Danh mục các bảng trong luận văn
Danh mục các biểu đồ trong luận văn
Mở đầu 1
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận
1.1. Lý luận về nghiên cứu diễn ngôn 4
1.1.1. Khái niệm Diễn ngôn và Phân tích diễn ngôn 4
1.1.2. Những đặc tính của diễn ngôn và việc phân loại
diễn ngôn 6
1.1.3. Phương pháp và đường hướng phân tích diễn ngôn 10
1.2. Tên đề tiểu thuyết 14
1.2.1. Một vài vấn đề về tiểu thuyết 14
1.2.2. Khái niệm tên đề tiểu thuyết 16
1.2.3. Chức năng của tên đề tiểu thuyết 17
1.2.4. Đặc điểm của tên đề tiểu thuyết 19
1.2.5. Đặc điểm của tên đề tiểu thuyết theo hướng phân
tích diễn ngôn 19
1.2.6. Phân tích tên đề tiểu thuyết theo phương pháp phân tích diễn
ngôn 20
1.3. Mối quan hệ của tên đề với các bộ phận khác của tiểu
thuyết 21
1.3.1. Về mặt hình thức 21
1.3.2. Về mặt nội dung 21
Chƣơng 2: Đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của tên đề tiểu thuyết
2.1. Đặc điểm cấu trúc của tên đề tiểu thuyết 23
2.1.1. Số lượng âm tiết 23
2.1.2. Về quan hệ cú pháp 26
2.2. Các đặc điểm về ngữ nghĩa của tên đề tiểu thuyết 43
2.2.1. Ý nghĩa tự thân của tên đề 44
2.2.2. Ý nghĩa của tên đề trong mối liên hệ với phần còn lại
của văn bản tiểu thuyết 53
Nxb CAND : Nhà xuất bản Công an nhân dân
Nxb VH : Nhà xuất bản Văn học
Nxb LĐ : Nhà xuất bản Lao động
Nxb PN : Nhà xuất bản Phụ nữ
TT : Tính từ
TN : Tính ngữ
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
STT
Tên bảng
Trang
1
Các kiểu tên đề
26
2
Các kiểu tương hợp của tên đề và nội dung tiểu thuyết
(trong 118 tên đề 4 âm tiết)
63 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
STT
Tên biểu đồ
Trang
1
Đặc điểm cấu trúc của tên đề tiểu thuyết
27
nữa. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ tên đề tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại giai đoạn 1996 - 2006" (theo quan điểm diễn ngôn)
làm hướng nghiên cứu cho luận văn.
2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là đưa ra các đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa
của tên đề tiểu thuyết, tìm hiểu mối quan hệ giữa tên đề với phần còn lại của
văn bản nghệ thuật. Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi sẽ chỉ ra sự
tác động của tên đề với việc tiếp nhận văn bản.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra cho mình các nhiệm
vụ sau:
1) Chỉ ra các đặc điểm hình thức của tên đề.
2) Chỉ ra các đặc điểm về ngữ nghĩa của tên đề.
3) Chỉ ra mối quan hệ giữa tên đề và phần mở đầu của tác phẩm.
4) Chỉ ra mối quan hệ giữa tên đề và nội dung của tác phẩm.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 350 tên đề tiểu thuyết đã
được xuất bản trong 7 nhà xuất bản: Nxb VH, Nxb HNV, Nxb QĐND, Nxb
CAND, Nxb LĐ, Nxb TN, Nxb PN trong thời gian 10 năm trở lại đây (1996 -
2006).
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đã đặt ra, trong luận văn này,
chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn và phương pháp miêu
tả. Trong phương pháp miêu tả chúng tôi sử dụng các thủ pháp chính là: thủ
pháp thống kê, thủ pháp lôgic - tâm lí, thủ pháp thay thế.
