Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN
DU QUA VIỆC VẬN DỤNG ĐIỂN CỐ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đức Thuận
HẢI PHÒNG - 2016
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
i
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU.................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. vi
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT .................................................................... 12
1.1. Khái quát về ngôn ngữ văn chương ......................................................... 12
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ văn chương .......................................................... 12
1.1.2. Đặc trưng của ngôn ngữ văn chương .................................................... 12
1.2. Tổng quan về điển cố ............................................................................... 21
1.2.1. Khái niệm .............................................................................................. 21
1.2.2. Phân loại điển cố ................................................................................... 23
1.2.3. Tính chất của điển cố ............................................................................ 23
1.3. Sơ lược về Nguyễn Du và Truyện Kiều................................................... 26
1.3.1. Một vài nét về tác giả Nguyễn Du ........................................................ 26
1.3.2. Khái lược về Truyện Kiều..................................................................... 28
Tiểu kết Chương 1 ........................................................................................... 31
CHƯƠNG 2: VIỆC VẬN DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG TRUYỆN KIỀU ....... 32
2.1. Khái quát về việc vận dụng điển cố trong văn chương trung đại ............ 32
2.2. Việc vận dụng điển cố trong Truyện Kiều ............................................... 34
2.2.1. Số lượng điển cố.................................................................................... 34
2.2.3. Phân loại và các phương thức vận dụng điển cố trong Truyện Kiều .... 36
2.2.4. Điển cố Truyện Kiều (Nguyễn Du) dưới góc nhìn ngôn ngữ học ........ 37
2.2.5. Nét đặc sắc của việc vận dụng điển cố trong Truyện Kiều................... 39
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ TRUYỆN
Chữ viết tắt
Giải thích
NXB
Nhà xuất bản
THCS
Trung học Cơ sở
THPT
Trung học Phổ thông
Ghi chú: Các chữ viết tắt khác (có thể trùng với các chữ viết tắt trên) khi
sử dụng trong Luận văn sẽ được giải thích rõ trong từng trường hợp cụ thể.
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Tần suất xuất hiện của điển cố
64
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ trong tất cả tính thẩm mĩ của nó là công cụ, là chất liệu
làm nên các tác phẩm văn học. Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm
văn học (phi ngôn ngữ bất thành văn). M. Gorki đã khẳng định: “Ngôn ngữ là
yếu tố thứ nhất của văn học”. Tài năng và sức sáng tạo của một nhà văn thể
hiện ở trình độ sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt những nội dung tư tưởng, tình
cảm thẩm mĩ. Mỗi một nhà văn kiệt xuất đều được coi là một nhà ngôn ngữ
trác tuyệt. Cho nên, đến với bất kì một tác phẩm văn học nào cũng không thể
bỏ qua ngôn ngữ của tác phẩm. Hay nói khác đi, để khám phá vẻ đẹp của tác
phẩm văn chương phải bắt đầu từ việc khám phá ngôn ngữ tác phẩm.
1.2. Truyện Kiều là một trong những tác phẩm đặc sắc của nền văn học
dân tộc. Tác phẩm Truyện Kiều đã đưa Nguyễn Du trở thành đại thi hào của
dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới. Người ta đã biết đến Truyện Kiều của
Nguyễn Du như biết về những gì bình dị nhất gần gũi nhất trong cuộc sống,
lại vừa như một tài sản quý giá, một “di sản văn hóa” của dân tộc. Bên cạnh
giá trị to lớn về nội dung nhân đạo, nội dung hiện thực còn là giá trị đặc sắc
về ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm. Một trong những nét thành công của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều đó là cách sử dụng tài hoa ngôn ngữ văn học.
Với ngôn ngữ Truyện Kiều, Nguyễn Du được xem là “bậc thầy ngôn ngữ dân
tộc”, là người đã nâng ngôn ngữ văn học của dân tộc, của thời đại lên một
đỉnh cao chói lọi. Qua bàn tay của thi hào Nguyễn Du, ngôn ngữ tiếng Việt
của chúng ta trở nên điêu luyện hơn, tinh tế và đặc sắc hơn, trở thành một thứ
“siêu ngôn ngữ”. Ngay từ thế kỷ XIX, cụ Đào Nguyên Phổ đã cho rằng:
lớp 10 THPT - kể cả “đọc chính” lẫn đọc thêm hay “tự học có hướng dẫn”).
