ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********
PHẠM VĂN DŨNG
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
SAU 1975
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS -TS PHẠM THÀNH HƯNG
Hà Nội – 2010
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Đã hai mươi mốt năm nhà văn Nguyễn Minh Châu vĩnh biệt chúng ta, vĩnh biệt
cuộc đời mà ông nặng lòng yêu quý. Nhưng một đời người - một đời văn khắc khoải “
Một niềm tin pha lẫn lo âu ” đối với con người của ông chắc sẽ còn để lại những dấu ấn
khó phai nhạt trong lòng những người yêu văn chương. Sáng tác của ông đã được ghi
nhận như một dấu son chói sáng trên con đường đổi mới và phát triển của văn học Việt
Nam hiện đại.
Trước năm 1975 Nguyễn Minh Châu được biết đến và yêu mến qua
những trang viết về một hiện thực kháng chiến hào hùng, mang đậm chất sử
thi. Tác phẩm của ông được xem như những bước tượng đài ngôn từ tráng lệ
về sức mạnh và vẻ đẹp của dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
định chắc chắn. Đó là những thành tựu không chỉ của nhà văn mà còn là của
cả nền văn học hiện đại Việt Nam trong chặng đường đổi mới văn học. Đánh
giá về các tác phẩm của mình Nguyễn Minh Châu đã từng nhận: " Mình viết
văn suốt đời tràng giang đại hải, có khi chỉ còn lại vài cái truyện ngắn ".
Với hi vọng nhỏ nhoi muốn góp một phần vào sự hoàn thiện trong
nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và sự nghiệp văn học của
ông nói chung, tôi quyết định chọn đề tài " Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu sau 1975 nhìn từ góc độ thi pháp " để nghiên cứu. Đồng thời
qua đó, tôi mong muốn được góp phần tìm hiểu sự vận động của quá trình
văn học trong giai đoạn thời kì đổi mới, tìm hiểu thêm một số vấn đề về nghệ
thuật truyện ngắn nhìn từ góc độ thi pháp học, một vấn đề đang được xem là
trung tâm của tự sự học hiện đại. Thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng
luận văn của mình có ý nghĩa giúp mình mở rộng kiến văn, từ đó sẽ giảng
dạy có hiệu quả hơn, đáp ứng được một cách tốt hơn những yêu cầu giáo dục
trong thời kỳ mới.
2.Lịch sử vấn đề
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn đã để lại nhiều dấu ấn đặc sắc trong lịch sử
văn học nước nhà. Cho đến nay đã có hàng trăm bài viết , hàng chục công trình nghiên
cứu lớn nhỏ đề cập đến nhiều khía cạnh về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn. Theo thư
mục tài liệu nghiên cứu tác giả, tác phẩm Nguyễn Minh Châu do TS Nguyễn Trọng
Hoàng và Nguyễn Đức Khuông biên soạn năm 2002, số lượng bài viết về Nguyễn Minh
Châu đã lên đến con số 150. Đó là chưa kể đến các luận án Tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về
Nguyễn Minh Châu của các nghiên cứu sinh, học viên cao học qua nhiều thế hệ. Các bài
viết ấy đã được tập hợp , tuyển chọn và giới thiệu trong các cuốn Kỷ yếu hội thảo 5 năm
ngay mất Nguyễn Minh châu - Hội văn nghệ Nghệ An ,1995; Nguyễn Minh Châu - con
người và tác phẩm [ 3 ]; Nguyễn Minh Châu - về tác giả và tác phẩm [ 21 ].
Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn nhất là những truyện viết sau
năm 1975 - là mảng sáng tác thu hút được sự chú ý đặc biệt và gây nhiều tranh cãi trong
tính cách vừa mâu thuẫn vừa thuần toàn, vừa cá biệt vừa tiêu biểu, vừa là quá khứ của
lịch sử tối tămvừa toả ánh sáng của nhân tính vĩnh hằng của những giá trị đạo đức muôn
đời [ 11 ]
Nguyễn Tri Nguyên nêu lên một kiểu nhân vật mới xuất hiện trong nhiều sáng tác
sau 1975 của Nguyễn Minh Châu: Kiểu nhân vật hướng nội [ 38].
Trong một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về Nguyễn Minh Châu, Tôn Phương
Lan đã phân loại nhân vật trong sáng tác Nguyễn Minh Châu thành hai loại nhân vật đặc
trưng nhất thể hiện được phong cách nghệ thuật của nhà văn: nhân vật tư tưởng và nhân
vật tính cách - số phận. Tác giả đã nhận xét: " Nếu trước những năm 80 , Nguyễn Minh
Châu chủ yếu chỉ xây dựng dạng nhân vật loại hình thì càng về sau , ngòi bút của ông đã
vươn tới sự khắc hoạ nên các dạng nhân vật tư tưởng , nhân vật tính cách - những nhân
vật có số phận riêng so với cộng đồng ". Đây là những nhân vật " được xây dựng theo một
quan niệm nghệ thuật nhằm tạo ra khả năng thể hiện đời sống với chiều sâu nhất định,
vừa mang thông điệp của tác giả , lại vừa tồn tại một cách khách quan như những "Con
- người - này"; và hệ thống những nhân vật đó "đa dạng , đông đảo " trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu. Tôn Phương Lan cũng rút ra những thủ pháp trong xây dựng nhân
vật của nhà văn: miêu tả tâm lý, sử dụng đọc thoại nội tâm cùng yếu tố ngoại hình và tên
gọi. Theo tác giả, quá trình tái hiện " Con người trong con người " đó là quá trình đổi mới
tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu và " một trong những phương diện đặc sắc thể
hiện phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu chính là nhân vật " [ 30 ]
Cũng nhận diện về các kiểu loại nhân vật trong truyện ngắn sau năm 1975 của
Nguyễn Minh Châu, Trịnh Thu Tuyết phân chia thành các loại nhân vật: nhân vật tư
tưởng, nhân vật tính cách , nhân vật thế sự, nhân vật số phận [ 58]. Đồng thời tác giả chỉ
ra qúa trình vận động và đổi mới thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu từ các nhân
vật lí tưởng đến những nhân vật đa chức năng phản ánh cuộc sống đời tư, thế sự như đã
kể trên. Trịnh Thu Tuyết cũng đã khẳng định những đóng góp nghệ thuật của Nguyễn
Minh Châu trong xây dựng nhân vật thể hiện qua các biện pháp dùng độc thoại nội tâm,
chi tiết miêu tả tâm lý xác thực, miêu tả ngoại hình sinh động [ 59 ]...
cốt truyện, tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng là một phương diện
nghệ thuật được nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm và phân tích, đánh giá.
Bùi Việt Thắng, trên quan điểm loại hình, đã nêu lên ba dạng tình huống cơ bản
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu: tình huống - tương phản; tình huống - thắt nút;
tình huống - luận đề, từ đó rút ra bài học nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu: mối
quan hệ đời sống - tình huống truyện là mối quan hệ biện chứng [58].
Trịnh Thu Tuyết đã nhận xét về tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu:
trước năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra những tình huống thử thách bên ngoài để
các nhân vật của ông có điều kiện phát huy những sức mạnh và vẻ đẹp tiềm ẩn vốn có của
họ…Từ sau năm 1975, nhà văn chủ yếu tạo ra những tình huống tâm lý nhằm đưa nhân
vật vào những cuộc đấu tranh nội tâm, những vận động tâm lý với những day dứt, sám hối
hay chiêm nghiệm, nếm trải … Tác giả đã phân tích những dạng tình huống trong truyện
ngắn sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu (tình huống tự nhận thức, tình huống nghịch
lý, tình huống bi kịch ) để làm rõ cho nhận thức trên [58].
Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, Tôn Phương Lan đã
nêu rõ quan điểm coi việc tìm ra những dạng tình huống phổ biến trong sáng tác của ông
là một thao tác để tìm hiểu sự “độc đáo , lặp lại và phát triển" trong quá trình tiếp cận đời
sống hiện thực con người [30, 122]. Với quan điểm ấy, tác giả đi vào phân tích ba dạng
tình huống trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu (tình huống nhận thức, tình huống
tương phản và tình huống thắt nút); từ đó đi đến nhận xét: Sự tìm tòi của Nguyễn Minh
Châu trong xây dựng tình huống diễn ra trên cả bề rộng lẫn bề sâu; đó cũng là một trong
những phương diện thể hiện bản sắc riêng của Nguyễn Minh Châu [30].
