BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________
Nguyễn Văn Công NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ
TƯ TƯỞNG VÀ BÚT PHÁP TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU
1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
nước, đất nước ta bước vào một thời kì mới, hòa bình, ổn định nhưng đồng thời cũng đối diện với
nhiều khó khăn thách thức của thời hậu chiến. Cuộc sống mới với nhiều đổi thay đòi hỏi văn học
cũng phải có sự chuyển mình biến đổi để kịp thời đáp ứng những yêu cầu của thời đại. Từ một nền
văn học “chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất
nước” suốt trong những năm tháng chiến tranh từ 1945 đến 1975, văn học Việt Nam sau 1975 đã
từng bước chuyển sang một giai đoạn mới. Đặc biệt kể từ năm 1986, hòa cùng công cuộc đổi mới
của đất nước, văn học Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều phương diện để làm nên
một diện mạo mới cho văn học nước nhà, trong đó sự vận động theo “khuynh hướng dân chủ hóa,
mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc” trở thành một đặc điểm nổi bật.
Trong quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam qua hai giai đoạn nêu trên,
Nguyễn Minh Châu có vinh dự trở thành một trong số ít những nhà văn mà sáng tác đã trở thành
hiện tượng tiêu biểu cho văn học ở cả hai chặng đường. Đến với văn học vào thời điểm mà cả dân
tộc đang dồn sức cho cuộc chiến đấu chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu nhanh chóng khẳng định chỗ
đứng của mình trong lòng bạn đọc qua một loạt tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống chiến tranh và
cách mạng. Những Cửa sông, Dấu chân người lính, Những vùng trời khác nhau… đã góp thêm cho
văn học trước 1975 những trang viết hào sảng về những tháng ngày hào hùng của lịch sử đất nước.
Không chỉ là cây bút văn xuôi có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học thời kì kháng chiến
chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu còn thuộc trong số những người mở đường cho công cuộc đổi mới
văn học Việt Nam sau 1975. Trong cuộc chuyển mình đầy khó khăn của văn học những năm đầu
thời kì đổi mới, bằng một sự “dũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn), ông đã đã từng bước
thay đổi lối nghĩ, lối viết, lặng lẽ nhận lãnh vai trò của một người lính tiên phong trong việc vượt
lên chính mình, tìm một hướng đi mới cho mình và cho cả một nền văn học. Những tập truyện ngắn
của ông ra đời trong những năm 80 của thế kỉ XX đã trở thành một hiện tượng văn học thu hút được
nhiều sự quan tâm của dư luận.
Là nhà văn có quá trình sáng tác tiêu biểu cho sự chuyển mình của văn học Việt Nam qua hai
giai đoạn, 1945 – 1975 và sau 1975, sáng tác của Nguyễn Minh Châu đương nhiên có những chuyển
biến trong tư tưởng và bút pháp. Đó là những chuyển biến như thế nào? Phải chăng có một mối
quan hệ nhân – quả giữa chuyển biến về tư tưởng (nhân) và chuyển biến về bút pháp ( quả) trong
sáng tác của nhà văn này? Việc tìm hiểu và trả lời một cách thỏa đáng những câu hỏi này sẽ giúp ích
nhiều cho nhà nghiên cứu trong việc tìm kiếm sự vận động mang tính qui luật trong sáng tác của
kiến tỏ ra khá thống nhất khi đánh giá về cảm hứng sáng tác và bút pháp của tác giả thể hiện trong
các tác phẩm. Tiêu biểu là ý kiến của Mai Hương trong Lời giới thiệu Nguyễn Minh Châu toàn tập
(Nxb Văn học, H.,2001) : “Suốt trong những năm chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu đã dành trọn vẹn
nửa đời văn của mình đi sâu khám phá, phản ánh những “đề tài sinh tử” trong mảng hiện thực
chiến tranh và người lính cách mạng… Những tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống, như còn sặc
mùi thuốc súng, khói bom…đã phản ánh được khát vọng tinh thần cháy bỏng của của cả dân tộc,
thời đại – khát vọng độc lập, tự do – góp phần tái hiện bức tranh lịch sử hoành tráng của dân tộc
trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại… Những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong chiến tranh
thường nghiêng về vẻ đẹp hào hùng và tươi tắn của cả cộng đồng, nghiêng về những sự kiện vĩ đại,
những người anh hùng và được thể hiện với bút pháp trữ tình đậm đà, giàu chất thơ. Ở đó, cảm
hứng trữ tình hòa nhập, giao thoa nhuần nhị với cảm hứng anh hùng”. Truyện ngắn Mảnh trăng
cuối rừng sáng tác ở giai đoạn này cũng thu hút được nhiều ý kiến giảng bình mà trong đó đa phần
là nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn con người trong chiến tranh và chất thơ trữ tình của thiên truyện.
