ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ THUẬN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG,
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số : 60 31 27
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Lại Quốc Khánh
Hà Nội - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nội dung và
các trích dẫn trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng.
cảnh như thế, việc phát triển nhanh chóng và bền vững năng lực trí tuệ của từng
cá nhân cũng như của cả cộng đồng phải được coi là nhiệm vụ ưu tiên đặc biệt
của tất cả các quốc gia trong chiến lược phát triển thế kỷ XXI. Điều đó đồng
nghĩa với việc vai trò của trí thức cũng ngày càng trở nên quan trọng.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể khẳng định rằng, Việt Nam là một dân
tộc có truyền thống hiếu học, trọng dụng trí thức, trọng dụng hiền tài. Kế thừa
truyền thống tốt đẹp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc,
nhà văn hóa lớn, luôn quan tâm sâu sắc tới việc xây dựng và phát huy vai trò của
đội ngũ trí thức trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đối với Hồ Chí Minh, cách mạng muốn thành công
phải dựa trên lực lượng cách mạng được giác ngộ sâu sắc và được tổ chức chặt
chẽ, trong đó trí thức là một trong những lực lượng “nòng cốt của cách mạng”.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh cho tư tưởng sáng suốt và đúng
đắn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí
2
Minh về trí thức nói chung, về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
nói riêng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng
Hồ Chí Minh, là một di sản tinh thần quý báu mà chúng ta cần phải kế thừa và
phát triển trong giai đoạn hiện nay.
Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó công
nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc
tế là một nội dung quan trọng. Vấn đề xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ
trí thức có ý nghĩa cấp thiết và to lớn. Nhìn chung, Đảng và Nhà nước ta đã luôn
quan tâm tới công tác xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức. Tuy
nhiên, cũng cần phải thấy rằng, có lúc, có nơi, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước đối với trí thức vẫn chưa thật sự đúng đắn, chưa thật sự thỏa đáng;
vẫn còn có những cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa thực sự tôn trọng, trọng dụng
trí thức. Đại đa số trí thức hiện nay có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực
chuyên môn ngày càng được nâng cao và đã có nhiều đóng góp quan trọng đối
Một loại tư liệu khác rất có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí
Minh về trí thức, thái độ ứng xử của Hồ Chí Minh đối với trí thức, đó là hồi ký
của các nhà trí thức về Hồ Chí Minh, chẳng hạn, “Người trí thức quê hương” (2
tập, Hàm Châu, Nxb. Giáo dục, 2005), “Những người được Bác Hồ đặt tên”
(Trần Đương, Nxb. Công an nhân dân, 2005), “Bác Hồ với nhân sĩ, trí thức”
(Trần Đương, Nxb. Thông tấn, 2005), v.v
Trực tiếp liên quan đến đề tài là các công trình nghiên cứu dưới hình thức
bài báo khoa học công bố trên các tạp chí, các bài tham luận tham dự hội thảo
khoa học và các sách chuyên khảo đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức được tiếp cận nghiên cứu trong các chủ đề: tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
và đoàn kết quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng trong cách mạng giải
phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội,
v.v Có thể nêu ra ở đây một số công trình như: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự
nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước” (Vũ Đình Hòe, Võ Nguyên
Giáp, Nguyễn Đức Bình, , Nxb. Lao động, 2006); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
4
con đường cách mạng Việt Nam” (Võ Nguyên Giáp – chủ biên, Nxb. Chính trị
quốc gia, 2000); “Về vấn đề giáo dục – đào tạo”, (Phạm Văn Đồng, Nxb. Chính
trị quốc gia, 1999), “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội” (Lê Mậu Hãn, Đặng Xuân Kỳ, , Nxb. Chính trị Quốc gia, 2003), “Chiến
lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh” (Phùng Hữu Phú – chủ biên, Nxb. Chính trị
quốc gia, 2005), “Hồ Chí Minh với văn nghệ trí thức” (Nguyên Vũ, Nguyễn
Thái Anh – Tuyển chọn, Nxb. Thanh niên, 2007), “Biện chứng của Tư tưởng Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Lại Quốc Khánh, Nxb. Chính trị
Quốc gia, 2009),
Trong mấy năm trở lại đây, một trong những vấn đề lớn thu hút sự quan
tâm của giới khoa học là vấn đề xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt
Nam. Trong nhiều bài báo, sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu về vấn đề này
thức đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
Thứ ba, những chính sách mà Hồ Chí Minh đã sử dụng để tập hợp và phát
huy vai trò của trí thức.