Ngoài nhân vật, cốt truyện, tình huống, nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu cũng được xem xét ở nhiều yếu tố: điểm nhìn, giọng điệu, nhịp điệu,
ngôn ngữ trần thuật, Trịnh Thu Tuyết [58], Tôn Phương Lan [30] có sự phát hiện thống
nhất về điểm nhìn trần thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu: trần thuật từ ngôi thứ
ba (Trần thuật “biết hết”, trần thuật khách thể) và trần thuật từ ngôi thứ nhất. Trịnh Thu
Tuyết có nhận xét chung : “trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975,
thiệp” bằng cách tìm hiểu suy ngẫm những vấn đề đặt ra trong tác phẩm…để cùng tác
giả khám phá những bề sâu bí ẩn của cuộc sống, con người”[58,46].
Nhìn chung các bài viết và công trình nghiên cứu kể trên đã xem xét nhiều
phương diện nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ở nhiều góc độ, bình diện
khác nhau, và dù là phác thảo khái quát hay phân tích cụ thể ít nhiều đều đề cập đến
những khía cạnh, những yếu tố hoặc phương diện nào đó của nghệ thuật truyện ngắn. Tuy
nhiên, xem xét vấn đề này một cách toàn diện, trực tiếp, hệ thống theo quan điểm nghệ
thuật là toàn bộ tổ chức nghệ thuật của tác phẩm thì thật sự chưa có một chuyên luận nào
đi sâu nghiên cứu nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Ở luận văn này, tôi
cố gắng khảo sát nhằm tìm hiểu nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở góc độ thi
pháp, từ đó góp phần làm rõ tư tưởng nghệ thuật cũng như tài năng độc đáo của của nhà
văn mở đường “tinh anh và tài năng” này. Và thật sự, những bài viết và các công trình
nghiên cứu kể trên đã là những gợi ý, tham khảo quý báu cho tôi trong quá trình thực
hiện luận văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 nhìn từ góc độ thi
pháp để thấy được những đổi mới, nét đặc sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người nơi thể hiện tập trung tư tưởng nhân bản sâu sắc của Nguyễn Minh Châu, cũng như tài
năng nghệ thuật của tác giả trong các truyện ngắn.Tiếp cận truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu từ góc độ thi pháp cho thấy sự cách tân nghệ thuật mang tính chất mở đường của
ông - mở ra những khả năng và hướng đi mới cho thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi
đương đại.
Nhìn chung, mục đích chính của luận văn là muốn khám phá những vẻ đẹp đặc
sắc trong phong cách nghệ thuật, những giá trị đích thực của truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau năm 1975 và những đóng góp của tác giả cho sự đổi mới của nền văn xuôi Việt
Nam.
4. Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các yếu tố thi pháp trong truyện ngắn
1.Nguyễn Minh Châu - người mở đường tinh anh cho một giai đoạn văn
học mới
1.1.Nguyễn Minh Châu - cây bút của mọi miền hậu phương - tiền tuyến
Những người yêu mến văn học thường dành cho nhà văn Nguyễn Minh Châu một
tên gọi vừa giản dị vừa gần gũi dễ thương: nhà văn chiến sĩ. Một người chiến sĩ luôn hào
mình vào mọi hoàn cảnh của đất nước và chọn cho mình một lẽ sống cao đẹp. Chính lí
tưởng cao đẹp là điều mà cây bút dũng cảm của Nguyễn Minh Châu luôn hướng tới và thể
hiện rõ trên từng trang viết. Cả cuộc đời của mình Nguyễn Minh Châu gắn bó với cách
mạng và quần chúng nhân dân, vì vậy hơn ai hết, ông thiếu rõ cuộc sống của nhân dân với
những tâm tư, tình cảm, ngay cả những biến động tinh vi và nhỏ nhất trong tâm hồn họ
cũng được ông thấu hiểu, ông hiểu rõ cuộc sống của những người lính, của chiến tranh và
cách mạng và đây cũng chính là mảnh đất nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn ông.
