BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phan Thanh Hòa
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phan Thanh Hòa
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành
Mã số
: Ngôn ngữ Việt Nam
: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TẠ THỊ THANH TÂM
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 7
4. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu................................................................ 8
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................................... 9
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VÀ
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT ...................................................... 11
1.1. Một số vấn đề chung về truyện đồng thoại .............................................................. 11
1.1.1. Khái niệm truyện đồng thoại ................................................................................. 11
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của thể loại truyện đồng thoại ....................................... 12
1.1.3. Truyện đồng thoại với một số thể loại gần gũi ..................................................... 14
1.1.4. Đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật của truyện đồng thoại ..................... 16
1.2. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ............................................................................. 19
1.2.1. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật từ cấp độ câu trở xuống ...................................... 19
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật ở cấp độ trên câu ................................................. 23
1.3. Đôi nét về đối tượng tiếp nhận.................................................................................. 26
1.4. Tiểu kết ....................................................................................................................... 30
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI XÉT TỪ
CẤP ĐỘ CÂU TRỞ XUỐNG................................................................................... 31
2.1. Đặc điểm từ vựng ....................................................................................................... 31
2.1.1. Xét về nguồn gốc................................................................................................... 31
2.1.2. Xét về mặt phạm vi sử dụng .................................................................................. 39
2.1.3. Xét về màu sắc biểu cảm ....................................................................................... 43
2.2. Đặc điểm câu .............................................................................................................. 66
2.2.1. Xét về mặt cấu trúc cú pháp .................................................................................. 66
thể loại.
Trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại, truyện đồng thoại là một
thể loại khá đặc biệt. Được sáng tác nhằm mục đích giáo dục trẻ em, lại giàu chất hư
cấu, truyện đồng thoại có những đặc điểm riêng biệt và độc đáo về phương diện ngôn
ngữ. Đó là thứ ngôn ngữ phù hợp với trình độ tiếp nhận cũng như khả năng cảm nhận
văn học của trẻ thơ: chúng khá uyển chuyển, linh hoạt, giàu giá trị biểu cảm.
Vừa chịu sự quy định của thể loại vừa chịu sự chi phối bởi đối tượng tiếp nhận,
ngôn ngữ truyện đồng thoại có nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng. Dù
vậy, cho đến nay, nhiều vấn đề hữu quan vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng. Chọn
đề tài Đặc điểm ngôn ngữ truyện đồng thoại tiếng Việt, chúng tôi muốn khảo sát ngôn
ngữ của thể loại văn học này nhằm góp phần vào việc khắc phục khoảng trống trong
tình hình nghiên cứu ngôn ngữ truyện dành cho thiếu nhi.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đầu thế kỷ XX, truyện đồng thoại Việt Nam hiện đại bắt đầu manh nha, sau đó
đạt được những thành tựu nhất định nhưng đến trước năm 1945, các nhà nghiên cứu
hầu như vẫn chưa chú ý đến thể loại này.
Từ sau năm 1945, trong xu thế văn học thiếu nhi ngày càng được quan tâm, thể
loại đồng thoại đã được đề cập đến trong những chuyên luận, chuyên đề về văn học
thiếu nhi, các luận án khoa học, các bài báo, bài phê bình, bài giới thiệu sách,… Các
nghiên cứu này có thể chia thành các nhóm sau:
2.1. Nhóm nghiên cứu thể loại đồng thoại về mặt lý luận gồm có các bài viết
5
Tìm hiểu đặc điểm của đồng thoại (Văn Thanh) [78], Lại nói về truyện đồng thoại
viết cho thiếu nhi (Võ Quảng) [72], Về sức tưởng tượng của đồng thoại (Nguyễn
Kiên) [64], Truyện đồng thoại viết cho lứa tuổi nhi đồng (Định Hải) [36], Truyện
đồng thoại với giáo dục mẫu giáo (Lã Thị Bắc Lý) [59]. Trong các bài viết này, các
tác giả tập trung đề cập đến phương thức phản ánh cuộc sống của thể loại, đặc trưng
nhân vật, vai trò và chức năng giáo dục của truyện đồng thoại, còn phương diện ngôn
[55]. Tác giả Văn Giá khi viết bài bình giảng truyện đồng thoại Dế Mèn phiêu lưu ký
của Tô Hoài có cho rằng ngôn ngữ tác giả rất sắc sảo, góc cạnh, giàu biểu cảm [32].
