Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
-------------
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TIÊU ĐỀ
BÁO CHÍ ĐIỆN TỬ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Na
Ma số: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Phương Lâm
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với những biện
Cuối cùng, tôi xin kính chúc sức khỏe tới quí thầy cô, gia đình và các anh chị
học viên.
Hải Phòng, ngày
tháng
Tác giả luận văn
năm 2016
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT ................................................................... 9
1.1. Phong cách ngôn ngữ báo chí .................................................................... 9
1.1.1. Ngôn ngữ báo chí có tính thời sự ............................................................ 9
1.1.2. Ngôn ngữ báo chí có tính ngắn gọn, chính xác..................................... 13
1.1.3. Ngôn ngữ báo chí có tính cụ thể ........................................................... 15
1.1.4. Ngôn ngữ báo chí có tính khuôn mẫu ................................................... 15
1.2. Tiêu đề báo chí ......................................................................................... 17
1.2.1. Khái niệm .............................................................................................. 17
1.2.2. Chức năng của tiêu đề báo chí .............................................................. 18
1.2.3. Vai trò của tiêu đề báo chí .................................................................... 19
1.2.4. Đặc trưng của tiêu đề báo chí................................................................ 22
1.2.5. Cấu trúc tiêu đề báo chí......................................................................... 23
3.2.5. Châm biếm, nói mỉa .............................................................................. 72
3.2.6. Dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong tiêu đề ..................................... 75
3.3. Ảnh hưởng, tác động của tiêu đề báo điện tử đối với tiếng Việt văn hóa .... 75
3.3.1. Tác động tích cực .................................................................................. 75
3.3.2. Tác động tiêu cực và giải pháp ............................................................. 77
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 80
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 85
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Báo điện tử (báo mạng) là loại hình báo chí rất non trẻ ở nước ta. Những tờ
báo điện tử ra đời sớm nhất cũng mới chỉ có tuổi đời chừng 15 năm. Tuy ra đời
muộn, nhưng báo điện tử lại là loại hình báo chí năng động, có khả năng thích ứng
cao, tích hợp được nhiều phương tiện truyền thông hiện đại và luôn vận động, biến
đổi theo tốc độ chóng mặt của công nghệ kĩ thuật số. Không những thế, báo điện tử
còn đặc trưng ở tính miễn phí, tính đồ họa và tính thời sự, tính cập nhật rất cao. Vì
vậy, báo điện tử hiện nay đã gần như chiếm tỷ lệ tuyệt đối so với báo in về số lượng
người đọc.
Tờ báo điện tử đầu tiên của Việt Nam là Vnexpress “hiện có hơn 17 triệu
độc giả thường xuyên (unique visitors), với khoảng 34 triệu lượt truy cập
(pageviews) mỗi ngày (độc giả trong nước chiếm hơn 80%, 7% ở Mỹ, 13% từ các
nơi khác)” [69]. Đây là con số khổng lồ mà chưa từng có tờ báo in nào đạt được.
Các trang báo điện tử khác cũng đã phát triển nhanh chóng, như Báo Dân trí
(Dantri.com.vn) “đã được công cụ xếp hạng Zeitgeist của Google xếp thứ 9 trong
Top 10 từ khóa có tốc độ “tăng trưởng tìm kiếm nhanh nhất toàn cầu” [69]. Hay
“VietNamNet là lựa chọn hàng đầu của độc giả tuổi trên 30 - kết quả nghiên cứu
của Công ty CP Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), vừa chính thức công
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu về báo điện tử
Ở Mỹ, báo điện tử hình thành và phát triển sớm nhất trên thế giới. Việc
nghiên cứu về báo điện tử cũng vì thế mà phát triển nở rộ, không chỉ ở phương diện
kĩ thuật điện tử - mạng internet, phương diện báo chí mà cả trên phương diện ngôn
ngữ học. Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Nhóm tác giả: Keith Kenney, Alexander Gorelik, Sam Mwangi với bài
chuyên luận Những đặc điểm mang tính tương tác của báo điện tử. Bài viết đã phân
tích rất sâu sắc về đặc tính tương tác của báo điện tử. Trong đó, các tác giả đã chỉ ra
những chiến lược của báo điện tử trong việc tăng cường khả năng tương tác với độc
giả và trao cho độc giả nhiều sự chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin. Như
3
vậy, ba tác giả người Mỹ đã bước đầu nhận thấy tầm quan trọng trong sự đọc (sự
nhận tin) của độc giả, tức là thấy được sự chi phối của nhân vật giao tiếp, cũng như
thấy được tính đa chiều của hoạt động báo chí [68]. Đây là tài liệu quan trọng, quán
xuyến tư tưởng của chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn này.