Sinh ra ở một vùng quê nghèo của miền trung gian khổ: làng Thơi, xã Quỳnh Hải,
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cuộc đời ông, ngay cả khi ông đã đi khắp mọi miền đất
nước luôn vẫn chịu những ám ảnh bởi cái dữ dội, cái nghèo khó, hoang sơ của đất mẹ.
Nhiều tác phẩm của ông đã thực sự gây xúc động với những trang viết nặng ân tình trong
sự gắn bó máu thịt và am hiểu sâu sắc cho con người và quê hương.
Cuộc đời của Nguyễn Minh Châu luôn gắn liền với nhiều sự kiện của cách mạng
dân tộc và ở đâu, dù trong thời gian nào đi nữa ấn tượng lớn nhất về ông trong lòng người
đọc chính là hình ảnh của một anh bộ đội cầm bút. Đó là những trang viết khi ông khoác
trên mình chiếc ba lô, tham gia các cuộc chiến. Hay những tác phẩm là kết quả của những
ngày đi thực tế, lăn lộn ở chiến trường của nhà văn trong những năm trước 1975. Nguyễn
Minh Châu đã từng tâm sự “ Tôi có kinh nghiệm mỗi chuyến đi thực tế của mình chỉ cần
có được cái may mắn và vinh dự, cuộc đời trao cho mình lấy một hai con người như thế ,
họ đã sáng tác cho mình một nửa, làm hộ cái công việc nặng nhọc, vất vả cho mình một
nửa, họ như cái vạch nối giữa đời sống và nhà văn ” [ 28,96 ].
Năm 1975 sau khi đất nước vừa giải phóng, với cuốn sổ ghi chép trên tay, ông có
Nếu như Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 tồn tại và phát triển trong hoàn
cảnh chủ yếu là hai cuộc kháng chiến và gặp nhiều khó khăn trở ngại từ khâu sáng tác đến
tiếp nhận, dẫn đến mang đậm tính chất của văn học thời chiến và nặng tính phiến diện
trong việc phản ánh đời sống. Với việc quy các sự đa dạng, phức tạp của hiện thực đời
sống vào những mô hình mang tính đơn giản, quy phạm, vào những hướng giải quyết có
tính công thức, đề cao bút pháp hiện thực, tái hiện đời sống trong trạng thái thức giống
như nó tồn tại, nhiều khi để mục đích phục vụ chính trị chi phối ít nhiều...đáp ứng được
nhu cầu của lịch sử, tạo nên tác dụng to lớn trong việc thức tỉnh, động viên tuyên truyền
thêm sức mạnh và niềm tin cho nhân dân...thì văn học thời kỳ sau năm 1975 lại có những
đổi mới mang tính tất yếu. Trong những điều kiện mới của lịch sử - xã hội: đất nước
thống nhất, cuộc kháng chiến thắng lợi mở ra một thời kỳ mới, thời kì của độc lập và xây
dựng chủ nghĩa xã hội...Văn học cũng đã có những đổi mới thực sự. Gắn với vận mệnh
của đất nước một cách chặt chẽ, văn học dần chuyển sang một thời kì mới với những vận
động và quy luật khác trước.
Ngay sau năm 1975, cả nước đón nhận tinh thần hào hứng phấn khởi của niềm vui
chiến thắng nhưng đời sống còn biết bao khó khăn, gian khổ, thử thách: những di hoạ của
chiến tranh, đạo đức nhân cách của con người, và hàng loạt các vấn đề khác... Văn học
với quan niệm là một hình thái của ý thức xã hội, đã nhanh chóng chuyển mình để phản
ánh những gì đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ của cuộc sống. Tình hình xã hội đã đặt ra
những yêu cầu mới trong đó có văn hoá nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng. Xong
ngay lập tức văn học chưa bắt kịp được những yêu cầu đó một cách thoã mãn.
Năm năm sau, năm 1980 đất nước chúng ta rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm
trọng, và chính nó ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống, văn hoá xã hội, trong đó
có văn học. Một thời kì đầy biến động đã đẩy không ít văn nghệ sĩ rơi vào sự chao đảo,
không giữ vững lập trường, bối rối trên con đường lựa chọn cho mình một phương hướng
sáng tác đúng đắn. Nguyên Ngọc đã từng nhận xét đây chính là một " khoảng chân không
trong văn học ".
