Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền và ý nghĩa hiện thời của nó - Pdf 16

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách
mạng thuộc xã Kiêm Liên, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Người không
những là một nhà văn hóa kiệt xuất mà còn là một nhà cách mạng, một vị anh
hùng giải phóng của dân tộc, của nhân loại. Người đã để lại cho chúng ta một
di sản tinh thần vô giá, một hệ tư tưởng có giá trị về nhiều mặt. Không chỉ đối
với Việt Nam mà ngay cả nước thuộc địa lúc bấy giờ, tư tưởng của Người cũng
được xem là một cuốn kim chỉ nam cho phong trào giải phóng dân tộc của các
nước vô sản trên toàn thế giới. Tư tưởng của Hồ Chí Minh là sự kết tinh tuyệt
vời của văn hóa dân tộc Việt Nam, lý tưởng cộng sản Mác – Lênin, tư tưởng
của các nhà cách mạng Pháp, tư tưởng tự do của Hoa Kỳ, văn hóa phương
Đông, văn hóa phương Tây và phẩm chất cá nhân của Người.
Tư tưởng của Người rộng lớn, bao quát những vấn đề cách mạng của Việt
Nam. “Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về giải phóng giai cấp, giải phóng
con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết
dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự của dân,
do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân;
về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư; về chăm lo bồi dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng
trong sạch vững mạnh, cán bộ đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ
trung thành của nhân dân”.
Trong các di sản tư tưởng mà Người để lại thì tư tưởng về xây dựng
Nhà nước pháp quyền là một nội dung cơ bản, cốt lỏi. Có thể nói, quan điểm
về Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân đã xuyên suốt quá trình
cách mạng của Hồ Chí Minh, nhất là trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo công
cuộc xây dựng đất nước.
Hơn nữa thế kỷ qua, Nhà nước kiểu mới do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng

2. Tình hình nghiên cứu
Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một tư tưởng lớn và xuyên suốt trong
tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong suốt
thời gian hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh đã giành một sự quan
tâm lớn tới việc xây dựng một Nhà nước kiểu mới Nhà nước pháp quyền dân
chủ nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân. Xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng
(1994) đã khẳng định: “ Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”. Cho đến nay đã có nhiều
công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền nói chung và tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền nói riêng trong đó có những công
trình có giá trị lý luận và thực tiển lớn như:
- TS. Phạm Ngọc Dũng (chủ biên) với “ Hồ Chí Minh vận dụng sáng
tạo và phát triển chủ nghĩa Mác, LêNin về xây dựng Nhà nước pháp quyền”,
học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (Nxb chính trị quốc gia,
2009).
- Tập thể tác giả TS. Phạm Ngọc Anh,PGS.TS. Bùi Đình Phong với “
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt
Nam” (Nxb Lao động, Hà Nội 2003).
- Tác giả Lê Minh Quân với “ Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp
ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay” (Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.)
- Tác giả Nguyễn Văn Thảo với “ Xây dựng Nhà nước pháp quyền
dưới sự lãnh đạo của Đảng”( Nxb chính trị quốc gia Hà Nội, 2006).
Ngoài ra còn nhiều bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà
nước pháp quyền được đăng trên các tạp chí triết học và tạp chí khoa học như:
Tác giả Trần Kỳ Đồng “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân, vì dân và việc xây dựng Nhà nước đó ở Việt Nam hiện nay” tạp

pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của các tài liệu chính trị, triết học về Nhà
nước pháp quyền, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về Nhà nước
4
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, củng như các đề tài nghiên cứu khoa học các tài
liệu liên quan tới đề tài.
Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
mácxít, kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic.
Đồng thời, sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và một số
phương pháp khác để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đề tài đặt ra.
6. Đóng góp của đề tài
Góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền và vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong công cuộc đổi mới
ở nước ta hiện nay.
Bản thân tôi qua nghiên cứu hiểu sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Nhà nước pháp quyền và ý nghĩa hiện thời của nó đã giúp tôi củng cố
niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tư tưởng của Bác Hồ kính yêu. Đó là
vốn quý giúp tôi có được những tư liệu này phục vụ nhiệm vụ học tập.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, khóa luận tốt
nghiệp gồm có 2 chương :
Chương 1: : Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền
ở Việt Nam
Chương 2: Ý nghĩa hiện thời của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
5
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC

chính trị chung của Khúc Hạo là “chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị,
nhân dân điều được yên vui”. Chính quyền trung ương độc lập thời Ngô
Quyền, theo nhận xét của Ngô Sỉ Liên thì “Có thể thấy được quy mô của đế
vương”. Đến Đinh Bộ Lĩnh, “bắt đầu định giai phẩm cho các quan văn võ và
tăng đạo”. Là kết quả của cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, Nhà nước độc lập
tự chủ từ họ Khúc đến Tiền Lê, có tiếp thu ít nhiều chính quyền đô hộ phương
Bắc. Nhưng nét nổi trội, xuyên suốt, trước sau nhất quán là các vương triều
luôn luôn vươn lên tự khẳng định ở mức độ cao hơn chủ quyền quốc gia đối
với nạn ngoại xâm và củng cố thêm sức mạnh của Nhà nước tập quyền trên cơ
sở cố kết các cộng đồng công xã nông thôn vào cộng đồng quốc gia dân tộc.
Thời Lý, với việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La đổi tên nước thành Thăng
Long với ý đồ mưu toan việc lớn, tính kế thừa lâu dài cho con cháu đời sau,
phản ánh niềm tự hòa, lòng tin, quyết tâm của cả dân tộc giữ vững nền độc lập
của tổ quốc.
Thế kỷ XV, Nhà nước ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ phát triển của Nhà
nước Trung ương tập quyền. Đó là một bộ máy Nhà nước quan liêu, to lớn,
nặng nề, các chế độ cai trị được thể chế hóa một cách cụ thể. Quá trình tổ chức
hoạt động của bộ máy Nhà nước có sự giám sát lẫn nhau của một số cơ quan
Nhà nước. Nhìn chung, ở giai đoạn này nước ta là một quốc gia hùng mạnh,
vừa được bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vừa đánh bại mọi âm mưu xâm lược từ bên
ngoài.
Thời kỳ chế độ Đàng trong – Đàng ngoài là một giai đoạn lịch sử đặc biệt
của Việt Nam. Bộ máy Nhà nước mang tính chất quan liêu, chuyên chế, cồng
kềnh, phức tạp, nặng nề về quân sự, nhân dân bị đèn nén nặng nề, đời sống
cực khổ. Nạn tham nhũng trở nên phổ biến, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay
gắt. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn là là tiêu biểu nhất dẫn tới việc thiết lập vương
triều Quang Trung, một vương triều nặng tính chất quan liêu như các triều đại
7
phong kiến trước đó, vừa thể hiện ý thức độc lập và tự cường dân tộc, mà thể
hiện rõ nét là chăm lo đến việc khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa.

phương Tây
Ngoài truyền thống văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh còn tiếp thu có chọn
lọc những giá trị văn hóa, những mặt tích cực, những giá trị nhân bản tư tưởng
dân chủ nhân văn của văn hóa phục hưng, của cách mạng tư sản phương Đông
và phương Tây.
Trước hết là ở văn hóa phương Đông: xuất thân trong môt gia đình nhà
nho yêu nước, Hồ Chí Minh sớm có điều kiện tiếp xúc với văn hóa phương
Đông, trong đó có giá trị nhân bản của Nho giáo, phật giáo và nhất là tư tưởng
nhân bản sâu sắc. Theo tư tưởng này thì “ dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh” để giải thích quan niệm này Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ lợi ích của nhân dân
là trước hết, thứ đến là lợi ích của quốc gia, còn lợi ích của nhà vua thì không
đáng kể” [31;91]. Hoặc tư tưởng “dân là gốc cho nước, gốc mà kiên cố thì
nước mới được an ninh”. Đó là những yếu tố hợp lý của Nho giáo mà Hồ Chí
Minh đã tiếp biến.
Là một người phương Đông, nhưng để thực hiện hoài bảo cứu nước Hồ
Chí Minh đã phải dày công nghiên cứu, tiếp thu, chọn lọc phê phán tinh hoa
văn hóa tư sản phương Tây trong vấn đề tổ chức, hoạt động của Nhà nước,
nhất là quan niệm về bản chất dân chủ, nhân đạo của Nhà nước, quan niệm về
xây dựng Nhà nước pháp quyền, về các quyền tự do, dân chủ, quyền công dân
và quyền con người
Trong hành trình tìm đường cứu nước, qua khảo sát chế độ ở Anh, Pháp,
Mỹ… những năm đầu thế kỷ XX, người phát hiện ra chính quyền ở đó vẫn ở
trong tay một số ít người. Vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai
cấp tư sản, nhưng tuy cách mạng Mỹ thành công đã hơn 150 năm, nhưng công
nông vẫn cực khổ, vẫn lo tính cách mệnh lần thứ hai. Chế độ Nhà nước tư sản
Mỹ và Pháp “tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công
nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa, cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông
Pháp hãy còn phải mưu cách mệnh lần nữa, mới hồng thoát khỏi vòng áp bức.
9
Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. Đứng về phía nhân dân, người