Đặc biệt, trong những năm 80, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã thu hút được sự quan
tâm sâu rộng từ phía bạn đọc và giới nghiên cứu.
Vào tháng 6 năm 1985, báo Văn nghệ đã tổ chức một cuộc Trao đổi về truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu những năm gần đây. Trong cuộc hội thảo này, có những ý kiến vẫn còn tỏ ra băn khoăn,
nghi ngờ về những tìm tòi đổi mới của ông, cho rằng trong tác phẩm còn có điều gì đó “mung lung”,
“hụt hẫng”, “khó nắm bắt”, “kém đi vẻ chân thực sinh động ”. Nhiều ý kiến khác thì đánh giá cao
những tìm tòi, trăn trở trong ngòi bút của ông, ghi nhận tác phẩm của ông “có nhiều thành tựu, có
nhiều đóng góp rất đáng quý” [58, tr.288-311].
Sau cuộc hội thảo, nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu tiếp tục bàn luận về truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu, dần dần đi tới những thống nhất trong đó có sự khẳng định quá trình đổi mới
tích cực và đầy hiệu quả của ông. Về những tập truyện ra đời trong giai đoạn sau này, có thể kể đến
những ý kiến của Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,...
Trần Đình Sử nhận xét rằng: “Bắt đầu từ truyện ngắn Bức tranh, rồi tập Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành và nay là tập Bến quê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện như là
một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới… Đặc sắc của tập Bến quê chủ yếu là
sự thể nghiệm một hướng trần thuật có chiều sâu…, phát hiện các hiện tượng đời sống trong chiều
sâu triết học và lịch sử, thể hiện nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại với chính mình và với ý thức
huống – thắt nút, tình huống – luận đề [58, tr.313]. Cũng nhìn dưới góc độ thể loại, Phạm Vĩnh Cư
phát hiện ra “những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” [58, tr.346].
Thời gian gần đây, tiếp tục có những ý kiến bàn về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Nguyễn
Trọng Hoàn, trong bài Tiếp tục hành trình đọc Nguyễn Minh Châu [58], đã dành nhiều trang viết về
truyện ngắn của ông và nhìn chung là các ý kiến ở đây khá nhất quán với những nhận định đã có
trước đó.
Trong công trình Truyện ngắn Việt Nam, lịch sử - thi pháp – chân dung do Phan Cự Đệ chủ
biên, in 2007, khi viết về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, người viết đã khái quát lại
trong hai luận điểm lớn. Đó là:
- Xu hướng ôm trùm những thể loại lớn
- Chất luận đề tan hòa vào tình huống và nhân vật
Theo chúng tôi, đây là những gợi mở đáng chú ý, có thể suy nghĩ để nghiên cứu thêm.
Ngoài những bài viết đề cập trực tiếp đến truyện ngắn nêu trên, không thể không nhắc đến
hai chuyên luận nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu là Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
(Nxb KHXH, 2002) của tác giả Tôn Phương Lan và Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn
học Việt Nam sau 1975 (Nxb ĐHSP, H. 2007) của các tác giả Nguyễn Văn Long – Trịnh Thu
Tuyết. Những công trình này, dù có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, nhưng đều dành
nhiều dung lượng cho phần nghiên cứu mảng truyện ngắn.
Cuốn Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu , như tên gọi của nó, không phải là công
trình nghiên cứu chuyên biệt về truyện ngắn, nhưng rõ ràng để khái quát và nhận diện phong cách
nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, không thể không nghiên cứu truyện ngắn. Trong công trình này,
Tôn Phương Lan đã đi vào tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật cũng như quan niệm nghệ thuật về con
người của Nguyễn Minh Châu, tìm hiểu hệ thống nhân vật cũng như nghệ thuật trần thuật, những
đặc điểm về ngôn ngữ và giọng điệu…, từ đó phác họa được những nét cơ bản về phong cách nghệ
thuật của nhà văn.
Cuốn Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 đặt vấn đề
nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong sự vận động của văn xuôi đương đại
(chủ yếu từ 1975 trở đi). Người viết đã cố gắng chỉ ra quá trình vận động đổi mới của sáng tác
Nguyễn Minh Châu, tất nhiên trong đó có cả truyện ngắn, trên ba bình diện:
-Về quá trình đổi mới ý thức nghệ thuật mà trọng tâm là quan niệm nghệ thuật về con người:
thể những đặc trưng của thể loại truyện ngắn như là một vấn đề nghiên cứu chuyên biệt.