Điều đó phần nào thấy được vị trí quan trọng của tác phẩm. Tuy nhiên, việc
dạy và học Truyện Kiều cho đến nay vẫn là một thách thức đối với cả giáo
viên và học sinh. Tác phẩm Truyện Kiều đúng là “rằng hay thì thật là hay”,
nhưng để hiểu được những giá trị to lớn về nội dung và nghệ thuật của kiệt tác
này quả thật không phải dễ! Có lẽ thực trạng đó là do hàng rào ngôn ngữ đã
3
một phần ngăn cản? Trong đó, có “màn sương” của lớp từ ngữ điển cố văn
chương ?
Xuất phát từ những lí do trên, cùng với sự đam mê Truyện Kiều, từ lòng
tôn kính và ngưỡng mộ trước tài năng và nhân cách của thi hào Nguyễn Du,
nhân kỷ niệm 250 năm năm sinh của ông; đồng thời với mong muốn giúp bản
thân người viết, các bạn đồng nghiệp và học sinh hiểu thêm về những giá trị
và vẻ đẹp của ngôn ngữ Truyện Kiều, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Đặc điểm
ngôn ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du qua việc vận dụng điển cố.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều
Theo dòng lịch sử, tác phẩm văn chương phải chịu sự thử thách khắc
nghiệt của thời gian. Có những tác phẩm đã chết yểu ngay từ khi vừa mới ra
đời. Có tác phẩm dần dần mới rơi vào sự lãng quên. Còn Truyện Kiều của
thiên tài Nguyễn Du lại mang một sức sống kì lạ. Đã hơn 200 năm trôi qua, kể
từ khi ra đời tới nay, Truyện Kiều vẫn có sức hấp dẫn và mới mẻ với độc giả
và vẫn không ngớt lời bàn luận, phẩm bình. Đã có rất nhiều trang viết, những
bài báo, công trình, chuyên khảo... về nhiều vấn đề của Truyện Kiều, đặc biệt
là vấn đề ngôn ngữ Truyện Kiều.
Tác giả Phan Ngọc trong công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du
trong Truyện Kiều (1985) đã dành hẳn mục VII, chương 8 "Ngôn ngữ Truyện
Kiều". Tác giả viết: "Tìm mọi cách dịch tất cả các điển cố chữ Hán ra tiếng
chính xác và súc tích lạ thường!
2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu về điển cố trong Truyện Kiều
Hiện nay có rất nhiều bài viết, công trình tìm hiểu, nghiên cứu về điển cố
trong Truyện Kiều. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây:
- Công trình Điển cố văn học - Đinh Gia Khánh (Chủ biên), NXB Văn
học, Hà Nội, 1975. Ở công trình nghiên cứu này, các tác giả đã thống kê được
một số lượng lớn các điển cố được sử dụng trong Truyện Kiều. Các tác giả đã
chú ý giải thích nghĩa đen, lí giải về nguồn gốc của điển cố và ghi lại những
câu trong Truyện Kiều có sử dụng điển cố để minh họa. Cũng theo tác giả,
ngoài các điển cố Hán học, “một số không nhỏ những điển cố ấy lại được sử
dụng cả ở những bộ phận khác của văn học Việt Nam, ở văn học truyền
miệng dân gian” [19, 7].
6
- Tác giả Trần Đình Sử trong trong chuyên luận Thi pháp Truyện Kiều
đã có những nhận định về việc sử dụng điển cố như sau: “Điển cố là một một
biện pháp tu từ cơ bản của văn chương cổ điển” gọi là “kê cổ” [36, 291].
“Điển cố trở thành biện pháp tu từ là do nó dẫn lời, dẫn việc, nói gọn, gợi
nhiều... Trong Truyện Kiều điển cố được sử dụng khá nhiều, song không phải
chỗ nào dẫn việc là dùng điển cố” [36, 291]. Về tác dụng của điển cố, tác giả
khẳng định: “phần lớn điển cố trong Truyện Kiều đều được dùng trong lời
thoại của nhân vật, đặc biệt là nhân vật cao quý bởi nó giúp nhân vật nói
những điều khó nói một cách ý nhị và văn vẻ” [36, 292].