4. Đóng góp của luận văn về mặt khoa học
Những kết quả nghiên cứu trong luận văn là sự đi sâu nghiên cứu về mối
quan hệ giữa tên đề và nội dung của văn bản nghệ thuật cũng như đặc điểm
phong cách nhà văn.
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. 1. Lý luận về nghiên cứu diễn ngôn
1.1.1. Khái niệm Diễn ngôn và Phân tích diễn ngôn
Diễn ngôn là một khái niệm được rất nhiều tác giả bàn luận từ trước
đến nay. Ở nước ngoài, lí luận về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn được đề
cập đến từ năm 1952 với công trình của Harriz - "Discourse analysis". Ông
đã đề xuất khái niệm diễn ngôn là "văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu"
[trích theo 24, 15]. Tiếp sau đó là quan niệm của rất nhiều tác giả như Cook,
Crystal, Brown & Yule Crystal coi diễn ngôn là "một chuỗi ngôn ngữ (đặc
biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có
mạch lạc, như bài truyền giáo, một lí lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay
chuyện kể" [trích theo 24, 32]. Cook cho diễn ngôn là "các chuỗi ngôn ngữ
cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích" [trích theo 24, 33].
Còn Brown và Yule coi "văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn" [trích theo
24, 33]. Cụ thể hơn Nunan cho rằng: "diễn ngôn chỉ việc hiểu một sự kiện
giao tiếp trong ngữ cảnh" [trích theo 24, 33]. Widdonson cũng có cùng
quan điểm với Brown và Yule, Nunan, ông cho rằng "Diễn ngôn là một quá
trình giao tiếp. Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi
trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản
phẩm của quá trình này là văn bản" [trích theo 24, 34].
Vấn đề phân tích diễn ngôn cũng là một vấn đề hết sức thời sự. Harriz
coi "Phân tích diễn ngôn như là một hệ phương pháp hình thức phân tích
văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn" [trích theo 24, 25]. Còn Faslold lại nhận
định "Nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu mọi khía cạnh sử dụng của ngôn
ngữ" [trích theo 24, 27]. Brown và Yule thì cho rằng: "Phân tích diễn ngôn
nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức. Như vậy, không thể giới hạn
nó ở việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt với các mục đích hay
chức năng mà các hình thức này được sinh ra để đảm nhận trong xã hội loài
người" [trích theo 24, 28].
1.1.2. Những đặc tính của diễn ngôn và việc phân loại diễn ngôn
1.1.2.1. Đặc tính của diễn ngôn
Đặc tính của diễn ngôn bao gồm: tính giao tiếp và kí hiệu của ngôn
ngữ, tính mạch lạc và tính quan yếu
* Tính giao tiếp và kí hiệu của diễn ngôn
Vì ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu dùng làm công cụ giao tiếp nên
diễn ngôn - một đơn vị giao tiếp ở bậc lớn hơn câu - cũng phải có hai mặt
giao tiếp và kí hiệu. Trong những thập kỉ gần đây một số tác giả quan tâm
đến ngữ dụng học đã cho rằng chức năng giao tiếp được dựa trên cơ sở ý
nghĩa của các kí hiệu còn dụng học liên quan không chỉ đến ý nghĩa của
người nói. Trên thực tế, chức năng giao tiếp không chỉ dựa trên cơ sở ý