Đặt vấn đề nghiên cứu đề tài “Những chuyển biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975”, luận văn muốn đi vào tìm hiểu truyện ngắn của ông dưới góc độ thể
loại, thấy được những nét chuyển biến trong tư tưởng và bút pháp nghệ thuật qua quá trình vận động
và đổi mới suốt chiều dài sự nghiệp sáng tác, đồng thời góp phần hiểu rõ hơn những đặc trưng
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Với định hướng như vậy, trong phạm vi của đề tài, luận văn sẽ tập
trung vào việc xem xét, đối chiếu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn trước
và sau 1975, từ đó làm rõ quá trình vận độn g chuyển đổi về quan niệm nghệ thuật và phương thức
biểu hiện trong truyện ngắn của nhà văn giai đoạn sau 1975 cùng những đóng góp của ông cho văn
học thời kì đổi mới.
Trên cơ sở đào sâu những phát hiện của những nhà nghiên cứu đi trước, luận văn cố gắng hệ
thống hóa và phân tích kĩ một số đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn
sáng tác trước và sau 1975, thấy được những đổi mới trong cách cảm nhận hiện thực và con người,
thấy được cùng với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật là sự thay đổi từ loại hình truyện ngắn sử thi
hóa sang loại hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa, thấy được những đóng góp của nhà văn về phương
diện nghệ thuật biểu hiện cho thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp xã hội học được dùng để làm rõ sự tác động cũng như ảnh hưởng của hoàn
cảnh xã hội đối với quá trình vận động đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau
1975.
Phương pháp loại hình được sử dụng nhằm khảo sát, phân loại và xác định đặc điểm của
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong từng giai đoạn.
Phương pháp hệ thống giúp xác định vị trí truyện ngắn của ông trong tiến trình vận động của
văn xuôi Việt Nam qua hai giai đoạn.
Phương pháp so sánh được dùng như là một phương pháp chủ yếu để thấy được những đổi
mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 so với giai đoạn trước đó.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thi pháp học, tự sự học và các thao tác nghiên
cứu hỗ trợ như thống kê, phân tích, tổng hợp...
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu
1.1.1. Cuộc đời nhà văn Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải, thuộc
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ, Nguyễn Minh Châu đã được tạo điều kiện học hành khá
chu đáo. Học ở quê rồi vào Huế, học tiếp đến năm 1945 thi đỗ bằng Thành Chung. Những năm đầu
cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung học trong vùng kháng chiến.
Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ Tĩnh, Nguyễn
Minh Châu tình nguyện vào quân đội, theo học trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn. Sau đó, Nguyễn
Minh Châu về công tác ở sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học Trường Văn hóa quân đội ở Lạng
Sơn. Từ năm 1962 cho đến khi mất, Nguyễn Minh Châu làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội.
Ông mất ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội.
Vốn là một sĩ quan tham mưu trong quân đội, Nguyễn Minh Châu sống và làm việc trước hết
với tư cách là một người lính, nhưng lại là một người lính viết văn. Cũng như đối với nhiều nhà văn
mặc áo lính cùng thời, công việc sáng tác đòi hỏi người cầm bút phải có nhiều lăn lộn thực tế ở
những nơi đầu sóng ngọn gió, ông đã tham gia nhiều chiến dịch, đã từng trải qua những khó khăn
gian khổ ở rừng Trường Sơn. Hòa bình lập lại, ông cũng đi nhiều nơi, vào thành phố Hồ Chí Minh
rồi trở ra Hà Nội, nhưng có lẽ dải đất miền Trung mới là miền đất để lại cho ông nhiều yêu thương
nhất. Hình ảnh cái làng quê nghèo ven biển miền Trung cứ trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của
ông như một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Những năm cuối đời, ông còn ấp ủ dự định viết một cuốn tiểu
thuyết về cuộc chiến ở thành cổ Quảng Trị, rất tiếc nó không thể hoàn thành vì ông đã đột ngột ra đi
khi đang ở giai đoạn tài năng chín muồi nhất. Sau hơn một năm trời vật lộn với cơn bệnh ung thư
máu hiểm nghèo, ông đã vĩnh viễn chia tay với cuộc đời vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Viện
Quân y 108 Hà Nội.