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về báo điện tử còn khá khiêm tốn. Đây là
khó khăn của chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về các vấn đề lí thuyết ngôn ngữ
học báo chí. Có thể kể đến một số tác giả có công trình nghiên cứu chung về báo
điện tử dưới đây:
Nhóm tác giả: Vũ Hồng Quang, Trần Hồng Nhung, Vũ Thu Phương, Vũ
Minh Phúc, Nguyễn Thị Thơm, Vũ Thị Hà My có bài viết “Nghiên cứu so sánh
giữa trang web thông thường và báo điện tử”. Trong bài viết này, các tác giả đã chỉ
ra hai điểm khác nhau cơ bản về nội dung và hình thức giữa báo điện tử và trang
web, qua đó cho thấy thiết kế của một tờ báo điện tử có tính chất tích cực hơn một
trang web thông thường [70].
Nhóm tác giả: Ngọc Liên, Bích Hà, Hồng Nhung, Thu Hằng, Thanh Tùng có
bài viết Con đường riêng của báo Dân trí. Bài viết ghi lại một cách hệ thống quá
(Emotion), Hữu hình (Tangible), Thẩm mỹ (Appearance), Có âm (Sound), Kỳ vọng
(Expectation).
Trong bài viết “Cách đặt đầu đề (TĐ - Tít) cho bài báo”, tác giả Lê Thanh
Bình nhấn mạnh: “Đặt đầu đề cho bài báo là việc làm có tính chất quyết định số
phận của bài báo” [29]. Trong bài viết, tác giả trình bày sơ bộ về đặc điểm nổi bật
của tít, chức năng của tít, tính chất của tít, dạng tít, cấu trúc tít và một số loại tít báo
thường gặp.
Với công trình Nghiên cứu, khảo sát các cách giật tít trên báo điện tử điện
tử, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, tác giả La Thị Hoàn đã nghiên cứu kĩ lưỡng về
các loại tít, đặc trưng của tít báo điện tử, thủ thuật giật tít, tiêu chí giật tít, tiêu chí
đánh giá một tít hay. Đồng thời, tác giả cũng khảo sát 25 tít báo trên Vietnamnet.vn
để chỉ ra chất liệu đặt tít và nhận xét về hiệu quả cũng như nhược điểm của chúng.
Tác giả Võ Thị Hồng Nhung trong bài viết “Báo điện tử: Tầm quan trọng
của việc rút tít” đã dẫn lại lời của giảng viên Fabienne Gerault thuộc Đại học Báo
chí Lille, Pháp khi nêu ra 6 chức năng chủ yếu của tít là:
– Thu hút sự chú ý vào trang viết;
5
– Cung cấp thông tin chính trong một cái liếc mắt;
– Giúp độc giả lựa chọn bài;
– Khiến độc giả muốn đọc;
– Tổ chức trang;
– Sắp xếp thông tin.
Điều quan trọng ở bài viết này là tác giả Võ Thị Hồng Nhung đã bước đầu
nhận thức được vai trò của người đọc với TĐ báo chí khi cho rằng: “Loại hình báo
chí nào cũng có ưu và nhược điểm của nó và Báo điện tử điện tử cũng không phải
là ngoại lệ. Những mặt hạn chế trong việc rút tít của các bài báo điện tử mà thời
gian qua nhận nhiều phản ứng không tốt của độc giả là do nhiều nguyên nhân gây
ra. Ở đây, tôi không nói đến những nguyên nhân xuất phát từ tòa soạn báo, phóng
báo chí, đặt trong sự so sánh với TĐ báo chí tiếng nước ngoài. Nguyễn Thị Thanh
Hương trong bài viết “Một số nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ của các đầu đề trong
báo chí tiếng Anh hiện đại” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 9+10, 2001) đã nêu khái quát các
đặc điểm ngôn ngữ báo chí có thể vận dụng và liên hệ hữu ích đối với tiếng Việt.