Như vậy, trong các bài viết trên, vấn đề ngôn ngữ truyện đồng thoại mới chỉ
được đặt ra mà chưa được nghiên cứu một cách cụ thể.
2.4. Gần đây nhất, với luận án “Thể loại truyện đồng thoại trong văn học
Việt Nam hiện đại” [63], Lê Nhật Ký đã nghiên cứu thể loại này một cách kỹ lưỡng
và toàn diện từ khái niệm, đặc trưng thể loại, quá trình phát triển đến những đặc điểm
nội dung và nghệ thuật.
Có thể nói, so với các bài viết trước, Lê Nhật Ký đã bàn kĩ hơn về phương diện
ngôn ngữ đồng thoại. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của một công trình nghiên cứu
về văn chương, tác giả cũng chỉ phân tích giá trị biểu đạt của ngôn ngữ đồng thoại
trong tương quan với nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật. Hơn nữa, nghệ thuật
sử dụng ngôn ngữ cũng chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể cấu trúc luận án, nên vấn
đề còn chưa được bàn đến một cách thấu đáo.
Luận văn này trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, thông qua việc sưu tập
tư liệu, cố gắng chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ của thể loại đồng thoại tiếng Việt
dựa vào hai cấp độ: đặc điểm ngôn ngữ từ câu trở xuống (gồm từ ngữ, câu) và đặc
điểm ngôn ngữ trên câu (tổ chức văn bản).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngôn ngữ truyện đồng thoại
tiếng Việt.
Đặc điểm ngôn ngữ là một khái niệm rộng, do vậy luận văn chủ yếu tập trung
nghiên cứu đặc điểm phong cách ngôn ngữ truyện đồng thoại tiếng Việt trên một số
tác phẩm của các tác giả tiêu biểu.
4. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết về ngôn ngữ học nói chung và phong cách học
7
nói riêng cũng như những thành tựu về nghiên cứu thể loại đồng thoại, luận văn
đồng thoại, luận văn còn sử dụng các tác phẩm tiêu biểu của một số nhà văn khác như
Nguyễn Nhật Ánh, Hồng Thủy, Trần Vọng Đức, Nguyễn Thái Vọng, Phương Anh,
Trần Ngọc Thanh, Chu Linh, Viễn Phương.
Chúng tôi cũng chú ý đến dung lượng các tác phẩm được khảo sát khi lựa chọn
5 truyện dài và 71 truyện ngắn. Để xác định ranh giới truyện ngắn và truyện dài
không phải là điều đơn giản, cho nên khi sưu tập và phân loại, chúng tôi tạm dựa vào
các tiêu chí sau đây (những tác phẩm thỏa mãn các tiêu chí này được xếp vào truyện
đồng thoại dài): (i) Số lượng trang: trên 50 trang (vì truyện dành cho trẻ em); (ii)
Hình thức in ấn: được in thành tập riêng khi xuất bản, không dưới dạng truyện tranh.
Các tác phẩm được khảo sát cũng được sáng tác trong các giai đoạn khác nhau trong
quá trình phát triển của thể loại đồng thoại.
(Xem phụ lục 1)
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp sau đây:
- Nhận diện những đặc điểm cơ bản nhất của ngôn ngữ truyện đồng thoại, đặc
biệt là phương diện sử dụng từ vựng và khâu tổ chức văn bản.
- Chỉ ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ truyện đồng thoại với những đặc trưng thể
loại và đặc điểm đối tượng tiếp nhận.
