ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MAI LINH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI
MẪU GIÁO (3-6 TUỔI)
Chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2013
Công trình đợc hoàn thành tại:
Ngời hớng dẫn khoa học:
Phản biện 1: .
.
Phản biện 2: .
Luận vn sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp
tại:
giờ ngày tháng năm
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của con người. Ngay từ khi hình thành,
ngôn ngữ đã trở thành phương tiện giao tiếp cơ bản nhất, hữu hiệu nhất của con
người.
Đối với mọi người nói chung, thì ngôn ngữ có vai trò quan trọng. Nhờ có
ngôn ngữ mà chúng ta có thể trao đổi thông tin với nhau một cách nhanh nhất,
nhiều nhất, đầy đủ nhất, có thể hiểu nhau, thông cảm, chia sẻ, hợp tác với nhau
trong quá trình lao động sản xuất, chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội. Mặt
khác nhờ có ngôn ngữ mà con người từ khắp mọi miền tổ quốc, từ quốc gia này
đến quốc gia khác, từ khắp nơi trên thế giới, con người ở các thời đại khác nhau,
các thế hệ khác nhau đều có thể giao lưu, tìm hiểu nhau, học hỏi lẫn nhau, cùng
nhau lĩnh hội kho tàng tri thức của nhân loại để hình thành phát triển nhân cách,
định hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn.
- Nghiên cứu thực trạng khả năng hiểu từ của trẻ mẫu giáo ở 3 độ tuổi (3 -
4), (4 - 5), (5 - 6), và một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hiểu từ (tính chủ
động trong giao tiếp, cách dạy trẻ hiểu từ của cô giáo mầm non)
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng hiểu từ cho trẻ mẫu
giáo.
- Thử nghiệm tác động sư phạm nhằm nâng cao khả năng hiểu từ cho trẻ
mẫu giáo thông qua hình thức dạo chơi, tham quan.
6. Giả thuyết khoa học
Đặc điểm khả năng hiểu từ của trẻ mẫu giáo tăng dần theo độ tuổi, và
không đồng đều ở những trẻ khác nhau trong cùng độ tuổi. Đa số trẻ mẫu giáo
hiểu từ ở mức trung bình trở lên. Nếu sử dụng biện pháp dạy trẻ hiểu từ qua dạo
chơi, tham quan thì mức độ hiểu từ của trẻ có thể tăng lên.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
7.2. Phương pháp quan sát.
7.3. Phương pháp trắc nghiệm.
7.4. Phương pháp thực nghiệm.
7.5. Phương pháp điều tra phỏng vấn
7.6. Phương pháp thống kê toán học
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, bao gồm;
- Chương 1: Cơ sở lý luận về ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM
LỨA TUỔI MẪU GIÁO
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
thống cấu trúc thì lời nói là sự vận dụng, sử dụng hệ thống cấu trúc vào hoàn
cảnh giao tiếp cụ thể. [19]
1.2.5 Các vấn đề về từ và nghĩa của từ
1.2.5.1 Từ là gì?
1.2.5.2 Nghĩa của từ
1.2.6 Vấn đề hiểu từ trong ngôn ngữ
Hiểu từ là quá trình lĩnh hội khái niệm trong từ, đưa cái mới, cái chi tiết
vào trong vốn kinh nghiệm.
Mức độ 1: Với mức độ này mới chỉ gọi được tên của sự vật, hiện tượng;
nêu được dấu hiệu bên ngoài nhưng không vạch ra được dấu hiệu bản chất
Mức độ 2: Hiểu từ ở mức độ này đã đi vào thuộc tính bản chất nhưng
chưa đúng với những nét bản chất của từ vì vậy dẫn đến hiểu từ ở mức quá rộng
hoặc quá hẹp
Mức độ 3: Hiểu những thuộc tính bản chất của đối tượng được nêu trong
từ nhưng dựa trên tài liệu cảm tính phong phú, do đó mới hiểu một cách chung
chung, trừu tượng.
Mức độ 4: Hiểu sâu sắc toàn diện và có hệ thống thể hiện ở chỗ: Xác lập
được mối liên hệ giữa tri thức mới với tri thức đã có
1.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)
1.3.1 Các quy luật lĩnh hội tiếng mẹ đẻ của trẻ
Đối với trẻ trước tuổi học, ngôn ngữ nảy sinh và phát triển không phải vì
bản thân nó mà vì những nhu cầu khác
Trẻ học nói nhờ vào tai nghe và khả năng bắt chước của mình
“Quá trình học nói của trẻ được diễn ra cùng với sự hoàn thiện dần của
sự phát triển sinh lý và tâm lý trẻ”.
Trẻ học tiếng mẹ đẻ nhờ những ấn tượng tổng quát chứ không tách bạch
từng nội dung: phát âm, từ ngữ và ngữ pháp
Các yếu tố xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ [10]
1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)
hiện việc sử dụng từ chưa đúng, chưa sát nghĩa.