Tác giả Nguyễn Thị Vân Đông phân tích những đặc trưng ngôn ngữ của TĐ báo chí
theo quan điểm thống hợp ba bình diện của tín hiệu học: kết học, nghĩa học và dụng
học trong loạt bài viết: “Đôi điều nên biết về TĐ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt”
(Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 11/2003), “TĐ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt
trên bình diện ngữ dụng” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 12/2005), “TĐ báo
tiếng Anh và tiếng Việt dạng ngữ cố định” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số
1+2/2005) và “Những đặc trưng ngôn ngữ của TĐ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt
trên bình diện nghĩa học” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 7/2015). Trong những
bài báo trên đã chỉ ra một số phương thức chuyển nghĩa thường gặp như ẩn dụ, hoán
dụ, chơi chữ trong TĐ báo chí tiếng Anh, liên hệ với tiếng Việt. Trong khi nghiên
cứu về cấu trúc ngữ pháp, tác giả cũng cho thấy các nhà báo đã khai thác một cách
triệt để các ngữ cố định trong TĐ để tạo những hiệu quả giao tiếp cao nhất.
Ở bài viết “Từ trái nghĩa trong các TĐ trên báo chí Nga” đăng trên Tạp chí
Ngôn ngữ số 1/2007, Vũ Thị Chín đã cho thấy một xu hướng nổi bật trong cách đặt
TĐ báo chí tiếng Nga là cách sử dụng các từ trái nghĩa. Bằng cách này, tác giả bài
báo đưa ra những nghịch đề tạo hứng thú cho độc giả.
Tác giả Nguyễn Văn Hưng (2011) trong luận văn thạc sĩ ngôn ngữ Tìm hiểu
7
TĐ văn bản báo chí tiếng Việt trên cứ liệu báo Tuổi trẻ và Thanh niên đã phác hoạ
được cái nhìn bao quát về đặc trưng ngôn ngữ của TĐ báo tiếng Việt trên một số
phương diện ngôn ngữ: từ vựng, ngữ pháp, mối quan hệ giữa TĐ với phần còn lại
của văn bản báo chí trong tổ chức văn bản. Tuy vậy, cấu trúc nội dung của luận văn
có phần bất hợp lí khi không nghiên cứu phương diện ngữ nghĩa của TĐ báo.
Tóm lại, có thể thấy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ báo chí nói chung
Vnexpress.net, Vietnamnet.vn, Tuoitre.vn, Thanhnien.vn, News.zing.vn… và các
trang thông tin điện tử lớn như Kenh14.vn, Soha.vn, 2sao.vn…
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu trong thời gian xuất bản là 2,5
năm là vì như vậy có thể đủ ngữ liệu để khảo sát, đánh giá và phù hợp với quy mô
nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp các thủ pháp và phương
pháp sau: khảo sát, thống kê, phân loại; phân tích, so sánh; miêu tả và các phương
pháp nghiên cứu liên ngành.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung của luận văn có kết cấu gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận
Chương 2.Một số đặc điêm tiêu đề báo điện tử về mặt cấu trúc hình thức
Chương 3. Một số đặc điểm tiêu đề báo điện tử về mặt nội dung
9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Phong cách ngôn ngữ báo chí
1.1.1. Ngôn ngữ báo chí có tính thời sự
Những sự kiện trong đời sống xã hội diễn ra từng giờ, từng phút và người
đọc luôn đòi hỏi báo chí phải thông tin nhanh, kịp thời. Các báo cũng luôn cạnh
tranh với nhau để có thể đưa tin kịp thời. Bởi vậy, một trong những đặc điểm quan
trọng nhất của báo chí là tính thời sự, tức là “sự kiện được thông tin nhanh, kịp thời
(thông tin tức thời càng tốt)” [21, tr.23]. Theo Ted Turner, “tính thời sự trong tin
tức thậm chí là những gì “cập phút, cập giờ”, chứ không còn là những gì cập nhật
nữa” [21, tr.22].
Theo đó, ngôn ngữ báo chí cũng phải mang tính thời sự để đáp ứng nhu cầu
thông tin nhanh, kịp thời. Điều này đồng nghĩa với việc ngôn ngữ báo chí phải luôn
Nhiều từ tiếng Việt mới xuất hiện, nhưng dần phổ biến trong xã hội ngày nay
cũng được báo chí tiếp nhận sử dụng, như: đi phượt, chơi săm, đập đá, quẩy, hít ke,
dân lắc, đi bay, lầy lội, soái ca, mỹ nam, đam mỹ, v.v.
Như vậy, để cập nhật những thông tin nóng hổi hàng ngày đến với người
đọc, ngôn ngữ báo chí phải có tính thời sự, theo sát chuyển biến ngôn ngữ của xã
hội đương đại. Nó phải là thứ ngôn ngữ thông tin để người đọc cảm nhận được biến
động, phát triển của xã hội diễn ra quanh họ.
Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ toàn dân. Báo chí hướng đến đối tượng phục
vụ là tất cả các tầng lớp xã hội, ở các trình độ khác nhau đều có thể đọc, hiểu được.
Bởi vậy, một trong những đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ báo chí là tính phổ
cập, đại chúng.
Tính phổ cập, đại chúng yêu cầu ngôn ngữ báo chí phải cụ thể, dễ hiểu, đúng
phong cách chức năng, mang tính quy phạm, khuôn mẫu và phổ quát.
Báo chí chỉ nên sử dụng phương ngữ ở một mức độ cho phép nhất định, và
khi sử dụng phải phù hợp với ngữ cảnh trước và sau nó. Nhà báo không được tùy
tiện sử dụng, sẽ gây khó hiểu cho người đọc. Theo Nguyễn Đức Dân, “từ địa
phương có thể gây khó hiểu cho một số bạn đọc và trở thành rào cản độc giả đến
11
với bài báo của bạn, thậm chí chúng có thể làm độc giả hiểu lầm sang một nghĩa
khác” [21, tr.191].
Ví dụ: Trong câu sau có hai từ địa phương: “… đã cho các gia đình nghèo
trong xã mượn tiền không lấy lãi, bán thiếu heo con, thức ăn hoặc tiền heo
giống…” là “heo” và “bán thiếu”. Tuy cùng là phương ngữ, nhưng từ “heo” được
mọi người hiểu vì được dùng thường xuyên và rộng rãi. Trong khi đó, từ “bán
thiếu” lại khá khó hiểu với người thuộc phương ngữ Bắc Bộ vì nó không phổ biến.
Do vậy, sẽ có tình trạng hiểu lầm thành “bán không đủ số lượng”.
Các đại từ thuộc phương ngữ miền Trung đa số đều không được sử dụng
trong ngôn ngữ báo chí, như: tê, mô, tui, bọn tui, tụi tau, choa, bọn choa, ông nớ, bà
Cách viết tắt tùy tiện cũng là điều cần tránh trong báo chí, trừ những từ viết
tắt thông dụng (như CAND, XHCN, UBND, Tp.HCM, v.v.) là được ghi thẳng, còn
lại cần được ghi đầy đủ trong ngoặc đơn ngay sau đó. Ví dụ không thể viết “Văn
hóa cơ sở và phong trào TDĐKXDĐSVH” (TĐ báo của Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Bến Tre, 16/3/2016).
Không nên dùng thành ngữ, tục ngữ, ẩn dụ nước ngoài vì người đọc không
hiểu. Chẳng hạn, có bài báo bóng đá viết là “…Thành công về mặt cá nhân là thế,
nhưng dấu chấm quyết định lên chữ i lại là thành tích ở Mondial” (báo, 16/5/1998).
Rất ít người học tiếng Pháp mới biết câu thành ngữ Mettre les points sur les i (đặt
dấu chấm lên chữ i) ý nói phải rõ ràng, chính xác. Người đọc bình thường không thể
hiểu được ẩn dụ trong bài báo này.