Những người thân, những người bạn của ông cùng với nhiều người trong giới nghiên cứu
đương thời luôn dành cho ông một sự yêu quý và kính trọng sâu sắc. Họ nhìn thấy ở ông “một sự
dũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn), “một chiến sĩ chiến đấu đến cùng cho điều mình nhận
thức là đúng” (Thái Bá Lợi), với vẻ ngoài “hiền lành, có khi lại còn nhút nhát nữa, nhưng bên trong
dường như có một ngọn lửa, ngọn lửa ấy luôn luôn tạo ra sức nóng ở nơi đầu ngọn bút” (Ngô Vĩnh
Bình)… Đọc những bài viết của họ về ông, ta hình dung ra một Nguyễn Minh Châu thâm trầm lặng
biểu viết về chiến tranh chống Mĩ. Bám sát hiện thực đời sống những năm chiến tranh, các sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trước 1975 (Cửa sông, Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người
lính…) đã cho chúng ta một cái nhìn tương đối trọn vẹn về một thời kì hào hùng của cả dân tộc.
Sau 1975, hiện thực cuộc sống mới đòi hỏi văn học phải có sự nhìn nhận toàn diện và thấu
đáo hơn. Là một nhà văn luôn có ý thức gắn bó với đời sống, nhạy cảm với những đổi thay của thời
cuộc, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những vấn đề mới của đất nước ngay vào thời điểm
chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình. Trong các tiểu thuyết Miền cháy, Những người đi từ
trong rừng ra, Mảnh đất tình yêu…, mảng hiện thực quen thuộc về chiến tranh cách mạng và người
lính vẫn tiếp tục được ông quan tâm nhưng các vấn đề đặt ra trong tác phẩm đã cho thấy ở nhà văn
một cách nhìn khác trước. Ngòi bút nhà văn hướng đến nhiều vấn đề đặt ra ở thời kì hậu chiến như
việc tổ chức lại cuộc sống và làm ăn kinh tế trong thời kì mới, vấn đề giải quyết hậu quả và hàn gắn
những vết thương chiến tranh, vấn đề chống lại những tiêu cực mới nảy sinh trong cuộc sống hôm
nay…
Trước đây, ngay trong những năm tháng chiến đấu chống Mĩ ác liệt, Nguyễn Minh Châu đã
từng băn khoăn : “Ngòi bút của chúng ta sẽ trở nên phản bội người chiến sĩ nếu chỉ biết cái lúc họ
vác súng ra mặt trận với một tâm hồn phơi phới mà không biết cái lúc buồn bã, đau đớn, những lúc
đói rét, những lúc nằm giữa đồng đội chết và bị thương, trong bùn lầy, trong mưa bom bão đạn… ”
[14, tr.190]. Sau chiến tranh, cái nhìn sử thi lí tưởng hóa về con người của văn học một thời tỏ ra
không còn phù hợp khi đối mặt với thực tế bộn bề, phức tạp của cuộc sống thường nhật. Ý thức
hướng tới một thứ văn chương sâu sắc hơn đã trở thành một nhu cầu hết sức bức xúc trong ông, đòi
hỏi ở ông một sự thay đổi quyết liệt hơn. Với tiểu luận “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa” (1987), Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn đề nghị đoạn tuyệt với lối văn chương
minh họa “chỉ quen với công việc cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn”, quyết
tâm chọn cho mình một hướng đi mới, tiếp cận đời sống và con người dưới góc độ nhân bản. Nhà
văn lặng lẽ và kiên trì thực hiện một loạt những cuộc đối chứng lại với quá khứ để nâng tầm tác
phẩm, tạo ra trong tác phẩm của mình một chiều sâu suy nghĩ và nhận thức mới về con người. Ông
muốn tác phẩm văn chương phải làm “hiện lên những mẫu người của xã hội với tất cả da thịt và hơi
thở, với tất cả những mầu vẻ của những mối quan hệ xã hội bên ngoài và những gì đang được giấu
kín và cũng đang giao tranh với nhau ở bên trong: những lý tưởng và dục vọng, trí tuệ và bản năng,
thiện và ác, những phần con người ý thức được và những phần vô thức của con người mà chỉ ngòi
miệt mài cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã vinh dự được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học và nghệ thuật (đợt II, năm 2000).
1.2.1. Truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.2.1.1. Truyện ngắn (khái niệm – đặc trưng – ưu thế thẩm mĩ)
Truyện ngắn hiện đại là một thể loại hết sức quen thuộc và gần gũi nhưng để tìm một định
nghĩa duy nhất, đầy đủ và chính xác về nó thì không dễ. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện
ngắn được xác định như sau: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm
hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn.
Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [23, tr.370]. Mục
Truyện ngắn trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng ghi nhận đây là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ,
thường được viết bằng văn xuôi… Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng…” [1,
tr.345].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhận dạng truyện ngắn trước hết ở dung
lượng và tính chất của nó. “Hình thức tự sự nhỏ, ngắn” trở thành đặc điểm hàng đầu và cũng là dấu
hiệu đầu tiên để người đọc nhận ra diện mạo của truyện ngắn.