- Công trình Khảo luận về truyện Thúy Kiều" của tác giả Đào Duy Anh
NXB Văn hóa thông tin - Hà Nội - 2007 (tái bản) là một công trình lớn. Đây
là một công trình chuyên khảo về Truyện Kiều được trình bày trong 9 chương.
Vấn đề Nguyễn Du sử dụng điển cố khi viết Truyện Kiều được Đào Duy Anh
đề cập đến trong chương thứ 6: Văn chương (II). Đào Duy Anh khẳng định:
"Sử dụng điển cố là một phép văn rất phổ thông trong văn giới ta xưa, mà lại
rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, tất cả các công trình nghiên cứu trên đều rất tỉ mỉ, công phu, là
những thành tựu đáng trân trọng trong việc nghiên cứu điển cố trong Truyện
Kiều, tạo nền tảng cho việc học tập và nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn
Du.
Thứ hai, hầu hết các công trình chủ yếu hướng vào việc thống kê, phân
loại điển cố và giải thích nghĩa, nguồn gốc, lai lịch của điển cố một cách tỉ mỉ
mà chưa chú trọng đến việc phân tích để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của các
điển cố.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu điển cố ở góc
độ văn học, thi pháp học mà chưa xem xét điển cố ở góc nhìn ngôn ngữ học.
Phải thấy rằng, trong Truyện Kiều, điển cố được sử dụng như một
phương thức nghệ thuật đặc biệt, mang lại giá trị biểu đạt cao và thể hiện tài
hoa của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn ngữ. Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu
của chúng tôi, vấn đề đặc điểm ngôn ngữ Truyện Kiều qua việc vận dụng các
điển cố hầu như chưa được chú ý nghiên cứu.
9
Trên cơ sở tham khảo kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước,
trong phạm vi luận văn này, chúng tôi hướng tới việc tìm hiểu về “Đặc điểm
ngôn ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du qua việc vận dụng điển cố”.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về “Đặc điểm ngôn ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du qua việc
vận dụng điển cố” là việc làm vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực
tiễn. Đây thực sự là một vấn đề mới và khó! Thực hiện đề tài này, chúng tôi
hướng tới mục đích:
- Thấy được giá trị, ý nghĩa biểu đạt của điển cố trong Truyện Kiều.
- Giúp cho bản thân người viết, bạn bè đồng nghiệp và những ai yêu mến
Truyện Kiều thu nhận được một vốn hiểu biết sâu sắc hơn về đặc điểm ngôn
- Biện pháp thống kê, phân loại
Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để cung cấp những số liệu các
điển cố được sử dụng trong Truyện Kiều, phân loại chúng về mặt nguồn
gốc, cơ sở hình thành, từ đó đưa ra những nghiên cứu tiếp theo.
- Thủ pháp đối chiếu so sánh
Trong quá trình nghiên cứu người viết sử dụng phương pháp này để đối
chiếu so sánh nhiều ý kiến của các tác giả, đối chiếu việc vận dụng điển cố
trong Truyện Kiều với các tác phẩm khác như Chinh phụ ngâm, Cung oán
ngâm... để có được những đánh giá chính xác nhất về đặc điểm ngôn ngữ qua
việc vận dụng điển cố.
- Phương pháp hệ thống
Số lượng điển cố được vận dụng trong Truyện Kiều khá nhiều. Người
viết không thể đi vào phân tích các giá trị của từng điển cố, cũng không thể
phân tích tất cả các điển cố cùng biểu hiện một đặc điểm ngôn ngữ. Do đó,
người viết phải hệ thống lại từng nhóm điển cố theo cách vận dụng của
Nguyễn Du.
- Phương pháp tổng hợp
Sau khi phân tích, chọn lọc, so sánh đối chiếu, người viết tổng hợp để
khẳng định lại vấn đề mà mình đã trình bày.
11
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3
chương chính văn:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Vận dụng điển cố trong Truyện Kiều.
Chương 3: Một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ Truyện Kiều (Nguyễn
Du) qua việc vận dụng điển cố.
luyện. Tuy nhiên, điều quan trọng là chất liệu ngôn ngữ được tinh luyện hoặc
13
biến đổi theo chính những quy tắc, phương thức trong ngôn ngữ hàng ngày.