nghĩa của các kí hiệu mà còn phụ thuộc vào cả ý định của người nói. Sự
nhầm lẫn này tồn tại là do các tác giả trên quan niệm các phát ngôn trực tiếp
không có lực ngôn trung, mà theo Lyons "mọi phát ngôn đều có lực ngôn
trung" và "các kiểu loại câu hay phát ngôn thông thường như phát ngôn trần
thuận, nghi vấn hay khuyến lệnh về thực chất chính là biện pháp ngữ pháp
hóa lực ngôn trung điển hình của câu, hay còn gọi là nội dung phi mệnh đề"
[trích theo 24, 37]. Từ đó ta có thể thấy, khía cạnh giao tiếp của diễn ngôn sẽ
bao gồm cả mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Theo quan niệm của Nguyễn Hòa [24,38] phạm trù giao tiếp của diễn
ngôn bao gồm cả hai nội dung: nội dung mệnh đề / biểu hiện và nội dung
dụng học. Nội dung dụng học được Grice hiểu là "ý nghĩa phi tự nhiên thể
hiện ý định của người nói" [trích theo 24, 38] và nội dung phi tự nhiên này
lại được thể hiện qua nội dung mệnh đề. Giao tiếp theo khía cạnh mệnh đề /
biểu hiện lại gồm ba thành tố: ý nghĩa của sự việc hay nội dung của các sự
kiện hay sự thể đã xảy ra; các tham thể; mối quan hệ giữa các tham thể. Đây
là 3 yếu tố quan trọng trong tính giao tiếp của diễn ngôn, khi các yếu tố này
thay đổi thì nội dung thông báo cũng thay đổi. Ngoài 3 yếu tố trên chúng ta
cũng phải kể đến phương tiện được sử dụng để chuyển tải một nội dung
thông báo, nó cũng góp phần mang lại các giá trị giao tiếp khác nhau.
diễn ngôn là mạch lạc trong liên kết và mạch lạc trong cấu trúc"[24,51].
Xét về khía cạnh liên kết thì mạch lạc không phải là liên kết mà liên kết
chỉ là một phương tiện để hiện thực hóa mạch lạc. Nunan cho rằng : “Mạch
lạc là mức độ phạm vi qua đó diễn ngôn được nhận biết là có mắc vào nhau
chứ không phải là một tập hợp câu hay phát ngôn không có quan hệ với
nhau". Còn liên kết là : “các mối liên hệ hình thức thể hiện các mối quan hệ
giữa các mệnh đề và giữa các câu trong diễn ngôn” [trích theo 24,52].
Như vậy, chúng ta không nên coi mạch lạc là các phương tiện liên kết
hay nội dung văn bản vì liên kết chỉ là phương tiện tạo mạch lạc và nội dung
của văn bản lại là một khái niệm rất phức tạp và đa chiều trong đó mạch lạc
chỉ là một phần của nội dung thực. Diệp Quang Ban [trích theo 24, 57] đã
khái quát sự hiện thực hóa của mạch lạc thành 3 phạm vi : mạch lạc trong
quan hệ nghĩa logic giữa các từ ngữ trong văn bản, mạch lạc trong quan hệ
giữa những từ ngữ trong văn bản và cái được nói tới trong tình huống từ bên
ngoài văn bản và mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.
Xét ở khía cạnh cấu trúc ta thấy mạch lạc còn được tạo ra bởi cấu trúc
hay cách thức tổ chức diễn ngôn. Cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố
quan yếu có một vai trò quan trọng tạo nên mạch lạc, và cấu trúc diễn ngôn
bao hàm sự hiện diện của các yếu tố phát triển nội dung.
Cùng với liên kết, cấu trúc là yếu tố tạo nên mạch lạc. Cấu trúc diễn
ngôn là sự tổ chức các yếu tố nội dung, quan yếu theo những cách thức tổ
chức nhất định và cách thức tổ chức này mang tính chất chủ quan của người
viết nhằm thể hiện mục đích của mình.