Cũng chính do dung lượng ngắn là yếu tố thuộc về bản chất nên khác với các hình thức tự sự
cỡ lớn, truyện ngắn có tính cô đọng, hàm súc cao.
Với dung lượng câu chữ giới hạn, truyện ngắn giúp người đọc có thể tiếp nhận liền mạch
trong một khoảng thời gian ngắn. Đây cũng là thế mạnh của những hình thức tự sự cỡ nhỏ, tỏ ra hết
sức phù hợp với xu thế của thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.
Thông thường, một truyện ngắn có thể kéo dài từ vài ba trang đến mấy chục trang. Số chữ
trung bình trong một truyện ngắn khoảng từ 10.000 đến 12.000 chữ nhưng có thể nhiều hoặc ít hơn.
Trong cuốn Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm, tác giả Lê Huy Bắc có ghi nhận là : “Dung
lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến khoảng 20.000 chữ” [3, tr.28].
Bên cạnh đặc điểm “ngắn”, các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện ngắn ở tính chất giới hạn
trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ thuật mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần
gũi là tiểu thuyết.
Cùng thuộc về loại hình tự sự hư cấu bằng văn xuôi, truyện ngắn và tiểu thuyết tuy gần gũi
nhưng vẫn có những đặc trưng thẩm mĩ khác nhau. Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn ít nhiều bị
hạn hẹp trong khuôn khổ của một không gian, thời gian có tính giới hạn. “Khác với tiểu thuyết là thể
trong một bài viết của mình về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, tuy không phủ nhận những thành
tựu của mảng tiểu thuyết nhưng vẫn cho rằng: “…cái mà nhà văn để lại cho đời lại không phải là
những tác phẩm dài hơi ấy, mà là dăm ba truyện ngắn in rải rác trên báo chí, trong các tập truyện
cuối đời của anh” [58, tr.346]. Đi vào tìm hiểu sự nghiệp sáng tác văn chương của Nguyễn Minh
Châu qua hai giai đoạn, nhất là giai đoạn sau 1975, ta thấy truyện ngắn có một vị trí đặc biệt trên
nhiều bình diện: lượng, chất, nhịp độ chuyển biến, khả năng thể hiện tư tưởng nghệ thuật đáp ứng
tinh thần “tiên phong” trong hoạt động sáng tác của nhà văn,… Khảo sát hành trình đổi mới trong
sáng tác Nguyễn Minh Châu, chỉ cần nhìn vào quá trình sáng tác ở mảng truyện ngắn, ta đã có thể
nhận thấy được một cách rõ nét những chuyển biến trong tư tưởng và bút pháp của nhà văn qua hai
giai đoạn trước và sau 1975, nếu không nói là nổi bật và dễ nhận thấy hơn là ở mảng tiểu thuyết.
Nguyễn Minh Châu mở đầu nghiệp văn của mình bằng một truyện ngắn và kết thúc cũng
bằng một truyện ngắn. Truyện ngắn đầu tay “Sau một buổi tập” của Nguyễn Minh Châu được in
trên tạp chí Văn nghệ quân đội vào năm 1960. Tiếp sau đó là một loạt các truyện ngắn khác cũng
được đăng trên tạp chí này. Theo tài liệu mà người viết có trong tay, tính đến 1975, ông có tất cả 19
truyện ngắn, gồm 7 truyện in trong tập “Những vùng trời khác nhau”, 11 truyện khác đăng trên tạp
chí Văn nghệ quân đội (Xem Phụ lục, Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 5, Nxb Văn học, 2001) và 1
truyện in trong tập “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1983) nhưng thời gian sáng tác là năm
1967 (truyện Mùa hè năm ấy ). Ngoài ra còn phải kể thêm “ Ký sự hai bờ đất” mà tác giả luận văn
cho là có tính chất của một truyện ngắn hơn là một bài kí. Nhìn chung, chất lượng của các truyện
ngắn giai đoạn này không đồng đều. Những truyện ngắn ở giai đoạn đầu như Sau một buổi tập, Con
đường đến trường học, Buổi tập cuối năm…chỉ có tính chất thử nghiệm, chất lượng nghệ thuật chưa
cao. Những truyện hay hơn đã được tuyển chọn vào tập Những vùng trời khác nhau, trong số đó có
Mảnh trăng cuối rừng được xem là truyện hay nhất và cũng tiêu biểu nhất cho cảm hứng và bút
pháp trữ tình, lãng mạn của nhà văn.
Sau 1975, Nguyễn Minh Châu có 23 truyện ngắn, gồm 8 truyện in trong tập “Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành”, 9 truyện in trong tập “Bến quê”, 3 truyện in trong tập “Cỏ lau”, 3 truyện
đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội (Chú chim, Chợ Tết, Sân cỏ Tây Ban Nha – xem Phụ lục,
Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 5).