- Hệ thống các ví dụ được chọn để minh họa cho những luận điểm trong luận
văn có tính chọn lọc cao, đóng góp vào nguồn ngữ liệu cho công tác nghiên cứu ngôn
ngữ truyện cho trẻ em.
- Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho học sinh mầm non,
tiểu học.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài danh mục tài liệu tham khảo, danh sách ngữ liệu được khảo sát, luận văn
có 128 trang gồm phần Mở đầu, Kết luận và 3 chương.
Phần Mở đầu (7 trang) trình bày những vấn đề có tính chất trường quy như lý
do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên
Nảy sinh từ trong dân gian, thể loại truyện đồng thoại thực sự thu hút trẻ em vì sức
tưởng tưởng kỳ diệu và bay bổng của nó, bên cạnh truyền thuyết, thần thoại, tiểu
thuyết thiếu nhi... Về sau các nhà văn hiện đại, mà tiên phong là Diệp Thánh Đào đã
kế thừa dân gian, học tập phương Tây sáng tác nên nhiều tác phẩm truyện đồng thoại
dành cho thiếu nhi. Do vậy, trong nền văn học Trung Quốc, thuật ngữ truyện đồng
thoại bao gồm cả đồng thoại dân gian và đồng thoại hiện đại. Căn cứ vào loại hình
nhân vật, đồng thoại còn chia thành ba tiểu loại: đồng thoại siêu nhân thể (nhân vật
chính là lực lượng thần kì), đồng thoại thường nhân thể (nhân vật chính là con người
bình thường) và đồng thoại nghỉ nhân thể (nhân vật chính là những sự vật có sinh
mệnh hoặc không có sinh mệnh được nhân cách hóa).
Ở Việt Nam, thuật ngữ truyện đồng thoại có nhiều cách hiểu khác nhau, theo
nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (bản in 1994) định nghĩa đồng thoại
theo nghĩa rộng: “Đồng thoại: truyện chép cho trẻ con xem” [73,tr. 316].
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (bản in 2001) lại có cách hiểu khác:
“Đồng thoại: thể truyện cho trẻ em, trong đó loài vật và các vật vô tri được nhân cách
hóa tạo nên một thế giới thần kì thích hợp với trẻ em” [87, tr. 344].
11
Bên cạnh đó, một số nhà phê bình trong những bài viết của mình cũng cho ý
kiến về vấn đề này. Tiêu biểu là các ý kiến sau đây:
Vân Thanh trong bài viết “Tìm hiểu đặc điểm của truyện đồng thoại” đăng trên
Tạp chí Văn học (4) năm 1974 đưa ra định nghĩa: “Đồng thoại là một thể loại đặc biệt
của văn học, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và mơ tưởng. Ở đây, các tác
giả thường dùng nhân vật chính là động vật, thực vật và những vật vô tri, lồng cho
chúng những tình cảm của con người. (Cũng có khi nhân vật là người). Qua thế giới
không thực mà lại thực đó, tác giả lồng cho chúng những tình cảm và cuộc sống của
con người. Tính chất mơ tưởng và khoa trương là những yếu tố không thể thiếu được
trong đồng thoại” [78, tr. 104]. Cách hiểu của Vân Thanh đã phản ánh được những
quen, truyện đồng thoại đem lại những nhận thức lý tính một cách nhẹ nhàng trong
những bài học cụ thể, sáng rõ chứ không thâm trầm, sâu xa như thông điệp trong thể
loại truyện ngụ ngôn.
