/8/2006).
[2]. "Hoạt động Thông tin, thư viện trong khoa học xã hội: hiện trạng và định hướng phát triển”, nguồn:
[3]. PTS Bùi Loan Thùy – Đào Hoàng Thúy (1998), Tổ chức và quản lý công tác thông tin – thư viện, Nxb TP.
Hồ Chí Minh.
[4]. Trần Thanh Tùng “Thư viện – một phần không thể thiếu của trường đại học Mỹ”, Ngu
ồn:
.
[5]. Kỷ yếu hội thảo, “45 năm hoạt động thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta”.
monitoring, managing traffic; ajusting periods of traffic lights; separating lanes, lines in timely
manner; avoiding traffic jams, managing vehicles… This paper briefs the results of research,
design and experimental manufacture of automatic vehicles enumerating devices. Given the
massive volume of vehicles travelling on roads at present, it is expected that upon completion,
these devices will contribute to increasing effectiveness in traffic operation as well as monitoring,
managing and separting traffic flows.
1. Giới thiệu chung về Hệ thống giao thông thông minh
ITS được hoạch định để giảm bớt tắc nghẽn giao thông, bảo đảm an toàn, giảm nhẹ những tác
động xấu tới môi trường, tăng cường năng lực vận tải hành khách. Không những trong lĩnh vực giao
thông đường bộ, ITS còn được áp dụng với hàng không, đường sắt, đường sông và cả trong đường
biển; song đa dạng và hiệu quả hơn cả vẫn là trong giao thông vận tải đô thị.
Hình 1: Tổ chức mạng lưới giao thông thông minh
381
Hệ thống ITS được tổ chức thành một mạng lưới gồm nhiều thành phần tham gia: các trạm thu
nhận tín hiệu, các nhà quản lý, các hệ thống quản lý thông tin, hệ thống thông tin cung cấp cho người
sử dụng, hệ thống biển báo thông minh,…Khi các thông tin về hệ thống giao thông: lưu lượng xe, tốc
độ xe tham gia giao thông, tắc đường, tai nạn,… được đưa về một Trung tâm quản lý, điều hành giao
thông, từ đây, các thông tin sẽ được x
ử lý, đưa vào cơ sở dữ liệu, cung cấp đến các hệ thống thông tin
con của nó: hệ thống biển báo, hệ thống thông tin cung cấp trực tiếp cho người tham gia giao thông,…
Hệ thống giao thông thông minh (ITS) là hệ thống giao thông được áp dụng hoàn hảo công nghệ
tiên tiến và phần mềm máy tính vào các thiết bị kiểm soát, chỉ dẫn, điều khiển, thông tin liên lạc để
nâng cao năng lực giao thông trên các tuyến đường cũng như trong các loại hình vậ
n tải. Sự định nghĩa
đơn giản này đã và đang có những thay đổi tốt trong công tác vận hành, quản lý hệ thống giao thông
nói chung và giao thông đô thị nói riêng ở một số nước trên thế giới.
Chương trình ITS của một số nước được nghiên cứu và ứng dụng rất đa dạng, hiệu quả với các
mức độ khác nhau. Tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà tập trung vào các lĩnh vự
n về từ cảm biến, chúng ta xác định được là có xe đi qua. Theo
phương pháp này, các thiết bị, các cảm biến có thiết kế đơn giản, dễ chế tạo, có tính linh hoạt cao.
Nhưng chúng có nhược điểm lớn là dễ gây cản trở giao thông trong quá trình lắp đặt, sửa chữa, bảo
dưỡng. Bên cạnh đó, độ chính xác, độ ổn định của những thiết bị, cảm biến này vẫn cần phả
i được
xem xét, nghiên cứu thêm.
Bảng 1: Giới thiệu nguyên lý, cũng như ưu, nhược điểm của một số loại cảm biến trực tiếp:
Thứ tự Phương pháp Hình minh họa Nguyên lý Ưu điểm Nhược điểm
1 Đếm bằng tay
Người đếm xe sẽ
đếm trực tiếp số
xe đi qua vị trí
quan sát, xác nhận
vào thiết bị mỗi
khi có xe đi qua
- Thiết kế
đơn giản, dễ
chế tạo
- Di động, có
tính linh hoạt
cao
- Thiếu chính
xác
- Phụ thuộc
vào người sử
dụng thiết bị
đếm xe
Hệ thống ống khí
được bố trí trên
đường. Khi có xe
đi qua, hệ thống
khí bị ngắt quãng,
không lien tục,
báo cho biết có xe
đi qua.