v.v
Lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát
huy vai trò của đội ngũ trí thức và sự vận dụng trong thời kỳ Đổi mới”, tôi mong
muốn được tham gia giải quyết một vài khía cạnh trong những vấn đề nói trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm rõ những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng
và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, khẳng định giá trị của tư tưởng, trên cơ
sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của
đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và
phát huy vai trò của đội ngũ trí thức.
- Khái quát thực trạng xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức Việt
Nam từ 1986 đến nay.
6
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục
xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí
thức, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong xây dựng và phát huy vai trò của
đội ngũ trí thức thời kỳ Đổi mới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí
thức được xác định là hệ thống các quan điểm cơ bản thể hiện qua những luận
8
CHƢƠNG I
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
XÂY DỰNG, PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
1.1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát
huy vai trò của đội ngũ trí thức
1.1.1. Giá trị tư tưởng, truyền thống văn hóa của dân tộc
Qua chiều dài lịch sử, cùng với quá trình từng bước chinh phục tự nhiên
và đấu tranh chống kẻ thù, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng nên một hệ các giá trị
truyền thống tốt đẹp. Trong đó, nổi bật nhất là truyền thống yêu nước, tinh thần
đoàn kết, hiếu học, trọng dụng trí thức và trọng dụng nhân tài,
Có thể khẳng định rằng, yêu nước là một truyền thống quý báu của dân
tộc Việt Nam, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, thấm sâu vào tâm hồn
của mỗi người. Nó có ảnh hưởng sâu sắc, chi phối và bao trùm mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội từ tư tưởng, tình cảm, tâm lý, suy nghĩ và hành động. Do đó, kẻ
thù của dân tộc ta từ bọn phong kiến ngoại tộc, cho đến chủ nghĩa thực dân cũng
đã bao phen kinh hồn, khiếp vía trước sức mạnh của chủ nghĩa yêu .
Hồ Chí Minh, trong quá trình tiếp nhận các giá trị truyền thống của dân
tộc đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh
phu trí thức này chính là tiền thân cho trí thức Việt Nam giai đoạn sau. Điều đó
chứng tỏ, Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc
từ chính gia đình và quê hương của mình. Người đã sớm cảm nhận, hấp thụ
được tư tưởng vì nước vì dân của cha, từ những người thầy giáo. Vì thế, chủ
nghĩa yêu nước truyền thống đã trở thành một trong những tiền đề vững chắc
hình thành nên tư tưởng của Người trước khi ra đi tìm đường giải phóng dân tộc.
Và cũng chính chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã trở thành nền tảng để Người
đến, tiếp nhận, vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể
của dân tộc: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng
sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” (52, tr.128). Như vậy, Hồ
10
Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa yêu nước trước hết từ những nhà trí thức lớn của
dân tộc, và từ những tấm gương yêu nước cháy bỏng. Điều đó cho thấy, những
nhà trí thức chân chính luôn là những người yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì dân
tộc, vì nhân dân.
