ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NAM
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
XÂY DỰNG LỰC LƢỢNG CÁCH MẠNG
TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG KHỞI NGHĨA
GIÀNH CHÍNH QUYỀN NĂM 1945 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Hà Nội – 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
4
Chƣơng 1: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY
DỰNG LỰC LƢỢNG CÁCH MẠNG
12
1.1.
Điều kiện lịch sử và cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về xây dựng lực lƣợng cách mạng
12
1.1.1.
Điều kiện lịch sử
12
1.1.2.
Cơ sở hình thành
16
1.2.
Những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
xây dựng lực lƣợng cách mạng
32
1.2.1.
Giác ngộ, tập hợp, tổ chức quần chúng thành đội ngũ với
những hình thức phù hợp
32
1.2.2.
Coi trọng xây dựng lực lượng nòng cốt nông dân, công nhân
và đội tiên phong là Đảng cộng sản
38
1.2.3.
Liên minh giai cấp rộng rãi trên mẫu số chung là tinh thần
2 2.2.
Xây dựng lực lƣợng cách mạng giai đoạn 1939-1945
79
2.2.1
Xây dựng lực lượng chính trị
79
2.2.2.
Xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng
91
2.2.3.
Liên minh với các lực lượng quốc tế
98
2.3.
V ận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lƣợng
cách mạng vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện
nay
104
2.3.1.
Giá trị lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng lực lượng cách mạng trong thực tiễn đấu tranh tiến tới
giành chính quyền năm 1945
104
2.3.2.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng
cách mạng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay
110
Chủ nghĩa thực dân
4
CNCS
Chủ nghĩa cộng sản
5
ĐCS
Đảng cộng sản
6
ĐCSVN
Đảng cộng sản Việt Nam
7
CMGPDT
Cách mạng giải phóng dân tộc
8
CMVS
Cách mạng vô sản
9
ĐCSĐD
Đảng Cộng sản Đông Dương
10
QTCS
Quốc tế cộng sản
11
CMVN
Cách mạng Việt Nam
12
MTDTTN
Mặt trận dân tộc thống nhất
13
MTVM
lực lượng hết sức chênh lệch, chống lại sự xâm lược của những kẻ thù mạnh
hơn gấp nhiều lần, dân tộc Việt Nam đã hun đúc tinh thần bất khuất, bồi đắp
lòng yêu nước nồng nàn, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, toàn dân đoàn kết
một lòng, kết thành một khối thống nhất, muôn người như một chiến đấu và
chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, dù chúng mạnh và tàn bạo đến đâu.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, áp đặt ách áp bức, đô hộ
lên đất nước ta. Không cam tâm chịu làm nô lệ, các phong trào yêu nước của
nhân dân ta đã nổ ra liên tục, đấu tranh anh dũng, kiên cường, song do chênh
lệch về tương quan lực lượng, thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn, thiếu
một tổ chức chính trị đủ năng lực lãnh đạo, nên các phong trào đều bị thất bại.
Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo những khuynh hướng khác nhau
cho thấy cần phải tìm ra con đường cứu nước mới, phù hợp hơn. Trong bối
cảnh ấy, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước
và sau những hoạt động cách mạng tìm tòi, khảo nghiệm đã lựa chọn con
đường cứu nước, cứu dân là con đường CMVS.
Sau một thập kỷ tìm đường và tìm ra con đường cứu nước, Nguyễn Ái
Quốc đã tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho sự ra đời của chính Đảng cách
mạng ở Việt Nam - một chính Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, của
5
dân tộc Việt Nam, sẽ lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm cách mạng, lật đổ ách
áp bức dân tộc, đi tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.
Để làm cách mạng, vấn đề lực lượng cách mạng là một trong những
vấn đề trọng tâm, cần giải quyết thấu đáo, bởi đó là một trong những yếu tố
quyết định thành, bại của cách mạng. Do vậy, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh đã rất chú trọng đến việc xây dựng lực lượng cách mạng. Trên tinh thần
“chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và “dân tộc Việt Nam là dân
tộc cách mệnh, đã là dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, trí, nông,
công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”, Hồ Chí Minh chủ trương
chuẩn bị lực lượng dựa vào đông đảo quần chúng yêu nước. Quần chúng yêu
cách mạng cũng đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở những chiều cạnh
khác nhau. Có thể chia thành những nhóm tư liệu sau:
- Các công trình nghiên cứu chung về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam [50]; Chủ
tịch Hồ Chí Minh-lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta [24]; Hồ Chí Minh
về Mặt trận dân tộc thống nhất [10]; Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự
nghiệp của chúng ta [28]; Góp phần tìm hiểu tư tưởng độc lập dân tộc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh [59]; Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh [66]; Chủ
tịch Hồ Chí Minh-những cống hiến về lý luận và thực tiễn vào sự nghiệp đấu
tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trong thế kỉ XX
[61]; ….
