LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn khoa học, nhiệt tình của cô giáo,
Thạc sĩ Mai Thị Chín cùng các Thầy, Cô giáo tổ Văn học Việt Nam, sự quan
tâm và tạo điều kiện thuận lợi của Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn trường Đại
học Tây Bắc, của các phòng, Ban chức năng và tập thể các bạn sinh viên lớp
K51- Đại học sư phạm Văn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình
hoàn thành khoá luận này.
Em xin chân thành cam ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Ngƣời thực hiện
Trần Thị Thanh Nga
2.3 Con người với những tác đông của hoàn cảnh sống 40
2.3 Con người trong sự đối diện với chính mình 46
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Con người trong cái nhìn thế sự, cái
nhìn đời tư qua một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 vì
những lí do sau:
1.1 Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn lớn của nền văn học
Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỉ XX. Ông là một cây bút đầy tài năng, có trách
nhiệm, luôn trăn trở trong lao động, sáng tạo. Những sáng tác của ông là một
chỉnh thể nghệ thuật thống nhất của một quá trình liên tục đổi mới. Sáng tác của
Nguyễn Minh Châu được chia thành hai giai đoạn trước năm 1975 và sau năm
1975. Về những sáng tác ở giai đoạn đầu của Nguyễn Minh Châu, ông đã thử
sức mình qua các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và cũng đạt được những
những bước đi chắc chắn của một cây bút trẻ trưởng thành trong kháng chiến
chống Mĩ. Nhưng sự nghiệp sáng tác cuả Nguyễn Minh Châu nếu nói là đạt
được những thành công lớn trên bước đường nghệ thuật thì phải kể đến những
sáng tác giai đoạn sau 1975 của ông. Đó là những bước tiến mới về tư duy
nghệ thuật, giúp ông trở thành cây bút tiên phong mở đường tinh anh và tài
hoa sau này.
Trên chặng đường ba mươi năm kháng chiến chống đế quốc xâm lược (
1945 _ 1975), Nguyễn Minh Châu đã có mười năm tham gia trong quân ngũ với
tư cách vừa là một người lính vừa là một nhà văn. Và chính mười năm đó là cái
nền, cái cơ sở vững chắc làm nên phẩm chất người lính cũng như phong cách
của một nhà văn trong con người Nguyễn Minh Châu. Nguyễn Minh Châu có
Những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ra mắt bạn đọc ở đầu những
năm 1980 thực sự là những tìm tòi mới, với cái nhìn mới về hiện thực và con
người, khiến Nguyễn Minh Châu trở thành một trong những con người mở
đường tinh anh và tài năng nhất của công cuộc đổi mới văn học. Vì vậy việc
nghiên cứu đề tài này cũng không ngoài mục đích góp thêm một tiếng nói, một
cách nhìn mới nhằm hoàn thiện hơn việc tìm hiểu, khẳng định vai trò và những
đóng góp của Nguyễn Minh Châu trong nền văn học nước nhà.
1.2 Khi bị ảnh hưởng bởi một khuynh hướng hay tư tưởng nào đó thì thật
khó có thể quên nó đi để tiếp nhận một luồng tư tưởng mới với những đổi thay
của thời đại trong một thời gian ngắn. Bởi vì quanh quẩn đâu đó nó vẫn còn chút
ám ảnh, chút dư âm đeo bám trong mỗi con người và nếu không có một định
hướng cũng như một quyết tâm cao thì con người ta sẽ dễ rơi vào sự lạc lối, bế
3
tắc trước những sự thay đổi lớn lao đó. Bước ra từ nền văn học cách mạng với
mục đích phục vụ kháng chiến dưới sự định hướng của Đảng, đã có không ít
những nhà văn đã rơi vào sự bế tắc về cảm hứng, không thích nghi kịp với sự
chuyển mình của đất nước ở thời bình. Là một nhà văn nhạy cảm với những biến
đổi của đời sống xã hội, và là một người trăn trở với những vấn đề của cuộc
sống, nhất là những vấn đề mà Nguyễn Minh Châu đã ghi chép lại ở cuốn sổ tay
trong thời gian chiến đấu thì thời gian này Nguyễn Minh Châu có dịp để trải
lòng mình, để thể hiện và chia sẻ cùng công chúng. Các tác phẩm của Nguyễn
Minh Châu mang nhiều ý nghĩa nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc, chính điều
này đã làm nên sức sống mới của các tác phẩm. Là một sinh viên khoa văn, tôi
thấy mình cần phải học tập ở nhà văn rất nhiều điều, đó là cách nhìn nhận về
cuộc sống, về con người, về văn học, về những điều xảy ra xung quanh chúng ta,
cũng như cách đánh giá và nhất là về quan niệm sống và lòng nhiệt huyết yêu
nghề. Đó chính là lí do thứ hai và cũng là lí do quan trọng nhất để tôi quyết định
làm đề tài: Con người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua một số truyện
ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975.