Tiếp nối truyền thống của cha ông “Bầu ơi thương lấy bí cùng”,
“Nhường cơm sẻ áo”, bên cạnh lòng yêu nước, trong quá trình hình thành và
xây dựng tư tưởng, quan điểm của mình về trí thức, Hồ Chí Minh cũng nhận
thức sâu sắc về truyền thống đoàn kết của dân tộc. Bởi thông qua tinh thần đoàn
kết, nhân dân Việt Nam đã xây dựng nên một “Vạn lý trường thành” của chủ
nghĩa yêu nước, tạo nên một sức mạnh khổng lồ, làm thất bại mọi âm mưu của
kẻ thù. Điều đó được chứng minh bằng những thắng lợi vẻ vang của khởi nghĩa
hai Bà Trưng, cuộc chiến tranh vệ quốc của Lý Thường Kiệt, cuộc kháng chiến
của quân dân nhà Trần, cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi, cuộc kháng chiến của
Nguyễn Huệ, và cũng chính đoàn kết đã tạo nên lực lượng vật chất để thực
hiện chủ nghĩa yêu nước. Với tư duy sắc bén, vốn kiến thức sâu rộng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò của tinh thần đoàn kết đối với cách
mạng và coi đoàn kết là vấn đề có vị trí chiến lược. Người nhấn mạnh: “Lòng
yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai
những giá trị tích cực làm nền tảng để xây dựng các quan điểm cụ thể trong xây
dựng và phát huy vai trò của trí thức. Bởi những thông điệp về nhân tài, trí thức,
trước hết được thể hiện ở những quan niệm dân gian của nhân dân ta. Trong kho
tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ bàn về truyền
thống hiếu học của dân tộc, như : “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”,
“Học thầy không tày học bạn”, Truyền thống đó, còn được lưu truyền cho các
thế hệ sau thông qua các bản hương ước của làng, như một minh chứng cho tinh
thần hiếu học của dân tộc Việt Nam. Các hương ước lúc đầu thường được truyền
miệng, sau được ghi chép thành văn bản cụ thể. Tinh thần hiếu học đã được các
làng xã cực kỳ coi trọng và coi đó là một trong những tiêu chí của văn hóa làng.
Chẳng hạn, Hương ước làng Phúc Xá (tổng Phúc Lâm, huyện Hoàng Long, tỉnh
Hà Đông) soạn năm 1923, điều thứ năm ghi mục học chính: “Nhà nào có con từ
12
6, 7 tuổi trở lên bất cứ hạng nào cũng phải cho con ra trường học. Những nhà
túng quá, cho con đi học mà không thể lấy tiền đâu được, thời tường (trình) với
tộc biểu học mình đã làm giấy nhận thực trình Hội đồng, tòa Hội đồng xét được
thực thì sẽ cấp giấy bút cho 3 năm. Học trò nào học hết 3 năm rồi phải thi, xem
hễ có tư cách thông minh có thể ra trường tỉnh học được, thì bố mẹ đứa ấy phải
cho đi học, không được bắt con bỏ học mà làm việc khác …” (72, tr.51). Hay ở
một số làng còn có phong tục: “Các làng mộ văn học, cứ mỗi năm, mộ hết học
trò trong làng khảo một kỳ, gọi là khảo tiến ích. Dân làng bầu cử một vài ông
khoa mục xem xét ai học giỏi, ai học kém, hễ ai giỏi thì dân có thưởng. Lại có
nơi, tuần phủ đi tuần trong làng, hễ ai có con đi học mà không nghe tiếng học
đêm thì dân làng bắt phạt. Các cách ấy đều có ý cổ vũ cho người ta chăm học”
(72, tr.51). Như vậy, các làng xã Việt Nam luôn coi trọng việc học tập, tuy cách
thức khuyến khích còn đơn giản, nhưng một điều không thể phủ nhận là nhân
dân ta đã có ý thức đề cao tinh thần hiếu học trong việc đào tạo nhân tài, trí thức
cho đất nước.
Truyền thống hiếu học luôn gắn liền với truyền thống trọng dụng nhân tài
giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi nước nhà. Tuy mang tính chất hư cấu về hình
ảnh của Thánh Dóng, nhưng nó cho thấy cầu hiền là một trong những hình thức
phát hiện và lựa chọn nhân tài của dân tộc được sử dụng từ rất sớm trong thời kỳ
đầu dựng nước và giữ nước. Truyền thuyết cũng phản ánh tinh thần chung sức
đào tạo nhân tài cho dân tộc thông qua chi tiết các làng, chạ góp cơm cà nuôi
Dóng lớn. Cùng nguyện vọng chống giặc ngoại xâm, truyền thuyết thành Cổ
Loa đã gửi tới thế hệ sau thông điệp về cầu thị, trọng dụng nhân tài của An
Dương Vương. Hình ảnh Cao Lỗ là biểu tượng của người tài trong công việc
phòng thủ đất nước và chống ngoại xâm, nhờ vậy đất nước được bình yên, ngày
càng cường thịnh. Nhưng sau đó, An Dương Vương lại có thái độ bạc đãi với
Cao Lỗ, làm cho Cao Lỗ chán chường phải bỏ đi, đất nước rơi vào tay kẻ thù.