Báo chí cũng không nên dùng những điển cố, điển tích, ẩn dụ văn học thuộc
những tác phẩm bác học, không phổ biến toàn dân. Nếu không, người đọc không
những không thấy được cái hay, mà còn không hiểu báo đang viết về cái gì. Chẳng
hạn, Tít báo “Ga-vơ-rốt không muốn về nhà” (báo, 12/9/2003) ẩn dụ về trẻ em
đường phố vì Ga-vơ-rốt là nhân vật cậu bé lang thang trong tác phẩm Những người
khốn khổ của Victo Hugo. Nhưng không phải ai cũng đọc Những người khốn khổ để
hiểu được ẩn dụ này.
Vì vậy, các tít trên dù rất hay, thâm sâu, nhưng lại khó tiếp cận với người
đọc, nên trở thành vô nghĩa. Nếu không có tính đại chúng, thì dù có tâm huyết đến
đâu, báo chí cũng không thể tác động và hòa vào quần chúng để thực hiện chức
năng định hướng dư luận, xã hội.
13
Dù phổ cập và đại chúng đến đâu, ngôn ngữ báo chí cũng không thể quá bình
dân, suồng sã, dễ dãi, thấp kém, vì đây là thể loại dành cho toàn dân, có khả năng
tác động đến xã hội rất cao.
Báo chí không thể sử dụng các tiếng lóng như: ông bô, bà bô, hãm, ô môi,
chảnh chó, cớm, choai, thuổng, trẩu, lồi lõm, quay tay, vãi, v.v. cũng như không thể
Theo Nguyễn Đức Dân, “sửa những câu rối rắm, phức tạp cho ngắn lại thực
chất là sửa về cấu trúc tư duy, sửa lại câu theo cấu trúc tư duy chặt chẽ” [21, tr.15].
Đây là công việc cần thiết của người biên tập khi phải rút ngắn câu mà không làm
mất ý.
Thay vì viết câu dài, có thể viết những câu ngắn liên kết với nhau. Ví dụ:
“Madonna là nữ hoàng nhạc pop. Cô là nữ ca sĩ có album bán chạy nhất. Cô hoạt
động hơn 30 năm qua. Cô gây ảnh hưởng mạnh tới thế giới”. Để làm được điều
này, cần chú ý dùng những phương thức liên kết văn bản để tạo câu ngắn và có mối
liên hệ mạch lạc. Đó là liên kết hình thức và liên kết nội dung:
- Liên kết hình thức: còn gọi là liên kết ngữ pháp, gồm các phương thức lặp
từ vựng, thay thế từ vựng, dùng hư từ, v.v.
- Liên kết nội dung: còn gọi là liên kết logic – ngữ nghĩa, gồm sự liên tưởng,
phép đối, liên kết qua những thuộc tính, qua những quan hệ logic, v.v.
Để đảm bảo tính ngắn gọn, ngôn ngữ báo chí tránh các cách diễn đạt dùng
nhiều từ hoa mĩ xen vào bài báo. Ví dụ: trong bài “Dọc đường ấp văn hóa” sử dụng
nhiều từ hoa mỹ không cần thiết ở đề dẫn “Khuôn mặt được trang điểm kĩ càng
của cô nhân viên Phòng VHTT Bình Chánh tỏ vẻ ái ngại khi tôi hỏi đường tới một
ấp văn hóa nào đó của huyện. “Xa lắm”… nhưng rồi cô cũng cho tôi địa chỉ của ấp
4, xã Tân Phúc, một trong 5 ấp văn hóa của huyện Bình Chánh hiện nay” [21,
tr.227] vừa dài dòng, vừa gây khó hiểu cho người đọc.
Không dùng tới hai, ba từ đồng nghĩa nếu chỉ một từ là đủ và chỉ viết những
gì cần thiết với độc giả. “Hãy dũng cảm cắt bỏ những câu thừa, chữ thừa, ý lặp,
những chi tiết rườm rà, vô ích”. [21, tr.228].
Để đảm bảo tính chính xác, ngôn ngữ báo chí hạn chế các cách diễn đạt mơ
hồ, lập lờ, nước đôi mà hướng tới sự rõ ràng, mạch lạc. Phải làm sao để hạn chế
15
được thật nhiều hiểu lầm trong ngôn từ khi bài báo đến tay người đọc. Một trong
những chức năng quan trọng nhất của báo chí là cung cấp thông tin chính xác cho
khuôn mẫu, tức là những hệ thống ngôn từ có sẵn, thống nhất, được dùng lặp đi lặp
lại một cách quen thuộc.