2.1.1.Trong Cuộc trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của
Nguyễn Minh Châu (do tuần báo Văn nghệ tổ chức tháng 6 năm 1985), Bùi Hiển
cho rằng truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 là: “Sự tìm tòi, khám
phá về nội tâm, về tính cách về hình ảnh cuộc sống, về ý nghĩa cuộc đời theo
một hướng có vẻ phức tạp hơn”[8,241].Cùng chung sự đánh giá đó Tô Hoài
viết: “Những cái tưởng như bình thường, lặt vặt trong cuộc sống hằng ngày
dưới con mắt và ngòi bút Nguyễn Minh Châu đều trở thành những gợi ý và có
tầm triết lí”[8,245]. Qủa thực Tô Hoài đã có cái nhìn chính xác về các truyện
ngắn của Nguyễn Minh Châu: từ những cái rất nhỏ bé trong cuộc sống hằng
ngày, nhiều khi là rất nhỏ, rất đời thường. Nguyễn Minh Châu đã nêu được
những vấn đề có sức ám ảnh.
2.1.2. Tác giả Võ Hồng Ngọc trong bài viết Mảnh đất tình yêu - sự tiếp
nối của những câu chuyện tình đời đã chỉ ra rằng: Truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau năm 1975 là sự mở đường, phát ra một lối đi mới vào cái thực tại phức
tạp của đời sống, lối viết giản đơn minh hoạ một chiều không còn đáp ứng được
nhu cầu nữa: “Có thể coi hai truyện ngắn trước đó “Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành”, “Bến quê” và nay là “Mảnh đất tình yêu” là những nhát cuốc
mở đường, phát ra một lối đi mới vào cái thực tại phức tạp đầy biến động của
cuộc sống hôm nay. Những tác phẩm này thể hiện những dấu hiệu nói lên sự
chuyển mình của văn học ta hiện nay, khuynh hướng dân chủ hoá, nhân bản hoá
5
ý thức nghệ thuật, phá vỡ thi pháp cổ điển truyền thống đang ngăn cản văn học
tiếp cận với đời sống”[8,109].