Qua đây, nhân dân ta cũng nhận thức được vai trò của những người đứng đâu
đất nước trong việc trọng dụng hay bạc đãi nhân tài. Bởi điều đó sẽ ảnh hưởng
14
trực tiếp tới chính sách phát huy nguồn lực trí tuệ làm cho đất nước hưng thịnh
hoặc suy vong.
Bên cạnh nhu cầu chống giặc ngoại xâm, dân tộc Việt Nam cũng luôn
phải đối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Vì vậy, nhân dân ta đã gửi gắm
qua truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh nguyện vọng trị thủy. Trong truyền
thuyết, chi tiết vua Hùng kén rể chính là một hình thức để tuyển chọn nhân tài.
Tuy nhiên, qua truyền thuyết này, nhận thức của nhân dân ta về nhân tài cũng đã
có bước phát triển, đó là sự ý thức đầy đủ về hai loại người tài trong xã hội. Cả
Sơn Tinh và Thủy Tinh đều là những người tài, nhưng cái tài đó lại được sử
dụng với mục đích khác nhau. Nếu Thủy Tinh là biểu tượng cho cái tài của
người ác, thì Sơn Tinh là biểu tượng cho người tài hướng thiện. Do đó, việc
nhân dân ta tôn vinh Sơn Tinh chính là tôn vinh những người có tài thực sự,
luôn đứng về phía nhân dân, cùng nhân dân chống thiên tai. Vậy là, nhân dân ta
đã có quan niệm rất rõ rệt về phẩm chất của nhân tài, hiền tài của dân tộc.
Khi đất nước được yên bình, không còn phải đối mặt với thiên tai, địch
điều kiện cho Nguyễn Trãi nghiên cứu, tìm tòi ra những cách đánh hay nhất làm
thất bại âm mưu của kẻ thù. Do đó, cuộc kháng chiến của dân tộc ta đi đến thắng
lợi hoàn toàn, mở ra một triều đại mới. Đây là kết quả của chính sách trọng dụng
người tài trong cảnh đất nước có chiến tranh. Còn khi đất nước đã thái bình, thì
việc tìm kiếm người tài lại càng được các vị vua chúa coi trọng, họ đã đề ra
những chính sách thiết thực đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của người tài đức.
Một trong những vị vua điển hình đó là Quang Trung – Nguyễn Huệ, năm 1788,
sau khi lên ngôi, ổn định đất nước thì công việc đầu tiên mà vị vua này thực hiện
là mong muốn xây dựng một nguồn lực trí tuệ hùng mạnh cho đất nước. Để làm
được điều đó, Quang Trung thực hiện chủ trương phát triển giáo dục nhằm đào
tạo nhân tài. Trong “Chiếu lập học”, Quang Trung nhấn mạnh: Xây dựng đất
nước phải lấy việc dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình, lấy tuyển nhân tài làm gốc.
Giáo dục chính là con đường cơ bản nhất để đào tạo người tài và cũng là con
đường có hiệu quả nhất. Song song với phát triển giáo dục, Quang Trung cũng
chú trọng tới việc phát huy vai trò của những nhân tài đang ở ẩn, hoặc đang làm
16
quan cho triều đình phong kiến trước đó. Chính sách thu phục nhân tài của
Quang Trung được thể hiện rõ nhất trong “Chiếu dụ các quan văn võ triều cũ”
trực tiếp viết và “Chiếu cầu hiền” ủy quyền cho Ngô Thì Nhậm viết. Quang
Trung chỉ rõ: Trẫm một lòng yêu quý nhân tài không lúc nào quên Phàm
những kẻ đang bị giam giữ đều tha ra hết, những kẻ chạy trốn không truy nã nữa
để làm rõ đức khoan dung (Chiếu dụ). Như vậy, để thu phục nhân tài, trí thức,
Quang Trung đã thực hiện chính sách khoan dung, đãi ngộ của mình đối với họ.