Vượt qua khó khăn của cuộc khủng hoảng, từ năm 1986 nước ta thực sự bước vào
niệm nghệ thuật lẫn phương thức biểu đạt.
Những đổi mới của Nguyễn Minh Châu không chỉ thể hiện ở những tác phẩm văn
chương mà còn thể hiện rõ qua nhiều tiểu luận phê bình. Hãy đọc lời ai điếu cho một giai
đoạn văn nghệ minh hoạ là một minh chứng cho một nhân cách trung thực và dũng cảm
đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh đổi mới văn học với một cảm quan nhạy bén của một
người chiến sĩ đầy ý thức trách nhiệm với những suy tư trăn trở khi nhìn và chỉ ra những
quy luật tất yếu.
Trong suốt chiều dài văn học, Nguyễn Minh Châu là người cảm nhận được sớm
nhất, sâu xa nhất những yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới toàn diện. Ông đã cùng
đi suốt thời kì ấy bằng sự lặng lẽ, âm thầm, khiêm nhường nhưng rất kiên định và dũng
cảm. Các bước đi của ông chậm rãi nhưng chắc chắn. Nguyễn Minh Châu không ồn ào
mà lặng lẽ đi tiên phong trên con đường đổi mới. Với ông, đổi mới trước hết phải là tự
đổi mới chính mình, cho nên con đường dù chông gai, trắc trở đến đâu ông vẫn nguyện
làm người lính tiên phong trên tuyến đầu đổi mới ngay cả những sáng tác trước và sau
chiến tranh.
Đối với một nền văn học nói chung và với mỗi người nghệ sĩ, mỗi nhà văn nói
riêng bao giờ ý thức nghệ thuật và sáng tác luôn có mối quan hệ khăng khít và tác động
qua lại lẫn nhau. Ý thức nghệ thuật chính là yếu tố căn bản chi phối và thúc đẩy sự vận
động sáng tạo văn học. Với những trang viết phê bình của Nguyễn Minh Châu khi chúng
ta đi sâu tìm hiểu sự vận động và ý thức đổi mới trong ý thức nghệ thuật là ta đã có cơ
một cơ sở vững chắc để lí giải những thành công trong sáng tác của ông. Chính sự vận
động và phát triển của một nền văn học chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố nhưng quan
trọng nhất và tác động trực tiếp có tính chất quyết định chính là ý thức nghệ thuật của nhà
văn. Đó là hệ thống những quan niệm của nhà văn về con người, về nguyên tắc tiếp cận
và phản ánh cuộc sống, về đề tài, chủ đề, cảm hứng, nghệ thuật biểu đạt...
Như vậy, có thể thấy Nguyễn Minh Châu là người mở đường xuất sắc cho văn học
Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nói như Nguyễn Khải, sau này đã có người đứng trên vai ông
để mà to lớn hơn nhưng vị trí tiên phong và những cống hiến có tính chất khai phá của
Trong cả cuộc đời sáng tác của mình Nguyễn Minh Châu được xem là một người
lính can trường và tiên phong trong công cuộc tự đổi mới mình và tham gia vào quá trình
đổi mới tư duy nghệ thuật. Có thể nói sau năm 1975, sự đổi mới ấy được bắt nguồn từ
những trăn trở, day dứt, và ông đã dũng cảm đi tới quyết định viết “ai điếu” cho một thời
văn học lãng mạn, lý tưởng hoá và đậm màu sắc minh hoạ tư tưởng. Sự đổi mới tư duy ấy
bắt nguồn từ những quan niệm mới mẻ về con người.
M.Gorki đã từng nói " Văn học là nhân học ", lời nói ấy còn vang vọng mãi như
một mệnh lệnh sáng tạo. Chính con người là trung tâm, là cái đích cho sự khám phá nghệ
thuật. Với văn học Việt Nam, trong suốt quá trình tồn tại và biến đổi vẫn luôn là một sự
vận động, tìm tòi và đổi mới không ngừng. Sự đổi mới ấy được thể hiện ở nhiều bình diện
xong ở trung tâm và chiều sâu của những biến đổi ấy chính là sự thay đổi trong quan niệm
nghệ thuật về con người và sự hình thành những quan niệm nghệ thuật mới về con người.
Nếu như trong nền văn học kháng chiến là sự phát hiện và sáng tạo con người
quần chúng, con người của cộng đồng, con người tập thể. Được phát triển trong điều kiện
hoà bình, nền văn học Việt Nam từ sau năm 1975 vừa được kế thừa từ những nguyên tắc
truyền thống, đồng thời cũng mở ra những bình diện mới trong sự thể hiện, lí giải con
người. Quan niệm về con người trong văn học thời kì đổi mới mang tính thống nhất của
nền văn học dân tộc trong toàn bộ quá trình vận động và phát triển nhưng cũng mang
những nét đặc trưng riêng của thời kì văn học sau năm 1975.
Ở thời kì này con người đã được thể hiện ở nhiều nét mới, được nhìn ở nhiều vị
thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người với xã hội, con người với lịch
sử, con người với gia đình, con người với những người khác và với cả chính mình. Con
người được các nhà văn khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức
và vô thức, đời sống và tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao
cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại
phổ quát. Con người xuất hiện trong sự đan cài, xen lẫn, giao tranh giữa bóng tối và ánh
sáng, giữa " rồng phượng và rắn rết ", cao cả và thấp hèn. Và cái đích để các nhà văn
hướng đến là để hiểu biết con người hơn và luôn chú ý đến sự thức tỉnh khả năng tự nhận
Sau năm 1975, những con người thật trong cuộc sống của chúng ta không hề đơn
giản chút nào. Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra rằng, cần phải thay đổi cách nhìn một
chiều, giản đơn về con người. Thay vì lí tưởng hoá con người, nhà văn đã nhìn nhận con
người trong tính toàn diện, đa dạng, phức tạp của nó. Ông đã đi vào các số phận, các tính
cách, tìm đến những nỗi niềm riêng tư, sâu kín trong mỗi tâm hồn con người. Ông hiểu
rằng trong bản chất mỗi con người có cả tốt lẫn xấu, cả " rồng phượng lẫn rắn rết ".
Chính từ đó ông đã làm một cuộc chuyển đổi lớn lao trong quan niệm về con người. Ông
đã đi từ hướng ngoại đến hướng nội, từ số phận cộng đồng đến số phận cá nhân và đi sâu
vào bản chất sâu kín của mỗi con người. Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình nhà văn
đã cố gắng để " khám phá ra tất cả những cái gì khó nắm bắt nhất, xảy ra nơi cái thế giới
bên trong con người " [ 28,108 ], " phải có sự khám phá mới về con người và xã hội,
khám phá ấy trong cái tiêu cực, cái xa đoạ một vấn đề gì đó mới ".
Để viết lên những tác phẩm có giá trị có ý nghĩa về con người, phải xuất phát từ
tấm lòng, trái tim yêu thương dành cho con người. Chính Nguyễn Minh Châu đã từng tâm
sự: " Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi nhà
văn lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và tình yêu thương con người.
Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau
đớn, khắc khoải, một mối quan tâm thường trực về số phận, hạnh phúc của những người
chung quanh mình. Cần giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm
thông sâu sắc với những nổi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua
những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống "[ 28,111 ]. Hơn bao
giờ hết trong sâu thẳm tấm lòng đôn hậu của Nguyễn Minh Châu luôn cháy lên một niềm
tin thiết tha, mãnh liệt vào con người và mong muốn làm sao cho con người và cuộc đời
của con người ngày càng tốt đẹp hơn.
1.4.2. Từ ý thức về con người cộng đồng tới ý thức về con người cá nhân thế sự
Có thể thấy những cách tân và đổi mới đặc sắc nhất của Nguyễn Minh Châu là ý
thức, cách nhìn và phản ánh con người ở một góc nhìn mới khác hẳn với cách nhìn trong
các sáng tác trước năm 1975. Nếu như trước năm 1975 là sự tiếp cận con người cộng
Nguyễn Minh Châu là cây bút luôn đi tìm cái đẹp, hướng cái đẹp để khẳng định
cái đẹp, cái thơ của cuộc sống tuy ông không hề thi vị hoá cuộc sống, không dễ dãi nhìn
cuộc sống một chiều. Với ông cuộc sống không bao giờ cũng tốt đẹp, là thảm hồng trên
đường đi, mà cuộc sống luôn có những phần lộ ra bên ngoài và cả những phần còn ẩn
khuất. Cuộc sống có cả bóng tối và ánh sáng, có cả âm dương và cả những biến đổi thăng
trầm. Cuộc sống vốn phức tạp và con người trong cuộc sống phải đấu tranh để tồn tại, để
sống, để giành lấy cái thiện và ánh sáng. Trong cuộc đấu tranh ấy, bản chất con người
được hiện rõ với nhiều điều, tốt, xấu, thiện, ác. Trong sự lo toan bộn bề của cuộc sống,
những mặt trái của xã hội lại được bọc lộ rõ nét hơn.