Trẻ 4-5 tuổi có mức độ hiểu từ tốt hơn trẻ 3-4 tuổi biểu hiện ở chỗ là trẻ
đã biết đưa từ vào câu chính xác, phù hợp nội dung giao tiếp. Tuy nhiên câu của
trẻ chưa chuẩn, có khi thiếu, khi thừa từ. Vị trí sắp xếp từ trong câu chưa đúng,
đôi khi gây sự lủng củng, nhất là khi kể lại một điều gì đó cho người khác nghe,
câu và nội dung diễn đạt của trẻ chưa rõ ràng, mạch lạc.
Với trẻ em 5-6 tuổi khả năng hiểu từ của trẻ đã phát triển tương đối cao.
Sự phát triển này thể hiện không phải chỉ ở trình độ cao về phương diện ngôn
ngữ mà còn ở phương diện tư duy. Ở độ tuổi này trẻ sử dụng thành thạo các
hình thức ngôn ngữ tình huống, ngôn ngữ ngữ cảnh mang tính rõ ràng, khúc
chiết. Chính sự hiểu từ cũng phát triển một kiểu ngôn ngữ khác ở trẻ, đó là
kiểu ngôn ngữ giải thích, một kiểu ngôn ngữ đòi hỏi tính chặt chẽ, mạch lạc.
1.3.4 Khả năng hiểu từ của trẻ mẫu giáo(3-6 tuổi)
Ở lứa tuổi mẫu giáo, việc lĩnh hội từ của trẻ diễn ra theo các mức độ
như sau:
Mức độ 1: Trẻ lĩnh hội từ thông qua đồ vật
Mức độ 2: Lĩnh hội từ qua tranh ảnh, sơ đồ
Mức độ 3: Lĩnh hội từ thông qua ngôn ngữ ký hiệu tượng trưng.
Như vậy, việc lĩnh hội từ của trẻ mẫu giáo diễn ra theo 3 mức độ từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong đó, việc lĩnh hội từ của trẻ được diễn
ra theo 3 con đường: Con đường nhập tâm, con đường bắt chước và con đường
học tập.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến ngôn ngữ trẻ em mẫu giáo (3-6 tuổi)
1.4.1 Các yếu tố sinh lý thần kinh
1.4.2 Môi trường sống của trẻ em
1.4.3 Sự phát triển nhận thức của trẻ
1.4.4 Tính chủ động trong giao tiếp của trẻ
1.4.5 Các biện pháp giúp trẻ mẫu giáo hiểu từ
Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Qua kết quả nghiên cứu khả năng hiểu từ của trẻ em mẫu giáo đã được trình bày
ở trên, có thể thấy, đặc điểm hiểu từ của trẻ mẫu giáo được chia thành 3 mức độ
khác nhau: Mức độ hiểu từ cao, trung bình và mức hiểu từ thấp.
3.1.2. Đặc điểm hiểu từ đúng và chưa đúng của trẻ em mẫu giáo (3-6) tuổi
TT Nội dung Hiểu đúng
Hiểu chưa
đúng
1 Phía trên 88.5 11.5
4 Kề bên 63.9 36.1
5 Trong nhà 85.7 14.3
7 Chính giữa 82.1 17.9
TT Nội dung Hiểu đúng
Hiểu chưa
đúng
10 Xung quanh 84.5 15.5
14 Ở giữa 81.3 18.7
18 Góc 50.8 49.2
26 Chính giữa 79.4 20.6
28 Chạm sát 77.8 22.2
34 Dưới 78.2 21.8
38 Bên phải 64.3 35.7
41 Ở trên 83.3 16.7
44 Bên trái 69.8 30.2
24 Khái niệm chỉ quan hệ giải thích:
Gần như
76.6 23.4
Khái niệm chỉ hướng rời chuyển
hay nối kết của hành động
2 Xuyên qua 84.5 15.5
43 Rời xa 77 23
(4-5 tuổi) đến (5-6 tuổi) (61.9%, 70.3%, 84.5%).
- Mức độ hiểu từ cao cũng tăng dần theo sự phát triển các độ tuổi của trẻ
em từ (3-4 tuổi), (4-5 tuổi) đến (5-6 tuổi) (20.2%, 26.2%, 38.1%).
- Mức độ hiểu từ thấp giảm dần theo sự phát triển các độ tuổi của trẻ em
từ (3-4 tuổi), (4-5 tuổi ) đến (5-6 tuổi ) (38.1%, 29.8%, 15.5%).
Như vậy, trẻ mẫu giáo (5-6 tuổi) có mức độ hiểu từ cao nhất. Trẻ mẫu
giáo (3-4) tuổi có mức độ hiểu từ thấp nhất. Như vậy: Mức độ hiểu từ của trẻ
mẫu giáo tăng dần theo độ hiểu từ 3-6 tuổi.