Điểm qua quá trình sáng tác truyện ngắn của ông, ta có thể nhận thấy số lượng truyện ngắn
Các truyện như Khách ở quê ra, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Phiên chợ Giát… còn như
muốn bao quát thêm nhiều vấn đề có tính lịch sử vào trong cái nhỏ bé của một đời người. Về nội
dung phản ánh, ở các truyện này vấn đề không chỉ là “một lát cắt của đời sống” mà đã có tham vọng
muốn tái hiện diễn tiến của một cuộc đời, một số phận với nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp. Nhà
văn dường như muốn thông qua câu chuyện về một cuộc đời mà gợi lên những vấn đề có tầm vóc
dân tộc, thời đại.
Muôn mặt đời thường đã đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, đem lại cho tác phẩm của
ông sự đóng góp quan trọng trong việc nỗ lực lấp đầy một khoảng trống của văn chương trước đó
bằng cái hằng ngày, bằng những số phận cá nhân trong đời sống cộng đồng. Ông quan niệm: “Con
người vừa dễ hiểu vừa đầy bí ẩn. Chúng ta đào bằng ngòi bút cho đến cùng đáy cái thật chứa đầy bí
ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người đất nước mình thì sẽ gặp con người nhân loại, sẽ gặp cái
nhân bản của nhân loại, con người Việt Nam sẽ giao hòa với nhân loại” [14,tr.144]. Việc tìm tòi,
khám phá, đào sâu vào bản chất con người cũng là con đường để tác phẩm của ông vươn đến tiếp
cận với những giá trị vĩnh hằng của cuộc đời.
Song song với việc mở rộng diện phản ánh dưới một góc nhìn mới, truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu sau 1975 cũng có nhiều thay đổi về bút pháp thể hiện. Quan niệm nghệ thuật về con
người thay đổi tất yếu kéo theo nhiều sự thay đổi về nghệ thuật biểu đạt: từ nhân vật đến cốt truyện,
tình huống, giọng điệu, ngôn ngữ … Một điều đáng ghi nhận nữa là về mặt dung lượng, một số
truyện ngắn sau 1975 có xu hướng mở rộng số trang nhiều hơn thông thường. Có khá nhiều truyện
dài trên 60 trang (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Mùa
trái cóc ở miền Nam, Phiên chợ Giát ), đặc biệt có truyện dài đến cả 100 trang như Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành. Có lẽ vì vậy mà nhiều người đã gọi những truyện này là truyện vừa chứ
không phải truyện ngắn.
Để lí giải cho việc Nguyễn Minh Châu chuyên tâm về thể loại truyện ngắn trong giai đoạn
thập niên 80, ta cần phải nhắc đến ý kiến của ông trong cuộc trao đổi do tuần báo Văn nghệ tổ chức:
“Cái đời sống của ngày hôm nay nó bắt tôi phải quan tâm…, tôi muốn dùng ngòi bút tham gia trợ
lực vào cuộc giao tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong mỗi người…”. Và theo như lời ông nói:
“Mỗi truyện ngắn tôi nêu ra một trường hợp cụ thể và xen vào mạch kể chuyện, tôi bàn bạc về quan
niệm sống hoặc báo động một điều gì” [58, tr.294].
Như vậy, lí do chính nằm ở tính kịp thời và khả năng tác động mạnh mẽ của truyện ngắn
và nhìn thẳng vào sự thật. Không khí dân chủ được đề cao hơn.
Văn xuôi tiếp tục khởi sắc với nhiều tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao như Thời xa
vắng của Lê Lựu, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp…Tiếp tục
hướng đi đã được khai mở ở chặng trước, nhiều cây bút đã đi vào “thể hiện mọi khía cạnh của đời
sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phồn tạp mà vĩnh hằng”
[45, tr.12]. Hiện thực đời sống được khám phá trên nhiều phương diện, nhất là đời sống nội tâm con
người với những trăn trở, khát vọng thầm kín mà trước đây văn học thời chiến tranh chưa có điều
kiện nói đến. Tinh thần nhân văn, ý thức cá nhân đã trở thành cảm hứng sáng tạo cho các văn nghệ
sĩ.
Cùng với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật, các nhà văn đã có nhiều tìm tòi đổi mới về những
phương diện nghệ thuật. Văn xuôi có nhiều đổi mới về nghệ thuật tự sự, từ sự thay đổi điểm nhìn
trần thuật đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, sử dụng các thủ pháp độc thoại nội tâm và dòng ý thức,
tính đa thanh, đa giọng điệu…
Nhìn chung, văn học Việt Nam từ sau 1975 trong đó có văn xuôi đã vận động theo khuynh
hướng dân chủ hóa, đổi mới các quan niệm về văn học, quan niệm nghệ thuật về con người, phát
huy cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn với những tìm tòi, thể nghiệm mới về
nghệ thuật.