1.1.2.2. Nhân cách hóa
Hệ thống nhân vật trong truyện đồng thoại rất phong phú, trong đó có cả con
người nhưng chiếm đa số là loài vật. Khi xây dựng nhân vật, các nhà văn đồng thoại
hướng ngòi viết của mình vào cả con người và loài vật, đem những đặc tính khác biệt
ấy vào trong một thực thể. Gán cho loài vật những đường nét tính cách, tình cảm của
con người, truyện đồng thoại vẫn tìm cách bảo lưu những đặc điểm tự nhiên vốn có
của chúng. Cách làm như vậy tuân thủ nguyên tắc “vật ngã đồng nhất” trong tư duy
trẻ thơ, vì vậy dễ dàng tác động đến tâm hồn và tình cảm các em. Miêu tả loài vật
nhưng lại hướng vào trẻ em như một đối tượng phản ánh, truyện đồng thoại vừa vẽ
nên bức tranh thế giới loài vật sinh động, hấp dẫn đồng thời lại cho các em thấy “có
mình” trong đó. Vì thế, các em được sống trong câu chuyện, sau đó tự liên hệ đến
mình. Truyện có thể viết về con chó, con vịt, bút chì, thước kẻ… nhưng vẫn đem đến
những bài học về cuộc sống xung quanh các em. Theo Lê Nhật Ký, “Nguyên tắc
miêu tả kết hợp này có tác dụng nới rộng diện tích nghĩa của hình tượng, khiến cho
nhân vật đồng thoại hiện ra vừa là nó (vật), vừa là hình tượng ẩn dụ về con người”
[63, tr.32].
1.1.2.3. Giàu chất hư cấu, tưởng tượng
Tiếp xúc với văn chương đồng thoại, không ai không nhận ra sức tưởng tưởng,
hư cấu kỳ diệu của nó. Có thể nói, không có hư cấu, tưởng tượng, sẽ không có thể
loại văn chương này.
Mọi thành tựu trong cuộc sống đều bắt đầu bằng tưởng tưởng, tưởng tượng
13
giúp con người hình dung ra cái chưa có, hoặc cái không thể có. Với văn chương
cá tính hơn. Ngoài ra, bên cạnh một số tác phẩm tiếp tục đi vào chủ đề sự tích, còn lại
chủ yếu các tác phẩm hướng tới cuộc sống của trẻ em qua hình tượng loài vật. Ngay
cả với những tác phẩm có chủ đề sự tích như Bài học tốt (Võ Quảng) thì chủ đề giáo
dục vẫn nổi lên như một cảm hứng chủ đạo. Qua việc lý giải vì sao mai rùa có nhiều
vết rạn rứt thì truyện gửi đến bài học về lòng kiên nhẫn, qua đó có tác động giáo dục
đến các em.
1.1.3.2. Truyện đồng thoại và truyện ngụ ngôn
Truyện ngụ ngôn là một thể loại văn học có mục đích răn đời thông qua hình
thức chủ yếu là những câu chuyện kể về loài vật. Nội dung giáo huấn và kiểu loại
nhân vật là hai yếu tố đưa đến sự gần gũi giữa thể loại truyện ngụ ngôn và truyện
đồng thoại. Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu Cao Đức Tiến- Dương Thị
Hương [75], Vân Thanh [78], Võ Quảng [72], Phạm Minh Hạnh [43],… thì ranh giới
để phân biệt hai thể loại này thể hiện ở ba phương diện sau: dung lượng, tính chất bài
học giáo huấn và phương pháp truyền đạt.
Về dung lượng, truyện ngụ ngôn có ngôn ngữ và chi tiết ngắn gọn, súc tích hơn
truyện đồng thoại. Theo Phạm Minh Hạnh: “Thông thường thì ngụ ngôn có độ dài rất
khiêm tốn, có truyện chỉ 60 đến 70 từ (…). Thường thì truyện ngụ ngôn chỉ khoảng
200 đến 300 từ, ít truyện có đến 500 đến 700 từ hay 1000 từ” [43, tr. 50-51]. Dựa trên
một sự việc, thông qua sự ám chỉ, so sánh, ẩn dụ, truyện ngụ ngôn đem đến ý nghĩa
triết lý sâu xa.
Trong khi đó, theo Lê Nhật Ký: “Những truyện đồng thoại có độ dài khiêm tốn
nhất cũng phải đạt 500 đến 600 từ, phổ biến là từ 1000 đến 3000 từ, và không hiếm
những truyện có 10.000 từ trở lên. Độ dài như thế là cần thiết giúp cho truyện đồng
thoại có khả năng diễn tả một cách cụ thể, rõ ràng các tình huống, sự việc của câu
chuyện”[63, tr. 37]. Nhờ đó, truyện đồng thoại cũng thuận lợi hơn trong việc miêu tả
nhân vật, hình huống, thiên nhiên…, do đó, có khả năng thu hút trẻ em hơn là truyện
ngụ ngôn quá giản lược, cô đọng tối đa.
1.1.4.1. Nội dung
Truyện đồng thoại có được từ nguồn cảm hứng về thế giới tự nhiên và cả cảm
hứng về cuộc sống con người. Bên canh đó, thể loại truyện này cũng đem đến những
bài học lý thú cho trẻ em, thậm chí là cho cả người lớn.
Xuất phát từ việc lấy loài vật, cỏ cây, sông nước làm đối tượng nhận thức, miêu
tả, truyện đồng thoại đem đến cho độc giả những điều kì lạ, lí thú của thế giới tự
16
nhiên. Dù thiên nhiên được nhà văn phú cho tâm hồn, tính cách như con người thì
chúng vẫn phải được bảo lưu những đặc điểm tự nhiên của mình. Cho nên, bước vào
thế giới đồng thoại, người đọc sẽ được khám phá tự nhiên muôn hình vạn trạng.
Trong thế giới tự nhiên phong phú ấy, trọng tâm vẫn là loài vật và những sự vật, hiện
tượng có mối quan hệ gần gũi với con người. Đối với người lớn, những sự vật, hiện
tượng trong truyện đồng thoại không có gì xa lạ nhưng với các em, đó là cả một thế
giới cần nhận thức và lí giải: đời sống, “phong tục”, những tập tính ngộ nghĩnh của
loài vật, những biến hóa kì diệu của thiên nhiên trong quá trình phát triển…
Trong truyện đồng thoại, có lúc thế giới loài vật được miêu tả trong mối quan hệ
cộng sinh đa dạng với con người. Trong mối quan hệ ấy, loài vật trở nên có “số
phận”, đồng thời là đối tượng khiến con người bộc lộ nhân tính. Qua đó, nhà văn nói
lên tiếng nói nhân văn, ca ngợi tình yêu thương loài vật và phê phán những hành
động tàn nhẫn, phi nhân tính.
Cũng giống như các thể loại văn chương khác, truyện đồng thoại dù viết về đề
tài gì, đối tượng nào, mục đích cuối cùng vẫn nhằm thể hiện cuộc sống con người. Đa
phần các câu chuyện phản ánh thế giới tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng. Nhân vật - chủ
yếu là loài vật - được phú cho những đường nét, tính cách trẻ em trong những mối
quan hệ đời thường: quan hệ mẹ con, quan hệ bạn bè, thầy trò…, qua đó mà bộc lộ
cái hay, cái dở của lứa tuổi mình. Khi khắc họa tính cách trẻ con, nhà văn bao giờ
cũng thể hiện cái nhìn bao dung, tin tưởng vào khả năng hướng thiện của các em. Vì
Lê Nhật Ký, loại nhân vật phổ biến là muông thú (chiếm 81,30 %), cỏ cây, hoa lá
(chiếm 6,35%), đồ vật (chiếm 6,35 %). Con người ít xuất hiện, nếu có cũng không
giữ vai trò chính [63, tr.101].
Một đặc điểm quan trọng nữa là nhân vật trong truyện đồng thoại chủ yếu là
những con vật nhỏ bé, quen thuộc. Điều này được Lê Nhật Ký lí giải là do sự quy
định của không gian địa lý, văn hóa người Việt, trải nghiệm của chủ thể sáng tạo và
tâm lý của chủ thể tiếp nhận.
Nhân vật trong truyện đồng thoại được đặt tên chủ yếu theo danh từ chung hoặc
theo một đặc điểm nào đó của đối tượng, ngoại hình được miêu tả theo lối chấm phá,
ngắn gọn, phẩm chất, tính cách được khắc họa chủ yếu thông qua hành động, qua các
xung đột, tình huống, sự kiện tiêu biểu. Đặc biệt, nhân vật trong thể loại truyện này
mang tính biểu trưng về con người.
Trong nghệ thuật tổ chức cốt truyện, các kiểu cốt truyện chính thường được sử
dụng là cốt truyện tuyến tính - hành động, cốt truyện phiêu lưu, cốt truyện đối
18
thoại,…
Trong kĩ thuật kể chuyện, phần khai truyện có lúc dùng theo lối truyện kể dân
gian kiểu như “ngày xửa ngày xưa”, có khi theo kiểu “tâm sự” giữa người kể chuyện
và bạn đọc nhưng phổ biến nhất là theo lối trực tiếp: giới thiệu nhân vật, thời gian,
không gian xảy ra câu chuyện. Ở phần diễn truyện, người kể chuyện chủ yếu sử dụng
lối kết cấu theo tuyến thẳng, không đảo lộn trật tự các lớp sự kiện phù hợp với tâm lý
tiếp nhận của thiếu nhi. Có lúc, nhà văn cũng sử dụng lối kết cấu trùng điệp – lặp lại
một hành động nào đó nhưng theo mức độ tăng tiến nhằm mục đích tạo cao trào, hay
dùng kết cấu đối lập nhằm tạo nên xung đột và khắc họa rõ nét tính cách nhân vật.
Về phương diện ngôn ngữ, truyện đồng thoại chia ra ngôn ngữ nhân vật và ngôn
ngữ người kể chuyện. Ngôn ngữ truyện đồng thoại cũng có những quy định riêng
trong việc sử dụng từ ngữ, câu văn và các biện pháp tu từ cho phù hợp với việc
chuyển tải nội dung và đối tượng tiếp nhận. Vấn đề này cũng là đối tượng mà luận
đơn phong cách thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành
chính, phong cách ngôn ngữ chính trị, phong cách khẩu ngữ đều được sử dụng và
phát huy sức mạnh của chúng trong tác phẩm tùy theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn.
Trong các nhóm từ ngữ này, từ khẩu ngữ rất cần thiết cho sáng tác văn học bởi “về cơ
bản, từ khẩu ngữ tiếng Việt là những từ thuần Việt, rất giàu hình ảnh, giàu sắc thái
biểu cảm, đó là những từ luôn luôn gắn chặt với cuộc sống sôi nổi, sinh động. Cho
nên từ khẩu ngữ tiếng Việt thuộc loại công cụ lợi hại nhất để nhà văn có thể miêu tả,
tái tạo được cuộc sống thực trong tác phẩm. Nhiều khi chỉ cần điểm một vài từ khẩu
ngữ thôi nhưng tính cách nhân vật cũng hiện ra rất rõ nét” [85, tr.214]. Nhóm từ vựng
thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương (từ vựng thi ca) kiểu như bóng nguyệt, lữ
khách, giọt lệ,… cũng như các từ láy tượng thanh, từ láy tượng hình được sử dụng rất
phổ biến vì chúng có giá trị tu từ đặc biệt, mang màu sắc cảm xúc, trữ tình.
Xét theo các tiêu chí khác (nguồn gốc, phạm vi sử dụng,…), ta có các lớp từ như
từ thuần Việt, từ Hán -Việt, từ toàn dân, từ địa phương. Nhờ sự khác biệt về sắc thái
ý nghĩa, sắc thái biểu cảm mà chúng đều có thể được sử dụng ở các mức độ khác
nhau theo từng thể loại và từng truyền thống văn học của mỗi dân tộc, mỗi giai đoạn.
Chẳng hạn mức độ sử dụng từ Hán -Việt trong văn học dân gian, văn học trung đại và
văn học hiện đại không giống nhau. Trong khi ca dao, tục ngữ chủ yếu sử dụng từ
thuần Việt thì thơ Đường luật, tiểu thuyết chương hồi sử dụng rất nhiều từ Hán - Việt.
Sự khác nhau này là do đặc trưng thể loại chi phối.
20
Nói chung, ngôn ngữ nghệ thuật hầu như không khước từ bất cứ từ ngữ nào
trong vốn từ nói chung. Tuy nhiên, do đặc trưng của tính hình tượng, tính sinh động
biểu cảm cần có để xây dựng hình tượng nghệ thuật, những lớp từ nào tỏ ra có ưu thế
hơn sẽ được lựa chọn nhiều hơn. Người sáng tác cũng có thể sử dụng các thủ pháp tu
từ để tăng cường hiệu quả diễn đạt cho từ ngữ mình lựa chọn. Khi đó, một từ thuộc
lớp từ đa phong cách vẫn có thể phát huy sức mạnh để có được phẩm chất của ngôn
ngữ tạo hình, gây được những hiệu ứng bất ngờ. Những nhà văn, nhà thơ bậc thầy là
Dưới góc độ mục đích phát ngôn, ngôn ngữ nghệ thuật có thể sử dụng tất cả các
kiểu câu như câu tường thuật, câu cảm thán, câu nghi vấn, câu cầu khiến tùy theo ngữ
cảnh và mục đích sử dụng.
Dưới góc độ đơn vị ngôn ngữ, câu luôn chứa đựng một thông tin và được tổ
chức bằng một hình thức cú pháp nhất định. Các hình thức cú pháp này rất đa dạng.
Văn bản nghệ thuật, trước hết nhằm đảm bảo vai trò chuyển tải thông tin, sử
dụng rất nhiều câu có kết cấu chủ vị mang màu sắc đa phong cách. Đây là dạng câu
“có thể xuất hiện ở bất cứ phong cách nào của tiếng Việt. Nó mang sắc thái biểu cảm
trung hòa. Nó được dùng trong trường hợp cần trình bày sự vật tồn tại một cách
khách quan, để người nghe tự mình tiếp nhận, không kèm theo sự nhấn mạnh hay
đánh giá nào” [85, tr.335].
Xét theo một số tiêu chí khác, câu có thể chia thành câu bình thường, câu đặc
biệt, câu tỉnh lược,… Mỗi loại câu có chức năng riêng trong văn bản nghệ thuật.
Nếu xem câu có kết cấu chủ-vị mang màu sắc đa phong cách là câu chuẩn thì
văn bản nghệ thuật sử dụng rất nhiều những biến thể của nó.
Đó có thể là biến thể trật tự sắp xếp của kết cấu chủ - vị. Theo đó, trong một số
văn cảnh, sự thay đổi trật tự sắp xếp gữa các thành tố không làm thay đổi quan hệ cú
pháp mà chỉ thêm một số sắc thái ý nghĩa, sắc thái biểu cảm và màu sắc phong cách
nào đó mà thôi. Các trường hợp như toàn bộ vị ngữ đặt trước chủ ngữ hay một bộ
phận vị ngữ đặt trước chủ ngữ có tác dụng nhấn mạnh vị ngữ:
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Đó có thể là biến thể lược bớt thành tố của kết cấu chủ - vị như các trường hợp:
chỉ còn vị ngữ; chỉ còn chủ ngữ; chỉ còn một thành phần phụ của vị ngữ; hay trường
hợp không còn chủ ngữ, vị ngữ mà chỉ còn thành tố biểu thị sự đánh giá, hoặc trạng
thái, hoặc lời thưa gửi, trả lời. Biến thể tỉnh lược có thể được dùng trong phong cách
22
ngôn ngữ văn chương khi cần miêu tả nhiều trạng thái, hay nhiều hoạt động của một
23