* Tính quan yếu
Tính quan yếu là một trong những khía cạnh đáng quan tâm của lý luận
phân tích diễn ngôn. Yếu tố quan yếu theo Nguyễn Hòa là “các đóng góp thể
hiện tính giao tiếp của diễn ngôn” [24, 64]. Tính giao tiếp của diễn ngôn lại
bao gồm nội dung mệnh đề và nội dung dụng học. Nói một cách khác, các
đóng góp là yếu tố quan yếu có chức năng biểu hiện một sự thể gồm các
tham thể, quá trình, mối quan hệ giữa các tham thể và ý nghĩa dụng học kèm
bình luận, tin vắn, phóng sự điều tra, quảng cáo ; ngữ vực văn chương
gồm: tiểu ngữ vực văn xuôi, thơ, văn học dân gian và các thể loại như:
truyện ngắn, tiểu thuyết văn học, thơ ca, kịch ; ngữ vực chính luận gồm
các tiểu ngữ vực như: pháp lí, ngoại giao, thương mại, ; ngữ vực hội thoại
hàng ngày gồm các thể loại: hội thoại, phỏng vấn, nói chuyện
1.1.3. Phƣơng pháp và đƣờng hƣớng phân tích diễn ngôn
1.1.3.1.Đường hướng phân tích diễn ngôn
Trong cuốn "Dụng học" Geogre Yule cho rằng "Phân tích diễn ngôn
tập trung vào cái được ghi lại (nói và viết) của quá trình theo đó ngôn ngữ
được dùng trong một số ngữ cảnh để diễn đạt ý định" và phân tích diễn ngôn
"nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức, nhất thiết không giới hạn
nó ở việc mô tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt với các mục đích hay chức
năng mà các hình thức này sinh ra để đảm nhận trong xã hội loài người"
[19, 23] . Theo ông phân tích diễn ngôn phải tập trung vào việc phân tích
cấu trúc và dụng học. Xét ở góc độ cấu trúc, tiêu điểm là các đề tài như là
các nối kết tường minh giữa các câu tạo nên liên kết, các yếu tố tổ chức văn
bản. Xét ở khía cạnh dụng học, phân tích diễn ngôn tập trung đến những
phương diện của những điều không được nói hay viết ra, quan tâm đến đằng
sau của cấu trúc và hình thức trong văn bản, quan tâm đến những khái niệm,
tâm lí như kiến thức nền, niềm tin, mong đợi, khám phá những gì người
nói/viết nghĩ trong đầu. Đây là phương pháp chung về phân tích diễn ngôn
còn các phương pháp cụ thể lại phụ thuộc vào các đường hướng phân tích
diễn ngôn. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một vài đường hướng cụ thể:
Đường hướng phân tích diễn ngôn đầu tiên phải kể đến là đường hướng
dụng học. Trong lĩnh vực dụng học có một số xu hướng khác nhau nhưng có
liên quan chặt chẽ với nhau, đó là hành động nói và nguyên tắc cộng tác.
Theo Austin và Searle, phân tích diễn ngôn là thực hiện hành động nói.
Austin đã phát hiện ra "trong quá trình giao tiếp có một số phát ngôn thực
hiện một số hành động nhất định". nhưng cũng có trường hợp "nhiều phát
ngôn cùng thực hiện một hành động" [24, 80]. Còn Searle [trích theo 24, 83]
ngữ. Trong đường hướng thứ ba này đối tượng của ngôn ngữ học xã hội
được xác định là mối quan hệ giữa việc sử dụng ngôn ngữ trong tương tác xã
hội với các vấn đề như cấu thành nét bản thể đặc thù, giao tiếp, trong các
ngữ cảnh văn hóa, xã hội khác nhau.
Đường hướng còn có điểm nổi bật là sự cân bằng giữa mặt chức năng
luận và cấu trúc luận. Nó quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa ngôn
ngữ, xã hội và văn hóa.
Khi phân tích diễn ngôn theo đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương
tác người ta thường đặt trong mối quan hệ với xã hội và văn hóa vì chỉ khi
đó người ta mới nhìn nhận được ngôn từ được hình thành và sử dụng ra sao.
Ngoài 3 đường hướng trên còn có một số các đường hướng khác như:
đường hướng dân tộc học giao tiếp, đường hướng phân tích hội thoại, phân
tích diễn ngôn trong tâm lý học xã hội.
1.1.3.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp
Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp của Nguyễn Hòa là phương
pháp mà chúng tôi chọn làm công cụ cho việc khảo sát tên đề tiểu thuyết
theo quan điểm phân tích diễn ngôn.
Theo Nguyễn Hòa các đường hướng như đã nói ở trên “chưa đi vào một
trong những vấn đề thuộc bản chất của diễn ngôn, đó là tính mạch lạc” [24,
144] và phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp sẽ phân tích toàn bộ một
chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc. Có thể coi đây là đường hướng chức
năng coi diễn ngôn là quá trình giao tiếp tương tác giữa các thành viên của
xã hội. Nguyễn Hòa nhấn mạnh việc lý giải tính chất giao tiếp tương tác của
ngôn ngữ phải dựa trên mạch lạc, mạch lạc lại dựa trên cơ sở cấu trúc hình
thức. Nguyễn Hòa coi tính cấu trúc là một cơ sở chính cho việc phân tích
diễn ngôn.
Phương pháp này được coi là tổng hợp vì cơ sở của nó là mạch lạc mà
mạch lạc lại bao gồm các yếu tố chính như: tổ chức, liên kết, tính quan yếu.
Theo phương pháp này, tính quan yếu được coi trọng nhất. Vì cấu trúc
được hiểu như là mạng các quan hệ của các yếu tố quan yếu. Khi nói đến
những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu
sắc của đời sống xã hội, của số phận con người, của lịch sử, của đạo đức,
của phong tục” [16, 184]. Bêlinxki nhận định “sử thi của thời đại chúng ta
là tiểu thuyết” [14, 13]. Tác giả đã chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự
sự trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của cá nhân trong quá trình
hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được triển khai trong
không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của
nhân cách.
* Đặc trưng thể loại
Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết là “khả năng phản ánh một cách
toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống theo hướng tiếp xúc hết sức gần
gũi” [16, 189]. Vốn là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu
thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian và chiều dài
của thời gian. Từ đó, nhà văn có thể mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực
trong tác phẩm của mình. Khả năng phản ánh hiện thực còn được thể hiện
qua một phương diện khác, đó là phương diện cấu trúc. Cấu trúc của tiểu
thuyết rất linh hoạt, nó cho phép "mở rộng về thời gian, không gian, nhân
vật, sự kiện" và "dồn nhân vật, sự kiện vào một thời gian, không gian hẹp, đi
sâu khai thác những cảnh ngộ và khám phá chiều sâu số phận nhân vật" [16,
191].
Ngoài ra, tiểu thuyết còn có một số đặc trưng như hư cấu nghệ thuật,
tính đa dạng về màu sắc thẩm mỹ và tính chất văn xuôi.
Theo Lí Hoài Thu [16, 196] tiểu thuyết là thể loại có tính tổng hợp, nó
có khả năng dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách nghệ
thuật của các thể loại văn học khác như thơ (những rung động tinh tế), kịch
(xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật của
những loại hình nghệ thuật như hội họa (mầu sắc), âm nhạc (thanh âm) điêu
khắc (sự cân xứng, chi tiết), thậm chí cả các bộ môn khoa học khác.
Về hình thức, thể loại tiểu thuyết có một số đặc trưng về "nghệ thuật
miêu tả, kể chuyện, nghệ thuật kết cấu, nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ" [16,
đề tiểu thuyết phải là những chi tiết đôi khi rất phụ nhưng chúng có tính chất
bao trùm chi phối toàn bộ tác phẩm. Qua đó, người đọc lần ra các tuyến
quan hệ để vươn tới việc nắm bắt những nội dung hàm ẩn của tác phẩm. Mọi
ý nghĩa chứa trong tên đề phải là chiếc chìa khóa trực tiếp hay gián tiếp giúp
cho người đọc đến được bến bờ của mặt sau “tác phẩm”.