- Các công trình nghiên cứu về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài, người cha thân yêu của các lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam [47]; Đấu tranh vũ trang trong Cách mạng
tháng Tám [37]; Tìm hiểu di sản và sự nghiệp quân sự Hồ Chí Minh [30]; Sự
nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh [105]; Tư tưởng quân sự
7
Hồ Chí Minh [96]; Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước [107];
Tư duy quân sự Hồ Chí Minh, tiếp cận từ góc độ văn hoá [29]; Tư tưởng quân
sự Hồ Chí Minh [108]; Chủ tịch Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân
dân [88]…
Trong nhóm công trình này, cuốn sách Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày khá cặn kẽ về sự nghiệp và tư tưởng quân sự
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa ra biên niên sự kiện quân sự trong quãng đời hoạt
động của Người; đồng thời dẫn dụ những ca ngợi của thế giới về sự nghiệp và tư
tưởng quân sự của Người. Công trình đã thành công trong luận giải nguồn gốc, nội
dung tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; đồng thời, khi làm rõ những nội dung cơ bản
của tư tưởng quân sự, công trình đã đề cập đến vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang,
xây dựng lực lượng cách mạng.
minh đoàn kết với các lực lượng quốc tế… vẫn chưa được đề cập đến trong
những công trình này.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có
thể đưa ra một số kết luận sau:
- Các nhà nghiên cứu đi trước chủ yếu nghiên cứu về tư tưởng quân sự
quân sự Hồ Chí Minh, về xây dựng lực lượng vũ trang theo tư tưởng Hồ Chí
Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng được đề cập
đến chủ yếu với tư cách là một minh chứng, một nội dung liên quan, nhằm
làm bổ trợ, làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu chính là tư tưởng quân sự Hồ Chí
Minh.
- Các công trình nghiên cứu đã liệt kê là những tư liệu quý, những cơ
sở quan trọng để tác giả luận văn tham khảo, kế thừa trong quá trình hoàn
thành mục đích nghiên cứu của luận văn.
9
- Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ
thống, toàn diện mọi chiều cạnh của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực
lượng cách mạng và sự vận dụng trong thực tiễn đấu tranh tiến tới giành chính
quyền năm 1945 như đề tài mà chúng tôi đã lựa chọn.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng và sự thể
hiện trong thực tiễn của Cách mạng tháng Tám 1945 cần được nghiên cứu
một cách toàn diện, hệ thống, dựa trên việc khai thác và xử lý tư liệu một cách
khoa học; làm rõ những những nội dung cơ bản, cốt yếu trên mọi chiều cạnh;
chỉ ra tính độc đáo, đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng
cách mạng; vận dụng những giá trị của nó vào sự nghiệp xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc hiện nay. Đó đồng thời cũng là những mục tiêu, nhiệm vụ
mà tác giả luận văn cố gắng giải quyết và hoàn thành.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng, sự
5.1. Cơ sở lý luận và nguồn tư liệu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
khởi nghĩa vũ trang; về chiến tranh cách mạng, về đấu tranh quân sự…
Nguồn tư liệu của luận văn bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh
cách mạng, về hoạt động quân sự, về khởi nghĩa vũ trang, về vai trò của quần
chúng nhân dân, về giai cấp, phân hóa giai cấp… là nguồn tài liệu quan trọng,
cơ sở lý luận của luận văn.
11
- Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn kiện Đảng là những tài liệu
gốc của luận văn.
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các sách, báo có liên quan do
các cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố như Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch
sử quân sự Việt Nam, Viện Sử học… là nguồn tư liệu quan trọng, dùng để
làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu khác nhau của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài việc sử dụng
rộng rãi các phương pháp khoa học phổ quát như lịch sử, logic, logic – lịch
sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản khác
như phân tích, tổng hợp, so sánh, để khảo cứu toàn diện, hệ thống những nội
dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng; về
sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng vào đấu
tranh giành chính quyền. Nhằm làm rõ tính hệ thống, toàn diện, giá trị độc
đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng, phương
pháp logic và khái quát hóa được sử dụng tích cực.
6. Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc, quá trình hình thành, những
nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách
mạng; làm rõ những giá trị, những độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
13
Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG LỰC
LƢỢNG CÁCH MẠNG
1.1. Điều kiện lịch sử và cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
xây dựng lực lƣợng cách mạng
1.1.1. Điều kiện lịch sử
Từ giữa thể kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây đã dần trở thành các
nước đế quốc chủ nghĩa, ráo riết chạy đua tràn sang phương Đông tìm kiếm
thị trường, không chỉ để tiêu thụ hàng hoá, mà cả đầu tư và nơi khai thác
nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc, nhằm bóc lột và thu lợi nhuận.
Trong làn sóng xâm chiếm thuộc địa ấy, nền độc lập, chủ quyền quốc gia và
vận mệnh của nhiều dân tộc bị CNTB thực dân phương Tây đe doạ nghiêm
trọng. Hàng loạt các quốc gia nhỏ và yếu ở các châu Á, châu Phi trở thành
phụ thuộc và thuộc địa, bị các nước tư bản phương Tây bóc lột nặng nề, rơi
vào tình trạng khốn cùng, bi thảm. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,
CNTB đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Thuộc địa của các nước
đế quốc trở thành hệ thống thế giới. Và đến năm 1914 - như V.I.Lênin đã khái
quát - bóng mấy đen của CNĐQ đã bao phủ hầu như toàn bộ thế giới.
Việt Nam là nước có vị trí địa lý hết sức thuận lợi, là chiếc cầu nối giữa
Tổng thống Pháp ngày 17-10-1887. Liên bang Đông Dương gồm ba kỳ của
Việt Nam, Campuchia, sau đó thêm Lào (1899) và Quảng Châu Loan (1890).
Từ đó, nước Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ thế giới, nước Việt Nam thống
nhất bị chia làm ba xứ, với những chế độ cai trị khác nhau: Nam Kỳ là đất
thuộc địa, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, Trung Kỳ là xứ lưỡng trị.
15
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định bằng vũ
lực, thiết lập bộ máy thống trị trên toàn bộ đất nước, thực dân Pháp đã tiến
hành các cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân
công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá của chính
quốc
Các cuộc khai thác thuộc địa đó có tác động rất lớn đối với Việt Nam,
làm cho nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu, trì trệ, ngày càng trở nên què
quặt, lệ thuộc vào kinh tế chính quốc. Việt Nam từ một xã hội phong kiến đơn
thuần với hai giai cấp cơ bản, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, xã hội
nước ta trở thành một xã hội thuộc địa, với sự xuất hiện của các tầng lớp và
giai cấp mới. Các mâu thuẫn trong xã hội ngày càng diễn ra gay gắt, trong đó,
nổi bật lên là mâu thuẫn dân tộc - mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn
đế quốc thực dân xâm lược.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chống lại sự xâm lược, ách áp bức
của thực dân Pháp có các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân và đồng bào
miền núi. Phong trào kháng chiến của nhân dân ta nổ ra từ đồng bằng, rồi lan
dần lên trung du, miền núi. Trong hàng loạt cuộc nổi dậy đó, phong trào nông
dân Yên Thế là phong trào đấu tranh vũ trang lớn và kéo dài nhất, từ cuối thế
kỷ XIX sang hơn mười năm đầu thế kỷ XX. Thủ lĩnh của phong trào chủ
trương “thủ hiểm”, lấy Yên Thế làm căn cứ địa, chờ thời cuộc thuận lợi để
đánh đuổi thực dân Pháp bằng quân sự. Đến đầu thế kỷ XX, phong trào nông
dân Yên Thế bị thực dân Pháp đàn áp và thất bại.
Vào đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của Châu Á
Nam tuy phát triển mạnh mẽ, song đều có kết cục là thất bại. Cách mạng Việt
Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp
lãnh đạo, “đen tối như không có đường ra” [72, tr. 3]. Yêu cầu lịch sử đặt ra
những vấn đề mới đòi hỏi cần phải giải quyết.
17
Trong bối cảnh ấy, xuất hiện một nhân vật lịch sử - người thanh niên
yêu nước Nguyễn Tất Thành.
Sinh ra và lớn lên ở một gia đình nhà Nho yêu nước, vào thời điểm mà
lịch sử dân tộc và quốc tế có những chuyển biến lớn, chứng kiến cảnh “nước
mất, nhà tan”, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, có
những trăn trở về thân phận con người, về vận nước. Với ý chí và bầu nhiệt
huyết, Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm con đường cứu nước, cứu
dân. Cũng từ đó, bắt đầu hành trình cách mạng đầy gian khó, hy sinh của
người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, bắt đầu quá trình nhận thức,
hình thành ở người thanh niên ấy những quan điểm cách mạng.