1.2.2.2. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu: từ loại hình truyện ngắn sử thi hóa sang loại
hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa có tính tổng hợp cao
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về phân loại truyện ngắn. Dựa vào tiêu
chí phân loại là tư duy nghệ thuật, có thể chia truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975
theo các loại hình truyện ngắn sử thi hóa và loại hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa.
Khảo sát sơ bộ về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong quá trình sáng tác, có thể thấy trong
giai đoạn đầu, truyện ngắn của ông được sáng tác theo hướng sử thi hóa, chuyển sang giai đoạn sau
1975 là những truyện ngắn được sáng tác theo hướng tiểu thuyết hóa.
Cũng như nhiều sáng tác của giai đoạn 1945 – 1975, một giai đoạn mà văn học “có đặc điểm
gần gũi và mang “tính tương đồng” về chất liệu và nội dung phản ánh hiện thực” [19, tr.314],
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu mang đậm tính chất sử thi trên nhiều phương diện.
Nói đến truyện ngắn sử thi hóa không phải là muốn đề cập đến quy mô sử thi của tác phẩm
ngoài những vấn đề được quan tâm hàng đầu của cả đất nước lúc bấy giờ.
Qua những câu chuyện dù bình thường hay bất ngờ, đầy kịch tính, cái đích cuối cùng vẫn là
biểu dương vẻ đẹp của con người sống hết mình cho lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Các nhân
vật như Nguyệt, Lãm (Mảnh trăng cuối rừng), Sơn, Lê (Những vùng trời khác nhau), Ngạn (Nguồn
suối),…được xây dựng như là những biểu tượng cho vẻ đẹp của con người thời đại. Họ đều là
những con người giàu lòng yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng. Cuộc đời riêng của họ hòa vào cuộc
đời chung của dân tộc. Những suy nghĩ riêng tư của họ nếu có thì cũng hướng về cái chung, vì lợi
ích của tập thể, của số đông. Những câu chuyện của họ cũng là của nhiều người, bên cạnh họ luôn
có sự hiện diện của tổ chức, của đồng đội, của nhân dân sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ. Tính cách của
nhân vật vì vậy có tính nhất quán, được khai thác chủ yếu ở các khía cạnh tích cực. Nhà văn dùng
những lời lẽ hết sức trân trọng để ca ngợi vẻ đẹp của họ. Giọng điệu chính trong tác phẩm là giọng
ngợi ca, tự hào, khẳng định.
Trong những truyện ngắn sử thi này, chiều hướng vận động của cốt truyện nhìn chung đều
phát triển theo mô hình đơn nhất. Số phận của nhân vật thường trải qua những biến cố bất lợi ban
đầu nhưng cuối cùng đều kết thúc trong thắng lợi hoặc tạo ra một niềm tin lạc quan về sự chiến
thắng. Chính điều này cũng góp phần tạo nên âm hưởng lãng mạn hào hùng cho hầu hết các tác
phẩm.
Một điều đáng lưu ý là bên cạnh những truyện ngắn đậm chất sử thi được đánh giá cao như
Mảnh trăng cuối rừng, ở một số truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn này còn xuất hiện màu
sắc đời tư rõ nét. Ở các truyện như Chuyện đại đội, Lá thư vui, Đất rừng, chất đời tư thể hiện qua
những chi tiết gần gũi ấm áp tình người, những cảm xúc cùng sự quan tâm mà con người dành cho
nhau. Đấy là những chi tiết xoay quanh sự ra đời của chú nghé con trong doanh trại của một đại đội,
chi tiết về những giây phút hồi hộp đầy thương yêu của cô trò lớp mẫu giáo khi nhận được nhhững
bức thư từ tiền tuyến, chi tiết về cảnh ngộ éo le trước khi lên công trường khai hoang của cô Ngàn
trong Đất rừng. Chất đời tư trong những tác phẩm này một mặt có tác dụng điểm xuyết để câu
chuyện thêm sinh động, mặt khác làm cho chất sử thi trong truyện mang một nét mới không còn
giống với đặc điểm sử thi truyền thống. Riêng trong truyện Đất quê ta, cách nhìn cùng vấn đề mà
tác giả đặt ra hoàn toàn khác các tác phẩm vừa nêu. Qua câu chuyện về cô diễn viên điện ảnh tên
Hương mải mê chạy theo những ảo ảnh phù hoa để rồi gia đình tan vỡ, tác giả muốn đặt ra vấn đề
về sự tha hóa trong nhân cách con người, sự lựa chọn của mỗi người để đem lại hạnh phúc cho mình
trong của nhân vật với nhiều suy tư ngẫm ngợi về bản thân và cuộc đời. Nhân vật không còn là
những mô hình trùng lặp mà trở nên sinh động hơn trong tính toàn vẹn chỉnh thể của nó và cũng
chính vì vậy mà không hề đơn giản dễ hiểu. Các nhân vật như Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành), lão Khúng (Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát) sẽ còn tiếp tục làm nhiều thế hệ người đọc
phải tranh luận mà không dễ đi đến những thống nhất. Trong cái nhìn không còn bị ngăn cách bởi
những quan niệm, định kiến cũ kĩ, nhà văn nhìn thấy trong mỗi con người là một thế giới riêng với
biết bao điều vừa giản dị vừa phức tạp, vừa tầm thường vừa hết sức cao thượng, đẹp đẽ.