Khuôn mẫu ngôn từ thường đơn giản, đơn nghĩa, mang sắc thái biểu cảm
trung tính, không cứng nhắc, bất di bất dịch mà linh hoạt, uyển chuyển. Có hai dạng
khuôn mẫu là:
- Khuôn mẫu hình thức: ngôn ngữ báo chí thường sử dụng các khuôn như
“cho chúng ta thấy…”, “chúng ta có thể thấy…”, “…gây xôn xao dư luận”,
“…khiến cộng đồng bức xúc”, “phát sốt vì…”, “…dậy sóng cộng đồng”…
- Khuôn mẫu nội dung: việc sử dụng các khuôn mẫu nội dung thường phụ
thuộc vào mối quan tâm của độc giả. Chẳng hạn, xu hướng chung của báo chí hiện
nay là gán tên các người đẹp chân dài với “đại gia”. Hay nhắc tới Thanh Lam, Mỹ
Linh, Hồng Nhung, Hà Trần thì báo chí là gán kèm với từ “diva”.
Dù mô phạm, khuôn mẫu đến đâu, ngôn ngữ báo chí vẫn phải có tính biểu
cảm. Tức là việc sử dụng các từ ngữ, lối nói mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá
nhân, tạo được sự sinh động, hấp dẫn và ấn tượng với người đọc.
Người viết có thể sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, vay mượn các hình
ảnh, từ ngữ, lối nói, diễn đạt từ văn học nghệ thuật như trào phúng, ẩn dụ, hoán dụ,
chơi chữ, nói lái, v.v. cho bài báo thêm tinh tế, sinh động. Nhưng cần chú ý tính đại
chúng, không nên dùng những lối nói quá xa vời, khó hiểu với người đọc. Ví dụ,
các nhân vật văn học quá nổi tiếng và quen thuộc như Thúy Kiều, Từ Hải, Thị Nở,
Chí Phèo, Tấm, Cám, v.v. thường xuyên được mượn danh để ẩn dụ ở các tít báo
như: “Cuộc đời khổ hơn Thúy Kiều của Hoàng tử bolero Quang Hiếu”
(Doisongphapluat.com, 30/6/2016), “Thị Nở Đức Lưu gặp rắc rối vì cảnh nóng với
Chí Phèo ở vườn chuối” (Vtc.vn, 28/6/2016), v.v.
Chính tính biểu cảm trong ngôn ngữ là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn cho một tác
phẩm báo chí, đặc biệt là những tác phẩm thuộc thể loại phóng sự, bình luận, vốn có
dung lượng dài hơn, mất nhiều thời gian để đọc hơn.
17
18
rút tít đưa ra kết luận “tít là tên gọi của tác phẩm và là cơ sở để phân biệt bài báo
này với bài báo khác” [80].
Từ những quan niệm trên đây, chúng tôi xác định: TĐ báo chí (còn gọi là tít
báo) là tên gọi, phần mở đầu của một tác phẩm báo chí, giúp phân biệt bài báo này
với bài báo khác. TĐ báo có nhiệm vụ tóm lược những thông tin quan trọng, hấp
dẫn nhất trong một bài báo để thu hút người đọc.
Trong báo viết, các mẩu tin thường không cần đặt tiêu đề. Bởi vì, các mẩu tin
bản thân chúng đã rất vắn tắt, không cần TĐ để giới thiệu và tóm tắt nội dung của
chúng. Như vậy, đối với các bài báo, TĐ có chức năng định danh và khu biệt. So
sánh với nhân danh, địa danh, nhãn hiệu thường là là những tín hiệu có tính võ
đoán, tách rời và độc lập với đối tượng thì TĐ là một tín hiệu có lý do, mang tính
biểu trưng. TĐ là yếu tố để gọi tên, để đại diện cho bài báo.
Cách đặt TĐ thường được gọi bằng từ nghề nghiệp là “giật tít”.
1.2.2. Chức năng của tiêu đề báo chí
Chức năng quan trọng đầu tiên của TĐ báo chí là thu hút sự chú ý, tức là phải
“bắt mắt”. Độc giả sẽ quyết định bài báo có đáng đọc hay không ngay từ việc nhìn lướt
qua tiêu đề. Điều này tác động đến cách thức sử dụng ngôn từ để đặt tiêu đề.
Chức năng tiếp theo của TĐ báo chí là chức năng khu biệt: phân biệt bài báo
này với bài báo khác. Tiêu đề, như đã nói, giúp làm nổi bật chủ đề của bài báo; khái
quát thông tin mới nhất và sớm nhất đến độc giả.
TĐ ngoài chức năng cung cấp thông tin còn có khả năng định hướng cho
người đọc. Nó giúp độc giả nắm sơ bộ sự kiện và quyết định thái độ, quan điểm
trước sự kiện. Có những trường hợp, người đọc chỉ cần đọc xong TĐ và không còn
quan tâm bài báo viết gì nữa. Có những TĐ báo điện tử ngày nay mặc dù không làm
cho người đọc hứng thú về sự kiện được nêu mà lại làm cho họ quan tâm đến việc
đưa lời bình (comment) của mình ở cuối bài báo.
Malcolm F. Mallette trong cuốn Handbook for Journalists of Central and
Europe, đã tổng kết bốn chức năng của TĐ bài báo là: (1) tổng kết thông tin;
quyết định mua báo. Theo một kết quả điều tra xã hội học, “những nhà báo được
hỏi cho rằng chỉ có khoảng 30% tít đặt hay. Đồng thời họ cũng cho rằng đặt tít hay
không phải là khâu đơn giản, mặc dù cố gắng nhưng chưa chắc đã có kết quả tốt.
100% những nhà báo được hỏi đều công nhận luôn có hứng thú đọc những bài báo
20
có tít hấp dẫn, có 18% số người được hỏi nói họ không thường xuyên cố gắng đặt
tít hấp dẫn. Cũng theo kết quả này thì có tới 80% số người thích tít báo hấp dẫn về
phương diện nội dung và 20% thích tít báo được trình bày hấp dẫn” [79]. Bởi vậy,
đặt đầu đề là việc làm có tính chất quyết định số phận của bài báo, “bài báo rất hay
nhưng đầu đề dở thì có thể làm mất ít nhất một nửa số độc giả” [79].
Với người làm báo, đặt TĐ thường được ví như đặt tên cho “đứa con” tinh
thần của họ. Đặt TĐ không hề đơn giản vì “vừa cần nội dung vừa cần hấp dẫn” [21,
tr.81]. Phải làm sao để TĐ toát lên toàn bộ nội dung bài báo, nhưng phải thật hấp
dẫn người đọc. Vì vậy, “đặt TĐ là công việc cuối cùng khi viết một bài báo” [21,
tr.81]. Một phóng viên của báo Nhân đạo (Pháp) nói rằng ông ta thường dành cả
nửa thời gian viết báo cho việc đặt tiêu đề. Còn Dan Shure thì đề nghị, “các biên tập
viên tin tức và báo chí nên dành 80% thời gian của họ để suy nghĩ đặt TĐ cho bài
viết, thời gian nào còn lại thì dành cho nội dung” [62]. Và cũng không ít sự việc
đáng tiếc xảy ra chỉ vì TĐ báo. Chẳng hạn, trang 2sao.vn đã từng bị ca sĩ Thu Minh
từ mặt chỉ vì một tít báo “Diva xứ Hàn dạy ca sĩ Việt hát nốt cao” (1/1/2015). Từ
“dạy” trong tít báo khiến Thu Minh cho là “láo” và thiếu tôn trọng cô. Bài báo sau
đó đã phải đổi lại tít khác.
TĐ vô cùng quan trọng, nên “đặt TĐ là một nghệ thuật, đó là nghệ thuật làm
thế nào để ngay cả độc giả lười đọc nhất cũng dừng lại ở bài báo chúng ta viết”
[21, tr. 81]. Người làm báo phải làm sao để lôi kéo được lực đọc ở độc giả vào tít
báo, từ đó mới tìm đến nội dung. Nói như tác giả Nguyễn Bùi Khiêm là “viết TĐ là
một nghệ thuật. Bạn có thể có bài viết thú vị nhất từng được viết, nhưng nếu nó
không có một TĐ được sự chú ý để mọi người đọc nó, thì sức thu hút của bài viết đó