2.1.3. Nguyễn Văn Hạnh trong bài “Nguyễn Minh Châu những năm 80
và sự đổi mới cách nhìn về con người” đã nhận xét về cái nhìn đa chiều trong
sáng tác của Nguyễn Minh Châu, nhà văn không nhìn con người bằng một
cách, một chiều, đơn giản mà là cuộc sống phức tạp: “Nguyễn Minh Châu
không thi vị hoá cuộc sống, không nhìn cuộc sống một chiều, dễ dài. Cuối
cùng anh hiểu cuộc sống bao giờ cũng vậy có cả ánh sáng và bóng tối, có cả
với bản thân, Nguyễn Minh Châu đã chọn chỗ đứng bình đẳng với nhân vật để
cho nhân vật nói lên tiếng nói thật của mình. Thật khó phân biệt đâu là giọng
điệu của tác giả, đâu là giọng điệu của các nhân vật. Cuộc đối thoại nội tâm đã
mang tính chất một cuộc đối thoại với nhiều giọng điệu, khi thì mỉa mai, giễu
cợt khi thì đanh thép nhưng nổi bật lên là giọng điệu khắc khoải thâm trầm của
một tâm hồn bị nỗi đau tinh thần giằng xé”[8,278]
Đó là những nhận xét, đánh giá rất có ý nghĩa và chính xác đầy tính
thuyết phục về nhà văn Nguyễn Minh Châu. Sự nghiệp văn học của nhà văn
Nguyễn Minh Châu thực sự đã gợi ra nhiều điều lí thú, qua thời gian càng ngày
càng được đông đảo độc giả quan tâm và nghiên cứu. Trên cơ sở kế thừa những
kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước tôi chọn nghiên cứu đề tài “Con
người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua một số truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu sau năm 1975” đây là một hướng đi mới mẻ giúp người đọc hiểu
sâu sắc hơn về một nội dung trong sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ làm sáng tỏ một cách đầy đủ hơn về con người trong
cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua những truyện ngắn sáng tác sau năm 1975
của Nguyễn Minh Châu. Cụ thể là con người trong hiện thực cuộc sống phức tạp
thời bình.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là con người trong cái nhìn đời tư
và cái nhìn thế sự qua những truyện ngắn sáng tác sau năm 1975 của Nguyễn
Minh Châu.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Những sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975, cụ thể là 18
truyện ngắn. 7
8
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các tác
phẩm của Nguyễn Minh Châu, khóa luận gồm hai chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung
- Chương 2: Con người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua một số
truyện ngắn sáng tác sau 1975 của Nguyễn Minh Châu.
9
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
10
Vĩnh Linh, cầu Hiền Lương. Năm 1972 được Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp
làm hội viên.
Năm 1973 Nguyễn Minh Châu được phong Đại úy. Dự trao trả tù binh ở
sông Thạch Hãn. Năm 1974, là một thành viên trong đoàn nhà văn Việt Nam đi
thăm Hungari. Năm 1975 từ tháng 2 đến tháng 6 đi Quảng Bình, Quảng Trị,
Huế, Sài Gòn, Hà Nội, đồng bằng Sông Cửu Long, đến tháng 10 đi Cửa Việt (
Quảng Trị).
Liên tục từ 1979 đến năm 1981, ông được Ban chấp hành Trung ương
Đoàn tặng bằng khen và huy hiệu Vì thế hệ trẻ, được phong Trung tá. Năm 1983
là đại biểu chính thức dự đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 3 tại Hà Nội, trúng
cử vào Ban chấp hành Hội khóa III. Năm 1984 được tặng huân chương Quân
công hạng Ba và Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.
Năm 1985 ông đi Quảng Trị, Nghệ Tĩnh. Tháng 6 năm 1986 đi Liên Xô
dự Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ VIII, cùng năm được phong Đaị tá Cùng
năm này ông phát hiện bệnh ung thư máu. Ngày 23 - 1- 1989 ông mất tại viện
Quân y 108_ Hà Nội.
1.1.2 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu rất phong phú bao gồm nhiều
thể loại khác nhau:
Về truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu đã xuất bản bốn tập truyện ngắn:
- Những vùng trời khác nhau ( Nxb Văn học, 1970).
- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nxb Tác phẩm mới, 1938).
- Bến quê (Nxb Tác phẩm mới, 1985).
- Chiêc thuyền ngoài xa (Nxb Tác phẩm mới, 1987).
- Cỏ lau (Nxb Văn học, 1989).
Về tiểu thuyết, Nguyễn Minh Châu đã có nhiều tác phẩm thành công và
có giá trị như:
- Cửa sông (Nxb Văn học, 1967).
- Dấu chân người lính (Nxb Thanh niên , 1972).
sâu mới. Ngòi bút Nguyễn Minh Châu đi sâu khám phá toàn bộ đời sống và con
người trong tính xù xì, phức tạp của nó. Đồng thời, quan niệm về hiện thực ở
Nguyễn Minh Châu cũng luôn gắn liền với nền tảng tinh thần nhân bản: "Văn
học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người" (Trả
lời phỏng vấn báo Văn nghệ đầu xuân 1987).