Trong nhiều tác phẩm, ngôn ngữ văn chương hầu như không có sự cách biệt
với ngôn ngữ đời thường, mà vẫn đạt giá trị nghệ thuật cao. Chẳng hạn, trong
Truyện Kiều, Nguyễn Du đã khéo léo vận dụng ngôn ngữ của nhân dân:
“Con kia đã bán cho ta,
( 971)
Nhập gia thì cứ phép nhà tao đây.
Lão kia có giở bài bây,
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe
Cớ sao chịu tốt một bề,
Gái tơ mà đã ngứa nghề gớm sao.” ( 976)
Đây chính là lời của Tú Bà nguyền rủa, đay nghiến, sỉ nhục Thúy Kiều.
Cái cách gọi con kia, lão kia, mày - tao, cái cách nói “bài bây”, “văng vào
mặt”, ‘gái tơ”, “ngứa nghề” nó thực đời thường. Và điều quan trọng, nó lột
tả thật chân thực, thật sinh động bản tính của Tú Bà, vốn là chủ nhà chứa, là
gái “làng chơi đã trở về già hết duyên”: nó mới ngoa ngoắt, tục tĩu làm sao!
Xuân Diệu đã bình: “Trời ơi, cái con hổ cái. Nó nói chưa đầy nửa phút mà
nước bọt của nó văng mãi đến ngàn năm. Nó nói tưởng như đến rách cả trang
giấy Truyện Kiều”[7, 30].
Nhờ tính toàn dân, tính phổ biến của ngôn ngữ khiến nghệ thuật văn
chương trở thành loại hình nghệ thuật gần gũi với mọi người và mang tính
quần chúng rất cao. Điều này tạo ra sự khác biệt với các loại hình nghệ thuật
khác. Chỉ có một số người mới có thể sử dụng chất liệu của các loại hình nghệ
thuật khác để tạo thành tác phẩm. Chẳng hạn, không phải ai cũng có thể dùng
ngôn ngữ các dân tộc khác không có, đó chính là hệ thống ngữ nghĩa của nó.
Tính dân tộc của ngôn ngữ đem đến một hệ quả: chất liệu văn chương vì
vậy cũng mang tính dân tộc sâu sắc. Trong khi đó, nếu so sánh với nhiều loại
hình nghệ thuật khác, thì những chất liệu ấy không mang tính dân tộc. Những
chất liệu “đồng, thạch cao, nốt nhạc, màu sắc”,.... ở dân tộc nào cũng đều
mang những đặc tính giống nhau, không có gì khu biệt, nghĩa là không mang
15
tính dân tộc. Người ta có thể mang một bức tượng đồng, một bức tranh từ
nước này sang nước khác mà không phải nặn lại, vẽ lại. Nhưng, một tác phẩm
văn chương, muốn chuyển từ nước này sang nước khác phải thông qua dịch
thuật. Mà đã dịch thuật chuyển nghĩa thì có thể làm thay đổi ít nhiều giá trị
của tác phẩm (có thể hay hơn hoặc giảm bớt đi giá trị tác phẩm). Bởi vì mỗi
tác phẩm văn chương, bên cạnh hệ thống ngữ nghĩa, ngữ âm, từ vựng còn
phải gắn với ngữ cảnh, thời đại văn học. Đặc biệt hệ thống ngữ âm và thanh
điệu của tiếng Việt rất giàu có, tạo ra sự trầm bổng. Điều này đã “làm khó”
người nước ngoài khi họ học tiếng Việt Nam.
1.1.2.3. Tín hiệu ngôn ngữ là tín hiệu mang nghĩa
Các chất liệu của các ngành nghệ thuật khác như đồng, thạch cao,… bản
thân nó không mang nghĩa. Nghệ thuật múa lấy vóc dáng cơ thể, động tác, các
bộ phận cơ thể để xây dựng các điệu múa, nhưng bản thân các động tác hay
bộ phận cơ thể này không mang nghĩa. Còn chất liệu ngôn ngữ là một chất
liệu chứa đựng nội dung, ý nghĩa. Ngôn ngữ khi được sử dụng để sáng tạo
nghệ thuật đã là một phương tiện để biểu hiện ý nghĩa. Mỗi tín hiệu ngôn ngữ
luôn luôn có hai mặt hình thức và nội dung. Chẳng hạn, trong bài thơ Tây
tiến, Quang Dũng viết:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”.