Các từ ngữ được chọn làm tên đề thường có tính biểu trưng, đôi khi
mang tính phiếm định. Tên đề nhờ đó có được tính chất đa nghĩa. Tên đề
tiểu thuyết có cách tổ chức ngôn từ gợi ra được càng nhiều khả năng liên
tưởng thì càng hấp dẫn. Tính hấp dẫn của tên đề tiểu thuyết còn thể hiện ở
chỗ, giữa ý nghĩa của tên đề và nội dung văn bản phải có độ chênh trong
giới hạn cho phép. Chính độ chênh giữa các tầng nghĩa, giữa các bình diện
nghĩa sẽ tạo cho người đọc sự bất ngờ thú vị.
Ngoài ra, tên đề còn hấp dẫn được người đọc không chỉ qua nội dung
của nó mà cả ở hình thức thể hiện. Điều đó có nghĩa là, kỹ thuật in ấn hiện
đại đã góp phần tạo nên sự hấp dẫn của tên đề văn bản, nhất là vấn đề khai
thác các thủ pháp văn tự như hiệu quả mầu sắc, cỡ chữ Nói chung, tính
thẩm mỹ trong việc phân phối chất liệu hình thức là một phương tiện không
thể bỏ qua. Tuy nhiên, ở luận văn này chúng tôi chỉ bàn về đặc điểm ngôn
ngữ của tên đề chứ không bàn đến kỹ thuật, hình thức in ấn của nó.
1.2.3.2. Chức năng của văn bản nghệ thuật (tác phẩm nghệ thuật)
Vì tiểu thuyết nằm trong phong cách nghệ thuật nên chức năng nổi bật
nhất chính là chức năng tác động bằng hình tượng. Theo Hữu Đạt “Bất cứ
một sáng tác nghệ thuật nào ra đời trước hết cũng nhằm đem đến cho người
đọc một sự chia sẻ, cảm thông, làm cho người đọc có thể vui với các vui của
nhân vật, buồn với cái buồn của nhân vật” [12, 286]. Muốn như vậy, người
tạo lập văn bản nghệ thuật phải là người am hiểu cuộc sống, có vốn ngôn từ
phong phú có thể sử dụng các phương tiện ngôn ngữ một cách tinh xảo với
khả năng tác động đến cảm xúc suy nghĩ của người đọc.
Ngoài ra, ông còn cho rằng “tác động của nghệ thuật trước hết là tác
động tình cảm và thẩm mỹ”. Ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật cũng
Tên đề tiểu thuyết là một bộ phận của tiểu thuyết, tồn tại độc lập và
song song với phần nội dung của tiểu thuyết. Ngôn ngữ của tên đề tiểu
thuyết chính là ngôn ngữ của tác giả. Những từ ngữ của tên đề khi được đưa
vào hệ thống văn bản của một tiểu thuyết và trở thành một bộ phận hợp
thành của nó thì không chỉ giữ nguyên ý nghĩa thông thường mà đã có thêm
những tầng nghĩa mới. Trong bối cảnh ấy nó có thể tạo ra tính hình tượng
cho tác phẩm.
Đọc tên đề người đọc có thể liên tưởng nó theo nhiều nghĩa khác nhau.
Tuy nhiên, sau khi đọc xong tác phẩm người đọc lại có thể hiểu thêm những
ý nghĩa khác nữa. Về ý nghĩa hình tượng của tên đề Phan Cự Đệ nhận định:
“Ngôn ngữ nghệ thuật đi từ sự thông tin đến sự sáng tạo. Nó không chỉ
nhằm mục đích thông báo một sự kiện mà còn phải tái tạo lại cuộc sống một
cách toàn vẹn, cụ thể và sinh động trong những hình tượng nghệ thuật. Mỗi
một từ chứa đựng cả một không gian lồng lộng. Mỗi một từ, một câu có thể
gây nên ở người đọc một loạt “phản ứng dây chuyền”, bằng cách buộc sự