- Càng ngày, Nguyễn Minh Châu càng tha thiết với sứ mệnh của văn
chương và nhà văn trong mục tiêu cao cả vì con người. Ông viết: " Nhà văn tồn
12
tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc
cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con
người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và
đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà
văn tồn tại trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực"
( Ngồi buồn viết mà chơi). Để làm được điều đó, phẩm chất đầu tiên cần có của
một người viết văn là tình yêu thương con người: " Tình yêu này của người nghệ
sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn khắc khoải, một
mối hoài quan thường trực về số phận hạnh phúc của những người chung quanh
mình. Cầm giữ cái tình yêu ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông
sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua
những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống" (Trả lời
phỏng vấn của báo Văn nghệ đầu xuân 1986). Nhà văn có trọng trách của nhà
văn hóa: " Chúng ta có nhiệm vụ chăm chút, gìn giữ cho đất nước những cái gì
thật lâu đời, bền chặt mà cũng thật là mỏng manh: tính thật thà, hồn hậu, niềm
tin nền phong hóa nhân bản ".
Điều đáng chú ý là ở Nguyễn Minh Châu giữa những quan niệm, nhận
thức được phát biểu trực tiếp với tác phẩm luôn có sự thống nhất, quá trình sáng
tác cũng là quá trình nhà văn tự tìm kiếm và xác định ngày càng toàn diện và sâu
sắc quan niệm nghệ thuật của mình.
1.2 Sự thể hiện con ngƣời trong văn học Việt Nam trƣớc 1975
người như không hề có cảm giác về riêng bản thân mình, không thể hiện những
đặc điểm, cá tính, không thấy mình trong hoàn cảnh đang tồn tại, không có nhu
cầu, đòi hỏi cho riêng mình. Con người hoặc được thể hiện như đại diện phát
ngôn cho ý thức của cả một lớp người hoặc như hoà tan vào tập thể, bình đẳng
với mọi người trong những hoạt động vì nghĩa lớn, vì lí tưởng chung. Nhà văn
thường quan sát và miêu tả tập thể người. Cũng nhiều khi tác giả chú ý tái hiện
và tái tạo trong tác phẩm những con người cụ thể, nhưng không phải để kể về
những số phận con người, mà để khắc hoạ những trạng thái, những khía cạnh
nội dung của cuộc sống xã hội, của ý thức giai cấp, ý thức dân tộc. Theo dòng
chảy của cuộc sống trong các bước phát triển của văn học, trong ba mươi năm
truyện ngắn, con người hiện lên với nhiều dáng vẻ khác nhau.
Viết về cuộc sống của dân tộc những ngày sát trước cách mạng, truyện
ngắn muốn thể hiện khả năng phản ánh khái quát của mình qua nhân vật sống
cuộc sống quằn quại của người dân nghèo đói, đau khổ, cất tiếng nói phẫn nộ,
14
phê phán chế độ thực dân, phát xít, đòi quyền sống. Thảm hoạ đói 1945 trong
đời sống dân tộc cũng được ghi đậm trong Vợ nhặt của Kim Lân, Lột xác của
Nguyễn Tuân… Anh Tràng có thể khác người ở việc lấy vợ, nhưng cả câu
chuyện ấy cũng tồn tại trong cái khung cảnh nghèo đói chung của không chỉ
xóm ngụ cư, mà của cả bao nhiêu miền vùng đất nước. Còn nhân vật Nguyễn
vốn chỉ biết đến những cảm giác riêng của mình, những người này cũng đã
hướng về lấy cái trạng thái sống chung của đời sống nhân loại, cũng thấy mình
chỉ là một cuộc đời chung, khi cần cũng sẽ xử sự hệt như mọi người: “Chỉ có
cách là lại sống với nó bằng cái lối bồi đắp thêm mãi vào cho mình, cho nhân
loại để rồi một ngày nào đó nhân loại điều khiển hẳn được nó. Mỗi người, mỗi
thế kỉ góp vào (…) nếu có phải đi ăn mày mà sống, mà tìm mà chờ sự sống,
chàng sẽ làm đúng như người ăn xin cho đến phải chết đói kia, chứ không khi
nào cầu cạnh đến sự tự vẫn nữa” (Lột xác).Kiểu nhân vật như Xan, như người
ăn mày, như Tràng, Nguyễn … chủ yếu được nhìn nhận và miêu tả từ góc độ
Tnú là tình tiết chính và cũng là cốt lõi trong cuộc nổi dậy của buôn làng. Tnú
tham gia cách mạng nhưng không may bị địch bắt. Kẻ thù tra tấn dã man, giết
chết vợ con anh và chúng đã dùng đến nhựa cây xà nu đốt cháy cả mười ngón
tay anh hòng dập tắt ý chí cách mạng và tinh thần đấu tranh của dân làng.