Một điểm đặc biệt, thể hiện sự thông minh, uyên bác của vị vua này đó là sự am
hiểu sâu sắc về nhân tài, tri thức. Quang Trung đã thấy vai trò của người tài, và
việc sử dụng họ sao cho phù hợp với tài năng. Trong “Chiếu cầu hiền”, Quang
Trung khẳng định: Trẫm đang để ý lắng nghe, thức ngủ mong mỏi tại sao những
người tài cao học rộng chưa thấy đến, hay là trẫm ít đức không đáng để phò tá
chăng ? Trẫm nơm nớp lo nghĩ, dù một ngày, hai ngày cũng có đến hàng vạn
được các triều đại phong kiến Việt Nam, tiếp thu và phát triển phù hợp với tình
hình thực tiễn, nhằm phát huy hết vai trò của người tài đức. Do đó, Phan Huy
Chú đã khẳng định: “Nước Việt ta phong khí đã mở mang, khí tinh hoa đều hợp
lại. Trong khoảnh khắc đó, vua hiền chúa sáng kế tiếp nổi lên, danh khanh,
lương tá thường xuất hiện ra” (6, tr.153).
Quê hương Nam Đàn tỉnh Nghệ An của Người, cũng là mảnh đất nổi
tiếng “địa linh sinh nhân kiệt”, có nhiều người học giỏi, đỗ cao. Sử sách đã ghi:
trong 96 kỳ thi hương từ năm 1635 đến năm 1890, riêng làng Kim Liên có 53 vị
khoa bảng và riêng làng Hoàng Trù có 29. Đó là kết quả của cả một quá trình
khổ học thành tài, ham học hỏi để có thể thực hiện được ước nguyện giúp nước,
giúp dân, thỏa chí của người “quân tử”. Hiếu học trở thành nét chung, là một
đức tính cao quý của những người con xứ Nghệ. Hồ Chí Minh đã thấy tấm
gương hiếu học từ chính người cha của mình – cụ Nguyễn Sinh Sắc với tinh
thần học tập hăng say. Sau khi đỗ cử nhân, một mặt Cụ mở lớp dạy học để đào
tạo thế hệ trẻ, mặt khác Cụ vẫn tiếp tục dùi mài kinh sử, trau dồi kiến thức. Cùng
với cha, thân mẫu của Người cũng là một người phụ nữ ham học, am hiểu, hết
18
lòng phục vụ chồng con trong quá trình học tập. Những người thầy của Người
cũng là những tấm gương sáng về hiếu học.
Bên cạnh truyền thống hiếu học, Nghệ An cũng nổi tiếng là vùng đất
trọng đãi người tài đức, nhân tài. Ở xã Chung Cự, trong đó có làng Sen và làng
Chùa, bản Hương ước của xã quy định rõ việc cấp ruộng học điền cho những
người trong làng đỗ đạt cao. Chính cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng đã được cấp theo
tục lệ trên vào năm 1894, khi Cụ vừa đỗ cử nhân. Đồng thời, những người đỗ
đạt, không chỉ được phong chức vụ do triều đình giao cho, mà khi về quê còn
được nhân dân đón tiếp rất trang trọng ở lễ vinh quy bái tổ. Như vậy, đất thì sỏi
đá, nhưng con người thì trí tuệ, thông minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu
truyền thống trọng dụng nhân tài của cha ông và bổ sung, vận dụng nó trong
hoàn cảnh mới để đáp ứng yêu cầu của lịch sử.
của mỗi con người, vì nếu không ham học thì: … Muốn Nhân lại hóa ra ngu.
Muốn Trí lại hóa phóng đãng. Muốn Tín lại hóa ra cố chấp, bị tổn hại. Muốn ngay
thẳng lại hóa ra gắt gao, mất lòng người. Muốn Dũng lại hóa ra phản loạn. Muốn
Cương thường lại hóa ra cuồng bạo (Luận Ngữ, Dương Hóa, 8). Còn đối với quốc
gia thì, nếu: trên không giữ lễ, dưới không có học, thì giặc cướp nổi lên, diệt vong
không biết lúc nào đây (Mạnh Tử, Ly Lâu - Thượng, 1). Như vậy, Nho giáo đòi hỏi
mọi người phải học cho rộng, hỏi cho cùng. Bản thân Khổng Tử cũng là người nổi
tiếng ham học. Ông học nhiều, biết rộng, có vốn kiến thức uyên thâm về nhiều lĩnh
vực. Khổng Tử cũng là người đầu tiên mở trường dạy học, thu nhận học trò từ
nhiều nơi để đào tạo họ. Sau này, các học trò của ông, trừ những người làm quan,
còn lại đã tiếp tục sự nghiệp của thầy: học không biết chán, dạy không biết mỏi góp
phần vào xây dựng xã hội.