Chọn hướng đi sang phương Tây, mà đích đến là nước Pháp, nơi có tư
tưởng tự do, dân quyền, dân chủ và có khoa học, kỹ thuật hiện đại, với những
danh từ mới lạ như Tự do, Bình đẳng, Bác ái , “muốn làm quen với nền văn
minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy” [65, tr.
477], Nguyễn Tất Thành đã trải qua những năm tháng bôn ba, vừa nghiên cứu
lý luận, kinh nghiệm của nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, vừa tham gia lao
động, đấu tranh trong hàng ngũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế
giới.
Sau một hành trình dài qua nhiều châu lục khác nhau (châu Âu, châu
Phi, châu Mỹ), đi qua 24 nước, tận mắt chứng kiến những cảnh bần cùng của
người lao động ở các xứ thuộc địa, cũng như những xóm nghèo ổ chuột ngoại
ô thành phố Paris, đến những cảnh phồn hoa, đô thị tráng lệ như Luân đôn,
Pairis, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã ngày càng làm giầu thêm
nhận thức của mình, đúc rút những kết luận quan trọng về bạn, thù, về cách
triển không chỉ trải qua nhiều cuộc vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, mà
còn phải tiến hành những cuộc kháng chiến giành và giữ độc lập tự do trước
kẻ thù xâm lược và yêu cầu tự vệ, chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài được
đặt ra từ sớm và ngày càng trở nên bức thiết. Những thách thức gắt gao đó đã
19
“sản sinh ra một dân tộc có ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc mình và sẵn
sàng bảo vệ Tổ quốc chống ngoại xâm” [36, tr.11]. Với sức mạnh của lòng
yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất, nhân dân ta đã khiến cho kẻ thù xâm
lược nhiều phen khiếp vía kinh hồn. Từ Đồ Thư đời Tần (thế kỷ II TCN), Mã
Viện đời Hán (thế kỷ I), rồi Hoàng Thao của Nam Hán (thế kỷ X), Quách
Quỳ nhà Tống (thế kỷ XI), Thoát Hoan của Nguyên Mông (thế kỷ XIII), đến
Liễu Thăng, Vương Thông nhà Minh (thế kỷ XV), Tôn Sĩ Nghị của Mãn
Thanh (thế kỷ XVIII)… đều bị thất bại nhục nhã trên mảnh đất Việt Nam.
Lịch sử dân tộc ta cũng đã ghi danh nhiều anh hùng kiệt xuất, có công lao và
đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo tồn nền độc lập. Đó là Hai Bà Trưng (thế
kỷ I), Bà Triệu (thế kỷ II), Lý Bí (thế kỷ VI), Phùng Hưng (thế kỷ VIII), Khúc
Thừa Dụ, Ngô Quyền (thế kỷ X), Lý Thường Kiệt (thế kỷ XI), Trần Hưng
Đạo (thế kỷ XIII), Lê Lợi, Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), Nguyễn Huệ (thế kỷ
XVIII)
Từ các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ
quyền dân tộc, đã hình thành nên những quan điểm về lực lượng và xây dựng
lực lượng đoàn kết chống giặc ngoại xâm.
Với tinh thần dân tộc, trong các cuộc kháng chiến chống Tống thế kỉ
XI, nhà Lý đã xây dựng lực lượng quốc phòng và củng cố khối đại đoàn kết
tranh thủ các tù trưởng, đoàn kết các dân tộc phía Bắc và Đông Bắc làm thất
bại âm mưu chia rẽ của nhà Tống. Đến thời nhà Trần, nhà Trần đã xây dựng
lượng quân sự mạnh kết hợp với sự đồng lòng trên dưới như nhau, tinh thần
đoàn kết toàn dân, ý chí thống nhất, “lấy đoản binh thắng trường trận”, thực
hiện toàn dân đánh giặc trên cơ sở nòng cốt của ba thứ quân, (quân triều đình,
như: “Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà
Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Chúng ta phải ghi
nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một
dân tộc anh hùng” [70, tr. 171, 172].