Nhưng sự tàn bạo của quân giặc chỉ càng làm bùng lên ngọn lửa căm thù và sức
phản kháng dữ dội của dân làng. Tnú là nhân vật kết tinh được những vẻ đẹp
tiêu biểu nhất của con người Tây Nguyên: gan góc, dũng cảm, mạnh mẽ và rất
giàu lòng yêu thương. Lời của cụ Mết âm vang bên bếp lửa nhà rông trong một
đêm thiêng nghe như lời phán truyền của lịch sử: “Tnú không cứu được vợ con
…Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì chúng
nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng …Nghe rõ chưa, các con, rõ
chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rùi, bay còn sống phải nói lại cho con
cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”. Có lẽ không thể tìm đâu ra
cách diễn đạt chính xác, thiết tha, cô đúc hơn những lời này để tổng kết lại câu
truyện về cuộc đời Tnú, cuộc đời riêng của một con người nhưng có ý nghĩa
điển hình cho số phận và con đường cách mạng tất yếu ở miền Nam trong phong
trào đồng khởi.
Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt ba mươi năm, vấn đề dân
tộc luôn nổi lên hàng đầu. Do vậy, văn học không thể là tiếng nói riêng của cá
nhân mà tất yếu phải là tiếng nói của cả cộng đồng, của toàn nhân vật. Vì vậy
mà tính cách của con người được nói đến đều mang tính tiêu biểu, đại diện cho
16
phẩm chất và tính cách của cả một dân tộc, một đất nước. Con người hiện lên
với những điều tốt đẹp: chiến tranh dù tàn khốc, khó khăn, hi sinh chồng chất
nhưng vẫn tràn đầy tin tưởng, lạc quan, tươi vui, chung một niềm mơ ước vươn
tới tương lai những người chiến sĩ anh hùng, bất khuất, dũng cảm, có lí tưởng
sống cao đẹp. Sau cách mạng tháng tám, mối quan hệ cá nhân – cộng đồng trong
cuộc sống không phải là mối quan hệ đối lập, không phải chỉ được xử lí trên tinh
thần “vô thức tập thể”, mà tuỳ thuộc vào sự giác ngộ, nhận thức của mỗi người
Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ về điều này. Giây phút anh
nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau.
Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong
rừng, Anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm
xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh. Bản thân cốt truyện của
đoạn trích Chiếc lược ngà đã có giá trị tố cáo tội ác chiến tranh đối với cuộc
sống con người. Cha con tám năm trời không gặp nhau là do chiến tranh. Vết
thẹo làm biến dạng khuôn mặt anh Sáu, khiến con bé không nhận ra ba là do
chiến tranh. Và thật đau xót, người cha chưa kịp trao cho đứa con hết mực yêu
thương của mình kỉ vật như lời hứa thì chiến tranh đã cướp đi sinh mạng anh.
Tuy nhiên, cái mà tác giả tập trung thể hiện là những con người, là nhân vật.
Những con người anh dũng, chịu đựng nỗi đau riêng mà hướng đến sự nghiệp
chung của đất nước, sẵn sàng hi sinh để đất nước được vẹn toàn.
Trong hoàn cảnh chiến tranh giữ nước và giải phóng dân tộc, sức mạnh
của tinh thần yêu nước và ý thức của cộng đồng đã phát huy cao độ. Cuộc sống
cá nhân, riêng tư của mỗi người phải thu hẹp lại đến tối thiểu, nhường chỗ cho
đời sống chung của tập thể, của cả dân tộc. Con người được nhìn nhận đánh giá
trước hết và chủ yếu ở tư cách con người của dân tộc, của nhân dân, của cách
mạng. Đó là thời kì theo cách nói của Chế Lan Viên: “Những năm đất nước có
chung tâm hồn, có chung khuôn mặt, nụ cười đưa tiễn con, nghìn bà mẹ như
nhau”.Chính vì hoàn cảnh chiến tranh, cả đất nước đều hướng về một mục tiêu
chung là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nên con người phải hi sinh
những cái gì là riêng tư để hòa mình vào cái chung cao cả, vào cái trách nhiệm
trọng đại của người công dân với đất nước mình.
1.3 Sự thể hiện con ngƣời trong văn học Việt Nam sau 1975
Sau 1975, nhất là trong mười năm đầu sau giải phóng đất nước chuyển
đổi trên nhiều phương diện trong đó có đời sống văn hoá, tư tưởng. Chiến tranh
kết thúc, văn học cựa mình thay đổi, sau Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI với xu hướng đổi mới trên mọi bình diện và tiếp theo nghị quyết 05
tăm, hạnh phúc - khổ đau, tự nhiên - xã hội. Ở đó con người đứng trên ranh giới
nhỏ nhoi, nếu không khéo sẽ bị nghiêng về phía con người tự nhiên, ngược lại
con người sẽ hướng về phía con người xã hội. Đò ơi của Nguyễn Quang Lập,
19
Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo Với truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn
Ngọc Tư khiến cho người đọc phải xót xa vì sự tan vỡ của một gia đình bé nhỏ
trên cánh đồng bất tận là cuộc đời rộng mênh mông. Đó là câu chuyện về cuộc
sống lênh đênh sông nước “theo vịt chạy đồng” của ba cha con ông Tư và hai
đứa trẻ Điền, Nương thiếu vắng tình thương của người mẹ và cuộc đời của
người phụ nữ Sương. Những mảnh đời không lành lặn trôi dạt nay đây mai đó
theo con nước bị số phận run rủi gặp nhau, tưởng rằng đã có thể nương tựa lẫn
nhau nhưng lại không thể ghép thành một gia đình trọn vẹn vì những mặc cảm
cá nhân và trái ngang của số phận. Cánh đồng ở đây là cuộc đời, là cõi nhân gian
bất tận những vui buồn, hạnh phúc và hy vọng của kiếp người. Sự tan vỡ của gia
đình bé nhỏ trong tác phẩm này là tất yếu sau sai lầm của người mẹ và sự mê
đắm vào việc trả thù của người cha. Hai nhân vật đứa trẻ trong tác phẩm như là
những nạn nhân, lớn lên tự nhiên như đàn vịt, thiếu thốn sự quan tâm và những
cử chỉ trìu mến của người thân. Điều đó đã lay động trái tim hàng nghìn độc giả.
Trong cuộc sống, ai cũng có thể gặp sai lầm. Nguyễn Ngọc Tư đã đặt ra
vấn đề về cách cứu vớt, về hậu quả của việc lấy cái ác để trả ác. Tác phẩm đưa
ra thông điệp, trước lỗi lầm, người ta chỉ có thể cứu vớt được bằng sự khoan
dung, tha thứ, lấy ân trả oán…Từ câu chuyện về gia đình và cách ứng xử của
con người, Nguyễn Ngọc Tư miêu tả sự đau đớn, vật vã của kiếp người bằng tất
cả tình yêu thương con người. Dòng chảy của chủ nghĩa nhân văn này đã có sức
cuốn hút sâu sắc đến bạn đọc mọi tầng lớp. Tác phẩm phải có được những giá trị
nhất định thì mới được bạn đọc yêu mến đến như thế chứ.
Nguyễn Minh Châu, nhà văn quân đội, người từ trong cuộc chiến đi ra,
một trong những tác giả tiên phong thay đổi quan niệm về con người. Ông
không còn nhìn con người một chiều mà nhìn con người trong nhiều mối quan
vật đều gây nên những suy ngẫm cho người đọc. Như lời ông Bống: “ Cả làng
cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là đồ khốn
nạn. Chỉ có chị gọi em là người”. Đặc biệt nhất là các lời thoại của bác sĩ Thuỷ,
vợ Thuân - con trai ông Tướng về hưu đóng vai trò người kể chuyện, chúng cộc
lốc, nhưng có uy rõ ràng. Lời nói cộc lốc của Thuỷ, cùng những chi tiết gom
nhau thai nhi về nuôi chó, nuôi lợn, sự tính toán rành mạch, sát sao, rồi ngăn ao
tát nước tìm của… cho thấy, hình ảnh người trí thức lúc giao thời chuyển sang
cơ chế thị trường vô cảm làm sao. Đặt sự khôn khéo, ma mãnh của Thuỷ bên
cạnh sự nhu nhược của Thuân – một tiến sĩ Vật lý, với “sự cả tin”, hiền lành
của Lài, chân chỉ của ông Cơ và phàm phu, tục tử như cha con ông Bổng trong
truyện mà không tạo thành mớ bòng bong là tài của Nguyễn Huy Thiệp.
21
Hay trong truyện ngắn Một người Hà Nội, của Nguyễn Khải cũng đã cho
thấy sự thay đổi cách nhìn về con người, đó là những con người cá nhân với
những mối quan hệ trong cuộc sống hằng ngày. Ngay cách đặt tên truyện đã
mang đầy dụng ý của tác giả, muốn định danh chắc chắn về vẻ đẹp độc đáo khác
biệt của cốt cách người Hà Nội. Chất hào hoa sang trọng, văn hoá lịch lãm của
Hà Nội được tác giả phát hiện và thống nhất quy tụ trong nhân vật cô Hiền. Một
người có bản lĩnh, luôn là chính mình trong nhiều hoàn cảnh thử thách, cô Hiền
bộc lộ cá tính qua suy nghĩ, việc làm và sự chiêm nghiệm cá nhân. Cách quản lí
gia đình, việc hôn nhân, việc sinh con, việc dạy con… của cô cho thấy một nếp
sống, lối nghĩ đạt đến độ chuẩn mực của người Tràng An thanh lịch, quý phái.
Cũng như xuất hiện ở nhiều nhân vật nữ trong tác phẩm của Nguyễn Khải, thiên
tính nữ trong con người nhân vật luôn được nhà văn chú ý miêu tả, đề cao, chức
phận làm vợ, làm mẹ được đặt lên trên mọi thú vui khác. Cô không chạy theo
thói thường lãng mạn viển vông của những cô gái Hà thành đua đòi hám danh,
hám lợi trong việc hôn nhân, việc chọn ông giáo tiểu học làm chồng cho thấy
thái độ nghiêm túc và quan niệm một cách hiện đại, hợp lý. Con cái phải được
nuôi dạy chu đáo, cha mẹ phải cho con một bản lĩnh, nhân cách vững vàng để
lưỡng phân, trong con người đan xen, chen lẫn, giao tranh ánh sáng và bóng tối,
rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ, cao cả và tầm thường
23
CHƢƠNG 2: CON NGƢỜI TRONG CÁI NHÌN THẾ SỰ,
CÁI NHÌN ĐỜI TƢ QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU SAU NĂM 1975
Có thể nói cuộc đời của Nguyễn Minh Châu gắn liền với sự nghiệp của
đất nước, của dân tộc Việt Nam. Ông đã cùng đất nước đứng lên trong những
tháng ngày đau thương vì đạn bom khói lửa, cùng các đồng chí đồng đội của mình
xông pha vào những chiến trường ác liệt, nơi cái chết và sự sống chỉ mong manh
như sợi tơ trời phất phơ trước làn gió xoáy. Và khi những ngày gian khổ ấy đi qua,