mới ở Việt Nam. Một Nhà nước pháp quyền trên nền tảng liên minh công
nhân, nông dân và tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ngoài ra trong khi nghiên cứu cách mạng thế giới, trước hết là cách
mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã có điều kiện nghiên cứu, tham khảo và kế thừa
những giá trị tích cực về phương pháp xây dựng mô hình Nhà nước kiểu mới
của Môngtécxkiơ, Vônte (1694 – 1778), Rútxô (1712 – 1778), những người
tuyên truyền chủ nghĩa tự do, bình đẳng của giai cấp tư sản, một xu hướng tư
tưởng tiến bộ lúc bấy giờ. Tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của các nhà khai sáng,
trong nhiều bài viết, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò, vị trí của pháp luật.
Như vậy, với thắng lợi của cách mạng tháng Mười, Nhà nước Xô viết,
Nhà nước của chuyên chính vô sản đã đem lại cho nhân dân nền dân chủ thực
sự, tỏ rõ sức sống của một chế độ mới, một lực lượng mới, những người làm
chủ vận mệnh của mình. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, nhân dân đã bắt
tay vào xây dựng xã hội chủ nghĩa không có bốc lột áp bức. Hồ Chí Minh đã
cố gắng làm tất cả, nguyện cống hiến đời mình để xây dựng một Nhà nước
kiểu mới như thế phù hợp với hoàn cảnh thực tế Việt Nam.
Người nhận thấy, những tư tưởng tiến bộ điều hướng vào nhân dân,
phục vụ cho hòa bình của nhân loại, vì một tương lai tốt đẹp hơn. Người biết
kế thừa các tư tưởng đó một cách có hệ thống, có chọn lọc, không sao chép
máy móc, củng không phủ định một cách đơn giản, mà có sự phân tích sâu sắc
tìm ra những yếu tố tích cực bổ sung vốn kiến thức và tư tưởng của mình.
1.1.1.3 Quan điểm lý luận về Nhà nước pháp quyền của chủ nghĩa Mác
– Lênin
Người tiếp thu những giá trị nhân bản và nhân văn trong tinh hoa văn
hóa phương Đông và phương Tây và cuối cùng đến với chủ nghĩa Mác –
Lênin. Đây là một bước ngoặc cơ bản trong quá trình phát triển của tư tưởng
Hồ Chí Minh. Người đã coi chủ nghĩa Mác – Lênin là kim chỉ nam và là mặt
trời soi sáng con đường đi tới thắng lợi vẽ vang của dân tộc.
11
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin là một bước ngoặc vĩ đại trong lịch

1.1.2. Cơ sở thực tiễn và sự khảo nghiệm
1.1.2.1. Tình hình trong nước ảnh hưởng đến quá trình hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước và thế giới có
nhiều biến động. Trong nước chính quyền triều Nguyễn đã lần lượt ký kết các
hiệp ước đầu hàng,thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt
Nam.Đến cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu
“CầnVương” cuối cùng cũng thất bại. Hệ tư tưởng phong kiến đã tỏ ra lỗi thời
trước các nhiệm vụ lịch sử.Các cuộc khai thác thuộc địa khiến nước ta có sự
biến chuyển và phân hóa, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt
đầu xuất hiện. Đây chính là tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước giải
phóng dân tộc Việt Nam cuôi thế kỷ XX.Cùng thời điểm đó cũng có rất nhiều
phong trào yêu nước đã nổ ra nhưng đều thất bại vì do chưa có hướng đi đúng
đắn. Vì vậy mà phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng
lợi phải đi theo con đường mới.
Trong suốt bề dày của lịch sử nhân loại, thực tiển tổ chức và thực thi
quyền lực Nhà nước cho thấy một bức tranh toàn cảnh về các kiểu Nhà nước
đương thời trong lịch sử. Tiếp thu những tích cực của các kiểu Nhà nước củ,
Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc, rút ra được những bài học từ những hạn
chế của các kiểu Nhà nước trước đây, từ đó xây dựng cho mình một hệ tư
tưởng về một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước phục vụ quyền lợi của nhân dân
lao động. Từ những hạn chế nhìn thấy được từ cách tổ chức của các kiểu Nhà
nước Việt Nam đương thời đã bất lực trong việc xây dựng đất nước cũng như
giữ nước trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Con đường cứu nước theo hệ
tư tưởng phong kiến của các phong trào kháng chiến chống Pháp như phong
trào Cần Vương; khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám điều lần lượt thất bại.
Nhà nước tư sản - sự cai trị của chính quyền tư sản – thực dân Pháp ở
Việt Nam khi đó đã gây cho nhân dân một cuộc sống khó khăn về kinh tế, bị
13
chà đạp về nhân phẩm; những giá trị dân chủ cao đẹp của trào lưu triết học