Bên cạnh sự chuyển đổi từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau 1975 còn có xu hướng tổng hợp vào bản thân mình đặc điểm của các thể loại khác. Có thể
gọi đây là xu hướng phức thể hóa, tức là ngoài những yếu tố thuộc về bản chất của thể loại, truyện
ngắn còn pha trộn thêm các yếu tố của tiểu thuyết, trữ tình, kịch…
Rõ nét nhất là sự pha trộn với chất tiểu thuyết mà biểu hiện trước hết là sự nới rộng về kích
thước và phạm vi phản ánh. Phạm vi cuộc sống được phản ánh không còn bó hẹp trong một không
gian, thời gian giới hạn. Dung lượng truyện nở rộng cho phép tái hiện không chỉ là một khoảnh khắc
của đời sống mà còn là câu chuyện về một đời người, một thế hệ, một dòng họ…
Lấy Phiên chợ Giát làm ví dụ. Đọc truyện này ta dễ dàng nhận thấy nó không đơn giản chỉ là
một “lát cắt” của cuộc đời, mà là một cuộc đời thật sự, vắt mình qua nhiều giai đoạn của lịch sử đất
nước. Nhiều vấn đề có ý nghĩa tầm cỡ đã được gợi lên từ câu chuyện của một gia đình nông dân,
không chỉ là chuyện một đời, một người mà còn là chuyện của một thời, một đất nước. Tuy nhiên,
tác phẩm này không là tiểu thuyết mà vẫn là một truyện ngắn nhờ vào cách tổ chức có tính dụng ý
của tác giả. Nội dung câu chuyện có thể mở ra nhiều chiều kích đa dạng nhưng vẫn được khéo léo
khuôn vào trong một tình huống cụ thể – cái tình huống của hành trình giải thoát cho con Khoang
đen chợt nảy lên trong suy nghĩ bất chợt của lão Khúng có được từ những giấc mơ đầy ám ảnh. Và
khi gấp sách lại, người đọc vẫn không thể nào dứt bỏ khỏi tâm trí mình hình ảnh cái giây phút trớ
trêu khi người chủ và con bò nhìn nhau ảo não, phiền muộn. Chính tình huống truyện và cái ấn
tượng mạnh mẽ mà nó đem lại đã đảm bảo cái chất “ngắn” cho thiên truyện. Nói cách khác, truyện
mang trong mình cái tham vọng của tiểu thuyết muốn khái quát cuộc đời ở một tầm vóc lớn lao hơn
nhưng về cấu trúc vẫn có tính chặt chẽ của một truyện ngắn.
Tầm khái quát được nâng lên một mặt đòi hỏi truyện ngắn phải tăng cường độ nén để có thể
ôm chứa được nhiều đề tài, chủ đề, đặt ra nhiều vấn đề về các phạm trù đạo đức, lí tưởng, thân phận
Nguyễn Minh Châu thuộc vào số những nhà văn mà trong hành trình sáng tác của mình, gắn
với sự đổi thay của đất nước qua từng giai đoạn, đều có những tác phẩm xuất sắc nói lên được
những vấn đề của thời cuộc. Sự chuyển đổi từ loại hình truyện ngắn sử thi hóa sang loại hình truyện
ngắn tiểu thuyết hóa, phức thể hóa trong sự nghiệp sáng tác của ông dường như là một sự vận động
tất yếu để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Vấn đề đáng nói là ở Nguyễn Minh Châu, sự vận động
chuyển đổi đó diễn ra quyết liệt và đúng vào thời điểm mà văn học rất cần một tiếng nói tiên phong
để cất lên giọng điệu đổi mới, thay đổi cái giọng đồng ca mà một thời rất cần thiết nhưng nay đã đến
lúc không thể giữ nguyên như cũ.