Trong tư tưởng xây dựng đội ngũ trí thức, Hồ Chí Minh đã kế thừa quan
điểm tiến bộ của Nho giáo về các phẩm chất của người quân tử: Nhân, Trí, Dũng.
Từ đó, Người vận dụng vào việc giáo dục đạo đức cho trí thức, để họ thực sự trở
thành người trí thức chân chính của dân tộc. Cùng với mô hình đào tạo người quân
tử, Nho giáo cũng đề cao tư tưởng trọng dụng nhân tài, mục đích giúp họ phát huy
hết tài năng của mình. Trong đó, nổi bật lên mấy điểm cơ bản sau:
20
Thứ nhất, đối với nhân tài, cần phải tôn trọng, có thái độ cầu hiền, giữ lễ.
Mạnh Tử nói: “Vua hiền thì giữ mình khiêm cung, ăn tiêu tiết kiệm, có lễ độ với
bề tôi” (Đằng văn Công – Thượng, 3) hay “Muốn gặp người hiền mà chẳng nói
theo đạo lý, thì có khác gì mời khách vào nhà nhưng lại đóng chặt cửa” (37, tr.
74). Thái độ cầu hiền đó cần chân thành thì mới giữ được nhân tài. Muốn vậy,
cần cảm hóa nhân tài, lấy được lòng tin của họ, để họ tự nguyện giúp mình trong
việc cai trị và xây dựng xã hội.
Thứ hai, theo Nho giáo, để phát hiện, tìm kiếm, đề bạt người tài và nhân
tài cần phải thông qua con đường thi cử, giáo dục. Đương thời, Khổng Tử cũng
là người đầu tiên mở trường tư dạy học, đào tạo nên hàng ngàn học trò, trong đó
Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh từng bước tìm hiểu
và nghiên cứu các giá trị văn hóa phương Tây. Người đã tìm ra những điểm tích
cực, tiến bộ của văn hóa phương Tây để làm giàu vốn tri thức của mình. Tự do,
bình đẳng và bác ái là khẩu hiệu mà thực dân Pháp tuyên truyền ở nước ta đã
nhanh chóng chiếm được cảm tình của Hồ Chí Minh. Nhưng giá trị thực sự của
khẩu hiệu đó chỉ được cảm nhận một cách đúng đắn nhất khi sang phương Tây.
Người nhận thức sâu sắc, dân chủ và tự do là một trong những điều kiện để trí
thức có thể phát huy hết khả năng của mình. Vì vậy, trong quá trình kháng chiến
và xây dựng chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm
này trong xây dựng cũng như sử dụng đội ngũ trí thức.
Khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh coi đó là “cẩm nang
thần kỳ”, nếu vận dụng sáng tạo vào thực tiễn sẽ giải quyết thành công mọi việc.
Trong di sản tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã tiếp thu quan điểm
tiến bộ về xây dựng đội ngũ trí thức và chính sách sử dụng trí thức. Chủ nghĩa
Mác - Lênin khẳng định: cách mạng là sự nghiệp vĩ đại của quần chúng nhân
dân và nhân dân chính là người làm ra lịch sử. Tuy đề cao vai trò của quần
chúng nhân dân nói chung, các nhà kinh điển cũng nhấn mạnh tới vai trò của các
vĩ nhân, của bộ phận “tinh hoa”, bởi: mỗi xã hội, mỗi thời đại cần có những vĩ
nhân của mình, nếu không có những vĩ nhân như vậy thì nó sẽ phải tạo ra. Đó
chính là những nhân tài có hiểu biết sâu rộng, có năng lực chuyên môn, khả
22
năng dự báo và hoạt động thực tiễn phong phú. Do đó, một mặt chủ nghĩa Mác –
Lênin khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với tư cách là
lực lượng tiên phong, đại diện cho phương thức sản xuất mới; mặt khác luôn
khẳng định sức mạnh của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức, coi trí
thức là một bộ phận quan trọng của cách mạng. Vì vậy, cần phải khai thác hết
tiềm năng trí tuệ, sức sáng tạo của trí thức để đưa cách mạng đến thắng lợi.
C. Mác đã đưa ra quan niệm của mình về trí thức: Trí thức là những người
có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội,