TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
KHOA LÝ- HÓA - SINH
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
ĐỀ TÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà
nước của dân do dân vì dân”.
GVHD: ThS Bùi Phước Ý
SVTH: Huỳnh Thị Viễn
Năm :2012-2013
1
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 lý do chọn đề tài:
Có thể nói khát vọng cháy bỏng trong cuộc đời sự nghiệp của chủ tịch
HỒ CHÍ MINH là giành độc lập cho dân tộc, đêm lại sự tự do hạnh phúc
cho nhân dân “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập,dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành. Khát vọng và lý tưởng ấy
xuyên suốt mọi suy nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời cách mạng của
người. Ngày 2-9-1945 tại quảng trường ba đình lịch sử, chủ tịch Hồ Chí
2
Minh đã long trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước việt nam
dân chủ cộng hòa, mở ra một trang sử mới trong hàng ngàn năm dựng
nước và giữ nước của dân tộc việt nam.nhân dân ta từ kiếp nô lệ trở thành
người làm chủ đất nước,nước ta từ một nước thuộc địa trở thành quốc gia
độc lập, có chủ quyền, tự quyết định vận mệnh của mình. Nhà nước ta
Phạm vi nhiên cứu: trên đất nước việt nam.
4 Những đóng góp chính của đề tài :
Đối với bản thân: hiểu hơn về quy chế dân chủ của nhà nước ta,em sẽ cố
gắng học tốt để trở thành người công dân có ích cho xã hội, hoàn thành tốt
bổn phận, trách nhiệm của mình đối với đất nước.
Đố với xã hội: đưa ra những giải pháp góp phần phát huy quyền là chủ đất
nước của nhân dân, góp phần xây dựng cán bộ đảng viên trong sạch có đạo
đức cách mạng.
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp duy vật biện chứng, phối hợp các phương pháp phân tích,
tổng hợp ,điều tra,và đọc tài liệu.
B NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và thực tiễn
1 Cơ sở lý luận
a Tư tưỡng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân do dân vì dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nước lấy dân làm gốc; Gốc có vững,
cây mới bền. Người rất tâm đắc với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không
dân cũng chịu.Khó vạn lần dân liệu cũng xong” (1). Quan điểm của Hồ Chí
Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân là quan điểm xuyên suốt, cơ
4
bản, bao trùm toàn bộ quá trình phát triển của dân tộc ta. Nhà nước của dân
do dân vì dân theo Hồ Chí Minh:
Nhà nước của dân: Tất cả mọi quyền lực trong Nhà nước và trong
xã hội đều thuộc về nhân dân.Nhân dân có quyền quyết định những vấn đề
liên quan đến vận mệnh quốc gia, dân tộc. Nhà nước của dân là dân là chủ,
người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm những việc pháp
b Quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân
Quan điểm của Đảng ta về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân
Về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa , Đại hội XI tiếp tục khẳng định:
“Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống, ở mỗi cấp, trên tất cả các
lĩnh vực” (3)
Để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa cần phả thực hiện đồng bộ các giải
pháp: Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật của
Đảng và Nhà nước. Mọi đường lối, chính sách, pháp luật đều vì lợi ích nhân
dân, dựa trên ý kiến nhân dân. Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán
bộ, đảng viên và công chức phải thật sự công bộc của dân. Đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Xác định các hình thức tổ chức, cơ chế
thích hợp để thu hút tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia công
việc chung của Nhà nước. Nhân dân thụ hưởng và thực hiện quyền và nghĩa
vụ. Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước đổi với nhân dân.
Có cơ chế để nhân dân thường xuyên tham gia đề xuất kiến nghị với Đảng
và Nhà nước, phát huy vai trò lãnh đạo, nêu cao trách nhiệm đối với sự
nghiệp đổi mới. Bộ máy nhà nước và thiết chế hệ thống chính trị vừa tổ chức
6
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, vừa tham gia để xuất ý kiến với
Đảng trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách. Tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì
dân
Đại hội XI chỉ rõ phương hướng “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta là của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo”(4). Xây dựng cơ chế
hành tổng kết thực tiễn - phát triển lý luận của Đảng. Trong điều kiện hội
nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện để làm cơ
sở lý luận - thực tiễn giúp Đảng ta có đủ bản lĩnh và năng lực lãnh đạo nhân
dân ta đưa sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước tiếp tục giành được những
thắng lợi to lớn hơn.
c Pháp luật về xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân:
Trong Lời nói đầu Hiến pháp 1946 đã khẳng định: “Cuộc Cách mạng tháng
Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền
dân chủ cộng hoà” (5). Đó là lời khẳng định đanh thép về bản chất chế độ
chúng ta - một chế độ do nhân dân làm chủ. Dân chủ, như chúng ta biết,
trước hết là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc:
“Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân”. Nguyên tắc đó phải được xác định
dứt khoát trong Hiến pháp. Bởi vậy, trong khi xác định nhiệm vụ trung tâm
sau khi giành được chính quyền là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn
toàn và “kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, Hiến pháp 1946 đã xem
việc “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” là một
trong ba nguyên tắc cơ bản cần nắm vững khi xây dựng Hiến pháp cách
mạng của chúng ta.
Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc đó, tinh thần “Nhà nước của dân, do
dân, vì dân” được thể hiện đậm nét trong Hiến pháp 1946. Chẳng hạn, “Tất
8
cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”(6) “Chế độ
bầu cử là phổ thông đầu phiếu” (7) “nhân dân có quyền bãi miễn các đại
biểu mình bầu ra”(8).“Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và
những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”(9). “Nghị viện nhân dân do
công dân Việt Nam bầu ra”; “Nghị viện nhân dân họp công khai, công chúng
được vào nghe”; “những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra
nhân dân phúc quyết”; …
nước nhà”. Riêng đối với các phe chống đối Chính phủ ta (bọn Việt cách,
Việt quốc...) chúng ta vừa kiên quyết đấu tranh chống lại mọi sự phá hoại
chống đối của họ, đồng thời cũng đã cố gắng nhân nhượng, hòa giải nhằm
tạo bầu không khí ổn định cho cuộc Tổng tuyển cử. Trước tình hình còn rất
nhiều khó khăn và phức tạp đó do vậy, ngày 18-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký sắc lệnh: hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày chủ nhật 6-1-1946.
Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu.
Người nhấn mạnh: “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường
mới mẻ, ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là
ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt
Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình... Ngày
mai dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt
mình và gánh vác việc nước... Ngày mai, tất cả các bạn cử tri đều phải nhớ
đi bầu cử, ngày mai mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một
người dân độc lập, tự do”.
II Thực trạng và giải pháp
1 Những mặc tích cực và hạn chế về nhà nước của dân do dân vì dân
10
a Tích cực:
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác hẳn về bản chất và đối lập về
nguyên tắc với dân chủ tư sản. Đó là chế độ dân chủ “gấp triệu lần” hơn bất
cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử như V.I.Lênin từng khẳng định. Thực
thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc đều là trái với lí tưởng của cách
mạng, với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó
lường. Xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, thì việc dân chủ hóa
sẽ trượt sang dân chủ phi xã hội chủ nghĩa và đồng nghĩa với việc thủ tiêu
chủ nghĩa xã hội. Cần nhớ lại một bài học đau xót và thấm thía về sự vi
phạm dân chủ và thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở Liên Xô trong thời gian
vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc
truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối
thoại trực tuyến của Chủ tịch nước, của Thủ tướng Chính phủ… với nhân
dân; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kì bầu
cử Quốc hội đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm
chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt
nguyện vọng, ý kiến của mình. Điều đó thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp và
tính ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta.
b hạn chế:
Tuy nhiên, công tác xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn
chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước. Năng
lực xây dựng thể chế còn hạn chế, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách
chưa đồng bộ, thống nhất. Công tác điều hành, tổ chức thực thi pháp luật có
những mặt còn yếu. Tổ chức bộ máy ở một số cơ quan nhà nước còn chưa
12
hợp lý, chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng
chéo. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới của đất nước. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu
đề ra, còn nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân.
Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn yếu. Cải cách
tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ. Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử
trong một số trường hợp chưa chính xác, tình trạng án tồn đọng, án bị hủy,
bị cải sửa còn nhiều. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt
được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng,
chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Những hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã gây ra những khó khăn, cản
trở, làm hạn chế thành tựu của đất nước, trong một số lĩnh vực còn tạo nên
bức xúc xã hội.Việc thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở các loại hình cơ
2 Giải pháp:
- Phát huy dân chủ, tính công khai, đối thoại trong thảo luận, hoạt động
chất vấn tại các buổi tiếp xúc cử tri.
- Cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ
các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân
- Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân
định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ,
công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt
động công vụ.
14
- Cần có các buổi tập huấn cán bộ,nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo,
chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước.
- Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn
thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn
thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân.
- Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa
cấp bách, vừa lâu dài.
- Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ
quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước.
- Công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ
bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước,
- Huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản
công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ.
- Cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà nước bảo đảm
cuộc sống cho cán bộ, công chức.
C KẾT LUẬN