3.1.4. Đặc điểm hiểu từ của trẻ mẫu giáo theo giới tính
Biểu đồ 3.3 Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo theo giới tính
Kết quả về mức độ hiểu từ ở trẻ nam và trẻ nữ thể hiện trong nội dung
bảng 3.5 cho thấy:
Mức độ hiểu từ của trẻ nam và trẻ nữ phát triển không đồng đều. Phân
thành 3 mức độ cao - trung bình - thấp.
Mức độ hiểu từ từ mức độ trung bình trở lên, trẻ nam chiếm tỷ lệ cao hơn
trẻ nữ (73.8% và 69.8%).
Mức độ hiểu từ cao:
Trẻ nam chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ nữ (30.1% và 25.4%).
Mức độ hiểu từ trung bình:
Trẻ nam và trẻ nữ gần tương đương nhau (44%)
Mức độ hiểu từ thấp:
Trẻ nam chiếm tỷ lệ thấp hơn trẻ nữ (26.2.% và 30.2%).
3.1.5 Đặc điểm hiểu từ của trẻ mẫu giáo theo môi trường sống
Biểu đồ 3.4 Môi trường sống và mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo
Kết quả nghiên cứu mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo (3-6) tuổi ở các môi
trường sống khác nhau trong nội dung bảng 3.7 cho thấy.
Ở mức độ hiểu từ trung bình trở lên,trẻ mẫu giáo Hà Nội chiếm tỷ lệ cao
nhất (79,4%), thấp nhất là trẻ em mẫu Nghệ An (65.1 %).
Mức độ hiểu từ cao
Trẻ mẫu giáo Hà Nội chiếm tỷ lệ cao nhất là 35.7%. Trê mẫu giáo ở
Mức độ hiểu từ Cao Trung bình Thấp
Số
lượng
Tần
suất
Số
lượng
Tần
suất
Số
lượng
Tần
suất
Chủ động (80) 54 67.5 21 26.2 5 6.3
Bình thường (65) 4 6.1 51 78.5 10 15.4
Bị động (35) 1 2.9 5 14.3 29 82.8
- Đa số trẻ em chủ động trong giao tiếp thì có mức độ hiểu từ cao.
Ví dụ: trong 80 trẻ em có tính chủ động giao tiếp thì 54 em (tỷ lệ 67.5%)
có mức độ hiểu từ cao.
- Đa số trẻ em bình thường trong giao tiếp, mức độ hiểu từ đạt mức trung
bình.
Ví dụ: 65 trẻ đạt mức bình thường giao tiếp thì có 51 trẻ hiểu từ mức
trung bình (78.5%).
- Phần lớn trẻ em bị động trong giao tiếp thì mức độ hiểu từ đạt ở mức
thấp.
Ví dụ: 35 trẻ đạt mức bị động giao tiếp có 29 trẻ hiểu từ ở mức thấp
(82.8%).
3.2.2 Ảnh hưởng của các biện pháp dạy trẻ hiểu từ
Bảng 3.11 Các biện pháp dạy trẻ hiểu từ
TT Các biện pháp Số
Nội dung, cách thức tác động, các tiêu chuẩn, cách đánh giá. Chúng tôi đã
trình bày trong nội dung chương 2.
3.3.4. Kết quả thử nghiệm biện pháp tác động sư phạm
3.3.4.1. Đo lần 1 mức độ hiểu từ của trẻ ở hai nhóm thực nghiệm và đối
chứng
Bảng 3.12 Mức độ hiểu từ của trẻ đo lần 1
Nhóm Đối chứng Thực nghiệm
Số lượng % Số lượng %
Cao 5 21.7 4 17.4
Trung bình 10 43.5 11 47.8
Thấp 8 34.8 8 34.8
3.3.4.2. Tiến hành thử nghiệm tác động biện pháp sư phạm
Bảng 3.13: Mức độ hiểu từ của trẻ nhóm đối chứng và thực nghiệm đo lần 1, lần
2 (Đơn vị %)
Nhóm Đối chứng Thực nghiệm
Lần đo 1 Lần đo 2 Lần đo 1 Lần đo 2
Cao 21.7 26.1 17.4 30.4
Trung bình 43.5 43.5 47.8 52.2
Thấp 34.8 30.4 34.8 17.4
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Biểu đồ 3.5. Mức độ phát triển khả năng hiểu từ của nhóm trẻ đối chứng và thực
nghiệm sau hai lần đo
Như vậy mức độ hiểu từ của trẻ ở 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm , cho
thấy trẻ em trong nhóm thực nghiệm có mức độ hiểu từ cao hơn so với trẻ em
nhóm đối chứng.
KẾT LUẬN & Kiến nghị
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra những kết luận sau đây:
1. Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giá phát triển không đồng đều, được phân
làm 3 mức độ cao - trung bình - thấp. Đa số trẻ mẫu giáo có mức độ hiểu từ, từ
vào câu, để trẻ giao tiếp với trong tình huống cụ thể của trò chơi một cách
thường xuyên.