Hồ Chí Minh khẳng định: Nhà nước Việt Nam sau khi giành được độc
lập không mang bản chất tư sản.
Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam
Châu Á. Đó là minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí
Minh. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam thuộc địa, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc
đến thắng lợi, lập ra chính quyền cách mạng của dân, do dân, vì dân.
1.1.2.2. Bối cảnh quốc tế thế giới ảnh hưởng đến quá trình hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Bối cảnh quốc tế thế giới trong giai đoạn này cũng đang có những biến
chuyển to lớn. Chủ nghĩa tư bản từ cạnh tranh tự do chuyển sang độc quyền đã
xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa đế quốc
đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa. Chính vì vậy đã dẫn đến các
cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân chống lai sự bóc lột của chúng. Lên đến
đỉnh điểm là cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917đã lật đổ Nhà nước tư sản,
thiết lập chính quyền Xô Viết, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người.
Chế độ phong kiến đã hết vai trò lịch sử và sự thay thế của chế độ tư bản chủ
nghĩa là một tất yếu lịch sử. Hồ Chí Minh tìm hiểu, nghiên cứu các cuộc cách
mạng điển hình trên thế giới và các kiểu, các hình thức Nhà nước mà những cuộc
cách mạng này xây dựng sau khi cách mạng thành công đã rút ra những bài học
và kinh nghiệm sâu sắc:
Về cách mạng Mỹ 1776, đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống sự xâm
lược của thực dân Anh, Hồ Chí Minh đánh giá: tuy Tuyên ngôn độc lập 1776
có câu rằng: ‘Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của
mình, quyền làm ăn cho sung sướng… Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân
chúng thì dân chúng phải đập Chính phủ ấy đi , và gây nên một Chính phủ
15
khác”, nhưng thực chất: “ Bây giờ Chính phủ Mỹ lại không cho ai nói đến cách
mệnh, ai đụng đến Chính phủ!” [ 19;270 ]; và tuyên bố Tuyên ngôn độc lập

Từ thực tiển và nhu cầu phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam,
xu thế vận động của lịch sử nhân loại, bằng sự nhạy cảm của một nhà chính trị
lão luyện và sáng suốt vì một tấm lòng vì nước vì dân, “nước lấy dân làm gốc”,
trên cơ sở khảo cứu các loại hình Nhà nước tiêu biểu đương thời, Hồ Chí Minh
lựa chọn và chủ trương xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam.
Nhà nước dân chủ nhân dân là là hình thức chính quyền “ rốt cuộc” Hồ Chí
Minh đã tìm ra được, từng bước được xác lập ở nước ta, trở thành Nhà nước
duy nhất hợp pháp, hợp hiến sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Những tư
tưởng của Người về Nhà nước tiếp tục soi sáng sự nghiệp đổi mới của dân tộc
Việt Nam.
1.2.Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng Nhà nước pháp quyền
ở Việt Nam
1.2.1. Xây dựng một Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Xây dựng Nhà nước pháp quyền là khát vọng cháy bỏng hối thúc Người
ra đi tìm đường cứu nước. Trong suốt quá trình hoạt động ở nước ngoài củng
như cho đến lúc trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã khảo
cứu tất cả các mô hình Nhà nước trên thế giới để chuẩn bị những cơ sở lý luận
cho việc thành lập Nhà nước Việt Nam khi cách mạng thành công. Qúa trình
nghiên cứu khảo nghiệm đó, Người đã hiểu tường tận pháp luật của các nước
trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, Anh, Pháp, Nga… Đây là những nước có nền
lập pháp ra đời sớm và phản ánh đầy đủ cơ bản về quyền của con người, quyền
của các dân tộc, điều đó được thể hiện rất rõ trong hai bản Tuyên ngôn độc lập
của cách mạng Mỹ 1776, tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng
Pháp năm 1791. Chính vì vậy mà trong bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Người đã trích dẫn lại hai bản Tuyên ngôn đó. Điều
này nó dự báo cho cách mạng Việt Nam và tính vượt trước của chủ tịch Hồ
Chí Minh, bởi vì Người thấu hiểu rằng ‘‘một cuộc cách mạng thành công, để
cho các nước và thế giới công nhận, đặc biệt là Mỹ thì cuộc cách mạng đó phải
17
có một cuộc Tuyên ngôn’’ để tuyên bố cho thế giới biết. Đó củng là cơ sở tạo

trung ương Đảng lần thứ VII ( tháng 11/ 1940), đó là yêu cầu phải ban bố hiến
pháp dân chủ, ban bố những quyền tự do cho nhân dân, tự do ngôn luận, tự do
tư tưởng, tư do tính ngưỡng, tự do hội họp ‘‘trăm điều’’,‘‘thần linh pháp
quyền’’ trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao hàm mọi người, mọi hoạt động ở mọi
lúc, mọi nơi, kể các cơ quan lập pháp,hành pháp, tư pháp và nhân viên Nhà
nước từ xã đến Trung ương do dân cử ra phải có ý thức đặt mình dưới ‘‘ thần
linh pháp quyền’’ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, song đó phải là
pháp luật mang tính dân chủ, thể hiện được lợi ích của số đông, chủ tịch Hồ
Chí Minh cho rằng, luật pháp của chúng ta là ý chí của giai cấp công nhân,
pháp luật của chúng ta hiện nay bảo vệ quyền lợi hàng triệu người lao động,
pháp luật của chúng ta là pháp luật thực sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do
dân chủ rộng rải cho nhân dân lao động. Nhân dân ta hiện nay có tự do nhưng
tự do trong kỉ luật. Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do
của người khác. ‘‘Người nào quyền tự do của mình quá mức mà vi phạm đến
tự do của người khác’’.
Khác với hệ thống pháp luật tư sản, pháp luật của Nhà nước ta thểhiện ý
chí của đại đa số nhân dân, phản ánh lợi ích và công cụ để bảo vệ lợi ích của
đại đa số nhân dân lao động. Đó là hệ thống pháp luật thực sự dân chủ ‘‘ vì nó
bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rải cho nhân dân lao động’’. Tuy nhiên, dân
chủ ở đây được hiểu là dân chủ trong kỉ luật, chứ không phải dân chủ vô Chính
phủ, dân chủ trong giới hạn cho phép. Vì vậy, chủ tich Hồ Chí Minh yêu cầu
trong thực thi pháp luật phải đảm bảo tính hiệu quả và nghiêm minh. Có như
vậy mới đảm bảo tự do cho công dân và tạo điều kiện cho sự phát triển ổn
định, bền vững của xã hội. tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về pháp luật
không chỉ là đề cao pháp luật dân chủ mà còn mang đậm tính nhân văn. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã biết kết hợp nhuần nhuyễn pháp luật và đạo đức trong
quản lý xã hội. Kế thừa văn hóa phương Đông nhưng không tuyệt đối hóa dẫn
đến Đức Trị như Khổng Tử, hoặc Pháp trị của Hàn Phi Tử, dùng cái nọ loại trừ
19
cái kia, mà chủ tich Hồ Chí Minh kết hợp nhuần nhuyễn pháp luật và đạo đức

nhiều đã được cụ thể hóa, bao gồm quần chúng công – nông – binh, những bộ
phận đông đảo, chủ yếu nhất trong cơ cấu dân cư. Nhà nước Việt Nam kiểu
mới thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc mà nồng cốt là công – nông - tri thức.
Tất cả mọi người dân Việt Nam, không phân biệt gái trai, giàu nghèo, nòi
giống, dân tộc, giai cấp, tôn giáo đều là người của Nhà nước, có trách nhiệm
xây dựng Nhà nước. Ngay từ ngày đầu mới thành lập, Hồ Chí Minh đã khẳng
định: Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. “Nước
ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…Nói tóm lại, quyền
hành và lực lượng đều ở nơi dân”[20;698].
Tính chất dân chủ nhân dân, quyền lực Nhà nước là của dân trở thành một
nguyên tắc nền móng trong tổ chức xây dựng Nhà nước mới và được quy định
rõ trong các bản Hiến pháp nước ta. Điều 1 Hiến pháp năm 1946 quy định
“Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền binh trong nước
là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt gái trai, nòi giống hay tôn
giáo”. Còn điều 4 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “ Tất cả quyền lực trong nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa điều thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền
lực của mình thông qua Quốc Hội và Hôi động nhân dân các cấp do nhân dân
bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”
Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh: Nhà nước Việt Nam là Nhà nước
do nhân dân lao động làm chủ hàm chứ trong đó hai hạt nhân lý luận đặc sắc.
Một là: Đây là phương thức tiếp cận nội hàm dân chủ chủ yếu của Người.
Bản chất dân chủ của Nhà nước thể hiện ở vị trí của người dân trong Nhà nước
đó. Định nghĩa “dân chủ là dân là chủ” rất súc tích, ngắn gọn, nhưng lại có ý
nghĩa khái quát cao, phản ánh quá trình phát triển tư tưởng tiến bộ của loài
người trong vấn đề dân chủ.
Hai là: Nó xuất phát từ một quan niệm truyền thống có giá trị phổ quát, xác
định rõ dân là gốc của một nước, ở phương diện thứ hai này cho thấy, tính chất
dân chủ là đặc trưng nổi bật của chính quyền Nhà nước kiểu mới. Nó khẳng
21
định nguồn gốc, sức mạnh, và chủ thể quyền lực Nhà nước là ở nhân dân lao

nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhà
nước do dân tức là mọi công việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của nhân
dân. Do đó phải phát huy vai trò của mặt trận, các đoàn thể trong công tác
quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả, nhất định phải dựa vào lực lượng của dân,
dựa vào sáng kiến và trí tuệ của dân. Nhà nước do nhân dân trong tư tưởng của
chủ tịch Hồ Chí Minh là dân tự làm, tự lo thông qua các mối quan hệ trong xã
hội, các đoàn thể chứ không phải các Nhà nước bao cấp, lo thay cho dân. Chức
năng của Nhà nước là quản lý, điều hành xã hội ở cấp vĩ mô.
Sau này, Hồ Chí Minh còn giải thích rõ mối quan hệ của Nhà nước và nhân
dân. Dân là chủ thì Chính phủ là đầy tớ. Làm việc ngày này không phải là để
thăng quan, phát tài, nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính
phủ. Nhưng khi dân dùng đầy tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đở Chính
phủ, nếu Chính phủ sai thì phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi. Theo
Hồ Chí Minh để quan hệ của dân và Nhà nước, người cầm quyền – công bộc
có thể thực hiện theo đúng nghĩa của nó, cần có các điều kiện:
Trước hết đối với dân: khi trao quyền ủy quyền cho Nhà nước, cán bộ công
chức Nhà nước thì tin cậy, tin tưởng, phải cho họ có thực quyền thì mới thực
hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, mới làm lợi cho dân, trừ hại cho
quần chúng.
Còn đối với cán bộ công chức, người cầm quyền muốn làm tròn bổn phận
“công bộc” của dân thì phải làm thế nào để dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn
vậy, phải biết gần dân, sát dân, hiểu dân, thương dân, biết sử dụng sức mạnh
của dân.
Nhà nước do nhân dân làm chủ là một suy nghĩ nhất quán, một mong muốn
và đồng thời là một yêu cầu của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Người đã nhiều lần
khẳng định “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm
chủ”[24;452]. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyền làm chủ của nhân dân
càng trở nên cần thiết, toàn diện hơn. Hồ Chí Minh nhấn mạnh và có ý nhắc
23
nhở: “Nhà nước ta ngày nay là của tất cả nhân dân lao động. Vậy công dân,

Trích đoạn Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân mang bản chất của giai cấp công nhân Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân chủ và tổ chức thực hiện pháp luật nghĩa hiện thời của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền và sự vận dụng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục thực hiện và giải quyết Một số giải pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status