21
Am hiểu lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa các kinh nghiệm
xương máu của cha ông ta về xây dựng lực lượng cách mạng, đánh giặc bảo
vệ Tổ quốc như xây dựng lực lượng quân đội từ nhân dân mà ra với quan
điểm mỗi người dân là một người lính (tân dân vi binh), trăm họ là lính (bách
tính giai cấp), biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc (dân vi bang bản), có được
nhân dân là có được mặt trận rộng rãi, có chỗ dựa trong chiến đấu, thấy được
sức mạnh trong toàn dân đoàn kết, đồng lòng vì quốc gia dân tộc.
Sự phân hóa giai cấp xã hội nước ta cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Dưới tác động chính sách cai trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có
những biến đổi, phân hóa một cách sâu sắc.
Giai cấp địa chủ dần mất đi địa vị xã hội, cấu kết với thực dân và làm
tay sai cho chúng. Giai cấp địa chủ cũng là lực lượng chủ yếu để thực dân lợi
dụng, tước đoạt ruộng đất của nông dân một cách nhanh nhất, làm cho giai
cấp nông dân trắng tay, phải đi làm thuê cho địa chủ, tư sản. Giai cấp này
nhanh chóng phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: Tiểu, trung và đại địa chủ.
Vốn sinh ra trong một nước có truyền thống yêu nước cộng với chính sách
kinh tế, chính trị phản động của thực dân Pháp, nên một bộ phận không nhỏ
tầng lớp trung và tiểu địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, mâu thuẫn với
đế quốc về quyền lợi dân tộc nên có tinh thần cách mạng chống thực dân và
phong kiến tay sai.
Giai cấp nông dân là thành phần chiếm đại đa số (khoảng hơn 90%)
trong xã hội Việt Nam. Đây cũng là giai cấp bị bóc lột và áp bức nặng nề nhất
bởi thuế khóa, phu phen tạp dịch, cuộc sống của họ hết sức bấp bênh, đói khổ.
Trong công cuộc khai thác thuộc địa, số nông dân bị mất đất tăng nhanh do
nước lại bị chèn ép, bóc lột của đế quốc và phong kiến nên tiểu tư sản có tinh
thần dân tộc, nhạy bén với thời cuộc, dễ tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, bảo
vệ những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. Trong CMGPDT, họ nhanh
chóng trở thành lực lượng quan trọng đấu tranh vì độc lập, tự do.
23
Chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tác động mạnh mẽ
vào xã hội, làm cho xã hội bị phân hóa, tạo điều kiện cho sự ra đời của giai
cấp mới, đó là giai cấp công nhân. Đây là sản phẩm trực tiếp của chính sách
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Giai cấp công nhân Việt Nam hình
thành sớm hơn giai cấp tư sản dân tộc. Công nhân Việt Nam xuất thân trực
tiếp từ nông dân nghèo. Thông qua quá trình bần cùng hoá mà nhiều người
nông dân đã trở thành những công nhân làm thuê cho chủ tư bản Pháp. Đó là
lớp bần, cố nông sống lay lắt ở nông thôn mà xiềng xích trói buộc họ là những
mảnh công điền nhỏ bé. Cuộc xâm lược của đế quốc Pháp vào Việt Nam đã
đột nhiên cắt đứt sự phát triển liên tục của xã hội Việt Nam, dù đang bế tắc,
để chuyển vào một bước ngoặt sang xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Công
cuộc khai thác, bóc lột thuộc địa này đòi hỏi rất nhiều nhân công, do đó, đội
ngũ công nhân đầu tiên ra đời. Rõ ràng, sự hình thành người công nhân ở Việt
Nam không theo những bước tuần tự, không do những nguyên nhân kinh tế
trong lòng xã hội phong kiến. Những yếu tố đó quy định một thực tại là lớp
công nhân đầu tiên chỉ ra đời trên cơ sở những người nông dân bị bần cùng
hoá. Theo số liệu thống kê năm 1929: “Trong số 4 - 5 vạn thợ mỏ thì có tới
60% đó là nông dân 2 tỉnh Nam Định, Thái Bình. Nếu tính cả nông dân 7 tỉnh
đồng bằng Bắc kỳ thì tỷ lệ này lên tới 82%” [18, tr. 74]. Điều kiện sống và
làm việc của công nhân rất cực khổ. Họ phải làm việc cho tư bản từ 10h đến
14h/ ngày, với đồng lương rẻ mạt, thường xuyên bị cúp phạt và bị đối xử bất
nhân.
Sự xuất hiện giai cấp công nhân Việt Nam ngay từ đầu thế kỷ XX
không những mang ý nghĩa to lớn rằng, từ đây Việt Nam bước vào trận tuyến