Là nhà văn rất gần với cuộc sống, Nguyễn Minh Châu hiểu hơn ai hết những gì
đang diễn ra của đời sống xã hội con người. Ông đã mạnh dạn hướng ngòi bút của mình
vào sự tha hoá biến chất về đạo đức và nhân cách con người. Từ đó, nhà văn lôi ra những
mặt trái của xã hội, để cảnh tỉnh và thức tỉnh lương tâm ở mỗi con người. Bằng sự từng
trãi trong cuộc sống Nguyễn Minh Châu đã chiêm nghiệm được rằng:" Những biểu hiện
của lối sống đạo đức và thậm chí là cả quan niệm sống của những người xung quanh ta nhất là thanh niên - khiến chúng ta không thể không quan tâm và lo lắng. Tôi nghiệm thấy
mỗi lần đất nước chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, chúng ta lại phải đạt ra vấn đề
chống chủ nghĩa cá nhân. Song so với lần hoà bình năm 1954 thì cái lần hoà bình sau
năm 1975 này, diện mạo của chủ nghĩa cá nhân nó to hơn. Tôi nghĩ rằng chúng ta đang
sống trong một thời kỳ mà con người Việt Nam chưa bao giừo đạt đến tầm vóc lớn lao
như vậy. Nhưng bên cạnh đó, cũng thấy những gì nằm trong tính cách và tâm lí con
người hiện nay đã tạo nên cái mà chúng ta thường gọi chúng là tiêu cực xã hội " [ 28,100
]. Nhà văn đã quyết tâm dùng ngòi bút của mình "tham gia trợ lực vào cuộc giao tranh
giữa cái tốt và cái xấu bên trong mỗi con người, mỗi cuộc giao tranh không có gì ồn ào
nhưng xảy ra từng ngày và khắp mọi lĩnh vực đời sống " [ 28, 100 ].
Những tiêu cực xã hội có thể len lỏi vào cuộc sống của bất cứ ai, bất cứ lúc nào
và ở đâu. Nó đặt ra cho mọi người những điều cần phải quan tâm và những vấn đề cấp
bách cần được giải quyết. Đi sâu vào tìm hiểu những phẩm chất bên trong của con người,
Nguyễn Minh Châu quan niệm rằng: " Mỗi truyện ngắn tôi nêu ra một trường hợp cụ thể
và xen vào mạch kể chuyện, tôi bàn bạc về quan niệm sống hoặc báo động một điều gì " [
28, 100 ]. Xong đối với chính bản thân nhà văn, đó không hề là công việc dễ dàng, không
không biết cảnh giác với ngay chính sự hiểu biết còn hạn hẹp của mình về cuộc sống, tình
người. Hay trong mỗi con người còn có mặt chưa hoàn thiện và mặt chưa hoàn thiện đó
lấn át, chi phối mọi hành động suy nghĩ của con người. Phải chăng câu nói của nhà hiền
triết xưa luôn nhắc ta "hãy tự biết mình " đã bị chúng ta lãng quên. Đó quả là nguy hại, nó
sẽ từng buớc dẫn con người ta đến sự cằn cỗi trống rỗng của tâm hồn mà hậu quả của nó
ta không hề lường trước được. Cuộc sống hãy biết phê phán những thái độ bàng quan,
dửng dưng trước sự đau khổ của người khác, phải cảnh giác với sự xa đoạ đo thói ham mê
quyền lực gây nên.
Một trong những đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đó là khả năng tự
nhận thức của con người. Không chỉ thể hiện những vi phạm của chuẩn mực đạo đức,
Nguyễn Minh Châu còn phát hiện ra những mặt tốt đẹp của con người, đó là lòng vị tha,
khát vọng sống hoàn hảo, khát vọng được " làm lại " mình. Cái mà trước đây thường
được hiểu như là những truyền thống, mĩ tục của nhân dân thì bây giờ nó gắn với ý thức
của mỗi con người về nhân cách.
Đất nước giải phóng hoàn toàn, Nguyễn Minh Châu lại đưa người đọc vào một "
cuộc chiến " mới không hề kém phần gay go ác liệt. Đó là cuộc sống ở bên trong mỗi con
người để giữ gìn và và hoàn thành nhân cách của mình. Một cuộc chiến không có sự
khoan nhượng để giành lấy phần tốt đẹp, để tiêu diệt phần xấu xa u tối trong mỗi con
người và trong cả xẫ hội. Chính vì vậy mà " nhà văn rất cần thiết phải có mặt trên đời, để
làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo hiệu trước những tai hoạ " [ 28, 164 ] và " để
làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái
ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn
và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và
cuộc đời. Nhà văn tồn tại trên đời để bênh vực cho những con người không còn có ai để
bênh vực " [ 28, 165 ].
Khả năng tự nhận thức là " khả năng tự phanh phui mổ xẻ ý thức mình, lối sống
của mình" [ 2 ]. Đó chính là khả năng mà con người chứng kiến những gì xảy ra với họ và
họ ý thức về mình và từ đó thay đổi cách nghĩ, cách nhìn và cách sống của mình. Đó là
hương.
Khả năng tự nhận thức của con người là vấn đề mà Nguyễn Minh Châu rất tâm
đắc, và thể hiện thành công trong nhiều tác phẩm. Tác giả đã khuyên mỗi người hãy tự
biết ý thức lại về những công việc mình đã làm để từ đó thay đổi cách suy nghĩ cũng như
lựa chọn được những hành động đúng đắn. Cuộc sống vốn phức tạp, bận rộn, bản thân
con người cũng không hề đơn giản và bị lôi cuốn hết việc này qua việc khác, có khi cả
những việc sai trái, xấu xa, có hại đến người khác mà bản thân mình chẳng hề hay biết.
Nếu con người không biết nhìn lại chính mình thì xã hội sẽ như thế nào? Việc tự nhận
thức lại mình là một việc làm cần thiết đối với mỗi con người, với mọi người và toàn xã
hội. Nguyễn Minh Châu đã để cho con người tự ý thức, tự nhìn lại mình nhưng không hề
cô lập con người. Ông khám phá con người bằng tính cách cá nhân, qua đạo đức, bằng
ứng xử và hành động, trong mối quan hệ với người khác, với xã hội, với quê hương xứ sở.
Nguyễn Minh Châu đã thực sự gửi tới mọi người ngày ấy và tương lai thông điệp hãy "
tạm ngừng một chút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình "
Trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu viết từ sau năm 1975 có một điều
đặc biệt trong phản ánh con người đó là hình ảnh những con người cô đơn tìm về với thế
giới tâm linh. Tiếp cận và giải mã con người, ông tập trung vào mọi biến đổi trong đời
sống nội tâm con người. Ông cảm nhận đuợc nỗi buồn đau, sự cô đơn trong mỗi cuộc đời,
số phận. Trong hiện thực cuộc sống, con người đang phải gắng nén chịu một cách âm
thầm những phong ba bão táp của cuộc đời. Cuộc sống xô bồ đôi khi không có chỗ cho ta
san sẻ bớt những nổi đau. Một lúc nào đó con người sẽ tìm đến một thế giới khác, khác
với hiện thực mà mình đang sống - thế giới tâm linh. Với Ngyễn Minh Châu ông đã đi
đúng hướng với sự phát triển tâm lí con người. Ông " Thích trình bày những vấn đề đạo
đức xã hội dưới dạng tâm lí, tập trung sự chú ý vào những diễn biến sâu kín mang tính
chất quy luật bên trong của tâm lí con người " [ 28, 112 ].Nguyễn Minh Châu đã thành
công trong việc để con người cô đơn tìm về với thế giới tâm linh. Trong truyện ngắn
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, nhân vật Quì trở thành người đàn bà mộng du
sau khi người trung đoàn trưởng mất, lang thang trên những chuyến tàu tốc hành, trò