- Đơn giản,
di động
- Chi phí lắp
đặt, bảo
dưỡng thấp
-Thiếu chính
xác.
- Dùng trong
nghiên cứu
ngắn hạn.
- Dễ bị phá
hủy.
4
Vòng cảm
biến –
Inductive loop
Khi xe đi
quavùng có đặt
cảm biến, nó sẽ
gây ra những
trường điện từ ở
đặt không
đúng kỹ
thuật.
- Cản trở giao
thông khi lắp
đặt, bảo
dưỡng.
- Giá thành
cao.
383
-
Phương pháp gián tiếp không cần đến sự tác động trực tiếp của xe. Phương pháp này chủ yếu
sử dụng những cảm biến có nguyên lý như: siêu âm, âm học, radar, hồng ngoại,…Các cảm biến này có
độ chính xác tương đối cao và có thể áp dụng cho nhiều làn đường, giá thành rẻ, dễ lắp đặt và đảm bảo
sự an toàn cũng như tính thẩm mỹ sau khi lắp đặt.
Dưới đây, báo cáo sẽ trình bày về cảm biế
n theo nguyên lý hồng ngoại và siêu âm được dùng
trong thiết bị.
2.2. Nguyên lý, các ưu điểm của cảm biến hồng ngoại và lựa chọn cảm biến
Cảm biến hồng ngoại hoạt động theo nguyên lý: chiếu ánh sáng có độ nhạy và thu lại luồng phản
xạ hoặc năng lượng tỏa ra trong những tín hiệu điện. Tín hiệu tức thời được phân tích để nhận lại tín
hiệu cho sự hiệ
n diện của xe.
Cảm biến hồng ngoại được chia làm 2 loại: loại chủ động và loại thụ động. Các cảm biến này
được đặt trên cao để quan sát sự hoạt động, sự khởi hành của xe cộ.
*) Cảm biến kiểu chủ động chiếu chùm sáng hồng ngoại yếu vào vùng nhận diện, năng lượng
được cấp bởi các diot laze hoạt động ở gần phổ điệ
n từ của vùng hồng ngoại khoảng 0.85 µm. Năng
lượng hồng ngoại phản chiều từ xe đang chạy qua vùng nhận diện được phát hiện nhờ hệ thống quang
Hình 4: Cảm biến kiểu thụ động nhận năng lượng phát xạ từ xe
Qua phân tích ở trên ta thấy cảm biến kiểu thụ động có những ưu điểm vượt trội so với cảm biến
kiểu chủ động:
- Tiêu thụ năng lượng ít hơn do không phải phát ra tia hồng ngoại
- Phổ quan sát rộng và tức thời
- Các cảm biến đơn vị không c
ần phải được nằm ngay phía trên làn xe bị quét, nhưng thay vào
đó có thể định vị không thẳng ở trên làn. Do vậy, lắp cảm biến không cần nối dài giá lắp, đảm
bảo tính thẩm mỹ cho không gian lắp
- Giá thành rẻ hơn so với cảm biến hồng ngoại chủ động, do giá thành sản xuất rẻ hơn
Ta chọn kiểu cảm biến hồng ngoại loại thụ động kí hiệu IR201-329 của hãng ASIM
*) Giới thiệu thông số kỹ thuật của cảm biến IR201-329
- Nhỏ, gọn
- Tầm hoạt động bình thường: 30m
- Cấu tạo vỏ nhôm hợp kim
- Hoạt động trong 1 khu vực (không quét)
- Nguồn cấp: 12V DC, 20mA
- Tín hiệu ra: Trans open collector: Max 60V/50mA
- Thời gian bật: 30s
- Khả năng làm việc ngoài môi trường:
o Chịu nhiệt độ : -40 – +70
0
C
o Chịu độ ẩm : 95%
2.3. Nguyên lý, phân tích các ưu điểm của các loại cảm biến đếm xe bằng siêu âm và lựa chọn cảm
biến
Cảm biến siêu âm truyền những sóng năng lượng âm thanh tại một tần số giữa 25 và 50 KHz, ở
trên phạm vi con người có thể nghe được. Hầu hết các cảm biến siêu âm vận hành với sóng xung và
cung cấp sự đếm xe, sự hiện diện xe và thông tin về sự chi
ếm chỗ của xe. Sóng xung đo khoảng cách
Tuy nhiên cảm biến siêu âm lại có mộ
t số đặc điểm cần lưu ý khi sử dụng:
- Sự thay đổi nhiệt độ và sự xao động không khí tột bậc có thể ảnh hưởng đến hoạt động những
cảm biến siêu âm
- Những chu kỳ lặp xung lớn có thể giảm sút phép đo sự chiếm diện tích trên đường với những
xe hoạt động ở tốc độ cao
Lựa chọn cả
m biến siêu âm kí hiệu SM950A-80000 của hãng SUPERPROX
*) Giới thiệu thông số kỹ thuật của cảm biến SM950A-80000
- Nhỏ, gọn
- Tầm hoạt động bình thường: 203mm đến 8m
- Hoạt động trong 1 khu vực: 1m đến 7,6m
- Nguồn cấp: 12VDC hoặc 24VDC có đầu chuyển đổi
- Tín hiệu ra: thường mở - NPN hoặc PNP
- Thời gian bật: 25ms (1m)/ 35ms (2m)/ 250ms (8m)
3. Thiết kế, chế tạo thử nghiệm thiết bị
3.1. Yêu cầu chung của thiết bị
Thiết bị đếm xe sẽ nhận dạng xe và truyền tín hiệu khi các xe ô tô đi qua các làn đường trên
đường cao tốc về Trung tâm điều khiển giao thông. Tại đây, máy chủ nhận tín hiệu và sẽ xử lý, thu
nhận số liệu để điều tiết giao thông như phân luồng giao thông, xử lý các xe chạy quá tốc độ cho
phép… nhằm giải quyết nạn ùn tắc khi vào thành phố và kiểm soát độ an toàn trên các tuyế
n đường.
Các yêu cầu kỹ thuât cơ bản về thiết bị đếm xe:
386
- Độ chính xác > 95%
- Khoảng cách đo: 6 – 11 m
- Truyền dữ liệu: RS232 với máy tính để kiểm tra thiết bị.
- Truyền qua mạng GPRS về trung tâm để phục vụ quản lý và điều khiển
3.2. Sơ đồ khối thiết bị
Cảm biến
Khối
Xử lý tín hiệu
GSM - GPRS
Máy tính
Nguồn
387
- Chịu được điều kiện môi trường Việt Nam, vì chủ yếu hoạt động ngoài trời.
Với những yêu cầu trên, thiết bị sử dụng vi điều khiển STR711FR2T6 vì đáp ứng được các yêu
cầu kỹ thuật của mạch xử lý tín hiệu như đã nêu.
3.3.2 Giới thiệu vi điều khiển ARM 32bit STR711FR2T6
Hầu hết các nguyên lý của hệ thống trên chip (Systems on chip-SoC) và cách thiết kế b
ộ xử lý
hiện đại được sử dụng trong ARM, ARM còn đưa ra một số khái niệm mới (như giải nén động các
dòng lệnh). Việc sử dụng 3 trạng thái nhận lệnh-giải mã-thực thi trong mỗi chu kì máy mang tính quy
phạm để thiết kế các hệ thống xử lý thực. Do đó, nhân xử lý ARM được sử dụng rộng rãi trong các hệ
thống phức tạp.
*) Điểm mạnh của bộ x
ử lý dùng tập lệnh RISC:
- Kích thước miếng bán dẫn nhỏ hơn: bộ xử lý đơn giản đòi hỏi ít transistor hơn, do đó, kích
thước cần dùng nhỏ lại, dành vùng diện tích trống để tăng các chức năng như bộ nhớ cache,
chức năng quản lý bộ nhớ, v.v…
- Thời gian phát triển một sản phẩm ngắn hơn <do kĩ thuật đơn giản hơn>
-
Cấu hình mạnh hơn
*) Thông số của vi điều khiển ARM STR711FR2T6
Vi điều khiển có 64 chân, là loại chip dán, kích thước 10x10 mm.
- Core ( Nhân ):
ARM7TDMI 32-bit RISC CPU (Kiến trúc tập lệnh RISC)
- Mạch nhỏ gọn, dễ dàng trong việc lắp đặt cùng với mạch xử lý tạo thành bộ thiết bị đếm xe;
Khởi tạo:- Cấu hình chân vi điều khiển I/O
- Cấu hình RS232
- Cấu hình GPRS
- RTC, Timer
Nhận tín hiệu và xử lý tín hiệu có xe
Có xe
Số lượng xe = Số lượng xe +1
- Hiện số LED
- Gửi RS232
Gửi GPRS
Đúng
Sai
Đến thời điểm
gửi GPRS?
Sai
Đúng
Hết 1 ngày
Đúng
Sai
389
- Hoạt động ổn định;
- Chịu được môi trường làm việc ngoài trời.
Theo yêu cầu kỹ thuật của mạch ta chọn modem GM862 của hãng Telit.
3.4.2 Giới thiệu modem GM862 của Telit
*) Giới thiệu truyền thông tin chuẩn GPRS (General Packet Radio Services)
GPRS (dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp) theo tiêu chuẩn cho phép dữ liệu truyền và nhận theo
những cách thức hoàn toàn khác nhau từ một điểm tới điểm liên lạc bằng vòng chuyể
n đổi dữ liệu
0
C;
- Có 50 chân.
Để hoạt động ngoài mạch khởi động còn cần: ăngten và sim card. Modem có các chức năng sau:
- Giao tiếp UART;
- Audio (Microphone);
- Speaker;
- ADC 11bit (đầu vào 0-2V);
- Cấu hình GPIO chung hoạt động với mức logic CMOS 2.8V.
390
3.4.3 Lưu đồ GPRS
Hình 8: Lưu đồ module GSM
Lời kết
Với quá trình nghiên cứu, lựa chọn chi tiết các thiết bị, cán bộ Trung tâm Tự động hóa và Đo
lường đa chế tạo thành công thiết bị đếm xe sử dụng cảm biến nguyên lý hồng ngoại và nguyên lý siêu
âm. Các thiết bị này đã được thử nghiệm trực tiếp trên đường, tại một số nút giao thong có lưu lượng
xe cộ tương đối lớn qua lại như: nút giao thông Pháp Vân, nút giao thông Cầu Giấy,.... Kết quả do
thi
ết bị đếm được so với việc đếm thủ công là tương đối chính xác, đạt trên 90%.
Truy cập GPRS
Mở cổng địa chỉ cần gửi dữ liệu
Bắt đầu
Kiểm tra mạng GSM
Sai
Cài đặt tham số khởi tạo
để truy cập GPRS
Đúng
Sai
Hà Nội, 30/10/2009
Nâng cao chất lượng bồi dưỡng nghiệp vụ Giám sát thi công
xây dựng công trình giai đoạn hiện nay
TS. Đào Huy Hoàng và các đồng nghiệp
Viện Khoa học và Công nghệ GTVT
Tóm tắt: Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà
nước, các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã được triển khai thực hiện ở hầu khắp các tỉnh
thành trong cả nước. Trong lĩnh vực xây dựng công trình, thông qua các tổ chức tư vấn nước
ngoài tham gia thực hiện các dự án bắt đầu hình thành các tổ
chức ‘Tư vấn đầu tư’, ‘Tư vấn thiết
kế’, ‘Tư vấn giám sát’ .... Các khóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Tư vấn giám sát cũng bắt đầu được
tổ chức nhằm phục vụ cho các dự án này. Từ đó đến nay, cùng với sự điều chỉnh về mặt thể chế
trong thi công xây dựng công trình, các chương trình đào tạo cũng được nâng cấp đảm bả
o tính
pháp lý phù hợp với hoạt động xây dựng. Trong hơn 15 năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng Tư
vấn giám sát thi công xây dựng lĩnh vực Giao thông vận tải đã tạo được những uy tín nhất định,
góp phần hình thành một đội ngũ đông đảo những người hành nghề giám sát, đáp ứng nhu cầu
phát triển ngày càng cao, càng nhanh về quy mô và chất lượng của hoạt động giám sát thi công.
Trong năm 2009 Bộ Xây dựng
đã có những điều chỉnh quy định về đào tạo và cấp chứng chỉ hành
nghề giám sát thi công XDCT, tuy nhiên công tác đào tạo cũng còn nhiều vấn đề đáng bàn, đặc
biệt là việc nâng cao chất lượng đào tạo cho phù hợp với giai đoạn hiện nay.
Abstract: In the early 1990s of the previous century, with the open-door policy of the Party and
the Government, foreign directly invested projects were implemented in almost all provinces
across the country. In the field of construction, through the participation of foreign consultancy
organizations in these projects, “Investment consultancy organizations”, “Design consultancy
organizations”, “Supervision consultancy organizations” were established…Training courses for
supervisors were also held in order to support these projects. Since then, together with amendment
of execution regimes, training courses have been also upgraded in accordance with requirements
of construction. Over the past 15 years, training of supervisors in the field of transport
c ngoài , một số rất ít công ty tư vấn xây dựng với 100% vốn nước ngoài và công ty cổ
phần, khoảng 300 tổ chức chuyên về tư vấn xây dựng , số còn lại làm thêm nhiều việc khác.
Tại thành phố Hồ Chí Minh có trên 250 đơn vị tư vấn xây dựng chiếm 34% tổng số đơn vị tư vấn
xây dựng trong cả nước (bao gồm các công ty của Trung ương và địa phương đặt trụ sở tạ
i thành phố)
trong đó có trên 50% doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tại Hà Nội có trên 200 đơn vị tư vấn xây dựng
chiếm 27% tổng số đơn vị tư vấn xây dựng trong cả nước ( bao gồm các công ty của Trung ương và
địa phương đặt trụ sở tại Hà Nội ) trong đó có khoảng 25% doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tại Đà
Nẵng có trên 50 đơn vị tư vấn xây dựng, trong đó có khoảng 30% doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Ngoài 3 thành phố trên, các t
ỉnh thành còn lại trung bình mỗi tỉnh có từ 2 đến 20 doanh nghiệp tư vấn
xây dựng.
Quy mô của các tổ chức, doanh nghiệp - trừ một số ít công ty vốn là các Viện thiết kế lâu đời của
các Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thuỷ lợi, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng - về nhân lực nói chung dưới
100 người, về vốn, về doanh thu về trang thiết bị có thế xem là một loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
. Các
doanh nghiệp này đã cố gắng đầu tư chiều sâu: Nơi làm việc, thiết bị văn phòng, máy móc do đạc, thí
nghiệm, nối mạng máy tính, lập các cơ sở dữ liệu (đã có nhưng còn rất ít), trang bị các phần mềm; Chú
trọng đào tạo, huấn luyện bằng mọi hình thức: Tại chỗ, cử đi học, tìm đối tác liên doanh để được
chuyển giao công nghệ, nắm bắt các kỹ thu
ật mới; Cải tiến quản lý theo cơ chế thi trường, chủ động
tìm việc, tăng cường chất lượng, hạ giá thành, tạo uy tín trong và ngoài nước. Nhờ các cố gắng trên,
các doanh nghiệp này đã có thể đảm nhiệm hầu hết các công việc vừa và nhỏ có tính truyền thống
được đối với các công việc lớn, mới mẻ, kỹ thuật phức tạp đều có thế làm được một số qua sự
hợp
tác, làm thầu phụ với chuyên gia nước ngoài (qua đó các công trình sau đã chủ động được).
Tuy nhiên, nhìn chung các doanh nghiệp này còn chưa thật thông hiểu chu đáo thông lệ quốc tế,
luật pháp, tính toán kinh tế, giải quyết các mối quan hệ có tính xã hội như môi trường, tái định cư. Đặc
biệt là ngoại ngữ còn quá yếu, cách trình bày văn bản hoặc khi tiếp xúc còn chưa đạt yêu cầu. Trong
công tác tư vấn còn thể hiện sự phối hợ
và nông thôn... có quan hệ chặt chẽ với tư vấn đầu tư, thực hiện phần
việc tư vấn tiếp nối cho dự án sau tư vấn đầu tư. Tư vấn xây dựng giúp cho khách hàng - chủ dự án -
tổ chức việc khảo sát, thiết kế (hoặc chủ trì đấu thầu khảo sát, thiết kế) và tổ chức đấu thầu mua sắm
thiết bị đầu tư, đấ
u thầu xây lắp công trình, giám sát thi công, nghiệm thu công trình hoàn thành.
Ở Việt Nam, hiệp hội các Công ty Tư vấn Xây dựng đã hình thành và hoạt động. Trên thế giới,
nhiều hãng tư vấn xây dựng bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực xây dựng rồi tiếp tục mở rộng ra một số
loại hình khác như tư vấn quản lý, tư vấn đầu tư, tư vấn bất động sản... để trở thành các hãng t
ư vấn
tổng hợp có tầm cỡ quốc tế.
Thông thường, đối với các dự án kết cấu hạ tầng, chỉ có một công ty tư vấn đầu tư và xây dựng
đảm nhiệm công việc tư vấn từ đầu đến cuối.
Một cách tổng quát, tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động "chất xám” cung ứng cho khách
hàng những lời khuyên đúng đắ
n về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng
dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó; kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và
giám sát.
2.2. Giám sát thi công xây dựng công trình
Giám sát xây dựng là chỉ các công tác kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo và đánh gía công việc những
người tham gia công trình. Nó lấy hoạt động của hạng mục công trình xây dựng làm đối tượng; lấy
pháp luật, quy định, chính sách và tiêu chuẩn k
ỹ thuật có liên quan, văn bản hợp đồng công trình làm
chỗ dựa, lấy quy phạm thực hiện công việc, lấy nâng cao hiệu quả xây dựng làm mục đích.
Hình 1. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lãnh đạo thành phố Hà Nội và nhiều bộ ngành đã tới dự
lễ thông cầu Vĩnh Tuy (ảnh: Lan Hương) 310
Giám sát xây dựng là sản phẩm của sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Khi có vốn tiến hành
công trình mang
tính pháp quy bắt đầu được thực hiện từ năm 2005 theo các Quyết định số 12/2005/QĐ-BXD
ngày 18/4/2005 của Bộ Xây dựng
(về việc ban hành Quy chế cấp chứng chỉ hành nghề giám sát thi
công xây dựng công trình), Quyết định số 1857/QĐ-BXD ngày 29/9/2005 của Bộ Xây dựng (về việc
ban hành Chương trình khung bồi dưỡng nghiệp vụ giám sát thi công xây dựng công trình).
311
Và mới đây, Bộ Xây dựng đã có những điều chỉnh lớn về công tác bồi dưỡng và cấp chứng chỉ
hành nghề theo các Thông tư số 25/2009/TT-BXD, ngày 29 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Xây
dựng (Hướng dẫn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý dự án và giám sát thi công xây dựng công trình) và
Thông tư số 12/2009/TT-BXD ngày 24 tháng 6 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng (Hướng dẫn
chi tiết về
cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng).
Tình hình hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Giám sát thi công xây dựng công trình được
phân tích qua các khía cạnh sau:
3.1.1. Về khía cạnh các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng.
Trong gần 5 năm qua, số lượng các cơ sở đào tạo được công nhận từ 7 cơ sở vào năm 2005 đến
nay đã tăng lên 30 cơ sở trên phạm vi cả n
ước (Danh sách theo bảng 1). Các cơ sở này bao gồm cả các
tổ chức hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp công lập, ngoài công lập và các hiệp hội. Việc tổ chức
đào tạo và bồi dưỡng của các cơ sở này đã có nhiều cố gắng những cũng còn rất nhiều vấn đề đáng
bàn về quy mô, chất lượng và mặt bằng chung.
Bảng 1.
Danh sách các cơ sở đào tạo bồi dưỡ
ng giám sát thi công XDCT
STT Tên danh sách Quyết định Lĩnh vực
1
Viện Khoa học công nghệ xây dựng - Bộ Xây dựng
Công trình giao
Đợt I
Quyết định số 1335/QĐ-BXD ngày
24/6/2005
Công trình giao
thông, thuỷ lợi
8
Hiệp hội Tư vấn xây dựng Việt Nam
Công trình dân
dụng, công nghiệp,
hạ tầng kỹ thuật
9
Viện nghiên cứu hợp tác khoa học kỹ thuật Châu Á
- Thái Bình Dương
Công trình dân
dụng, công nghiệp,
hạ tầng kỹ thuật
10
Trung tâm Khoa học đào tạo và chuyển giao công
nghệ xây dựng - Tổng Hội xây dựng
Đợt 2
Quyết định số 875/QĐ-
BXDngày 05/6/2006
Công trình dân
dụng, công nghiệp,
hạ tầng kỹ thuật
11
Viện Khoa học công nghệ xây dựng
Công trình giao
thông, thuỷ lợi
12