Khi đọc câu thơ ta có thể hình dung ra con đường hành quân của người
lính: gập ghềnh, lồi lõm, nhấp nhô. Khi tách từng từ trong câu thơ, bản thân
Nhờ phương thức ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (âm thanh tiếng đàn được
chuyển hóa thành “giọt”), Xuân Diệu đã đưa người đọc vào một thế giới
huyền diệu, đánh thức những cảm quan nghệ thuật của nhạc và của thơ.
Có thể nói, từ nội dung trừu tượng, khái quát của lí trí trong khoa học
đến những nội dung rất tế nhị trong thế giới vi mô, trong thế giới tình cảm
phức tạp của con người thì ngôn ngữ đều tìm đến một cách biểu đạt có hiệu
quả. Khả năng biểu hiện của ngôn ngữ là không giới hạn. Đó chính là sự kì
diệu của ngôn ngữ mà không phải bất cứ chất liệu nghệ thuật nào cũng có
được.
1.1.2.4. Tính võ đoán
Theo F. D. Saussure, quan hệ hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ: Cái biểu
hiện và cái được biểu hiện không có lý do, nghĩa là không có mối quan hệ tất
yếu, giữa hai mặt này chỉ có mối quan hệ do quy ước của xã hội, do vậy ngôn
ngữ mang tính võ đoán.
Trong thực tế, tính võ đoán có nhiểu mức độ biểu hiện khác nhau, mức
độ cao nhất là những từ thuộc lớp từ vựng cơ bản. Mức độ thấp là các thán từ
17
- những từ ghi lại âm thanh mà con người phát ra khi muốn bộc lộ một cảm
xúc nào đó: a, ô, ái chà,... Các từ tượng thanh: ầm ầm, róc rách,… Tính quy
ước nổi rõ hơn ở những từ được cấu tạo phái sinh, đối với tiếng Việt là những
từ láy hoặc từ ghép như xe máy, xe đạp,…
Những từ chuyển nghĩa: Nghĩa đen mang tính võ đoán, với nghĩa chuyển
mối quan hệ đó một phần có lý do. Ví dụ từ láy “nồng nặc” chỉ về mùi vị hơn
mức bình thường, khi ta dùng trong câu: “Giọng khê nồng nặc” nhằm biểu
hiện một giọng nói với tất cả âm sắc, cách sử dụng ngôn từ,… không được
như mức bình thường.
Chính vì vậy, tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ đã làm cho ngôn ngữ
trở thành một chất liệu mềm dẻo, linh hoạt, luôn chuyển hoá để biểu hiện nội
“Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.
Hay, trong Truyện Kiều, để diễn tả sự bạc tình, trơ tráo của Sở Khanh,
Nguyễn Du viết:
“Bạc tình nổi tiếng lầu xanh
Một tay chôn biết mấy cành phù dung”
“Phù dung” vốn là loài hoa đẹp, nhưng trong bối cảnh này, nó không
mang nghĩa thực mà được hiểu theo nghĩa chuyển: chỉ cô gái ở lầu xanh.
Có những trường hợp trong tác phẩm văn học, một câu thơ rất nhiều từ
được dùng với nghĩa chuyển, chúng trở thành những tín hiệu thẩm mỹ, mang
ý nghĩa mới, thích hợp với ý nghĩa chung của toàn bộ tác phẩm. Chẳng hạn,
khi Nguyễn Bính viết:
“Cách mấy mươi con sông sâu
Và trăm ngàn vạn dịp cầu chênh vênh”.
Hình ảnh “con sông sâu”, “dịp cầu chênh vênh” ngoài ý nghĩa thực, hai
hình ảnh này đã trở thành những tín hiệu thẩm mĩ - dụng ý chỉ những khó
khăn, cam go, cơ cực đang chờ đón người con gái phía trước. Ngay cả số từ
“trăm ngàn vạn” cũng chỉ là con số ước lệ biểu thị cho những khó khăn chồng
chất.