Quan điểm về con người trong đạo gia và ý nghĩa hiện thời của nó - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRỊNH THÚY AN

QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƢỜI TRONG ĐẠO GIA VÀ
Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRỊNH THÚY AN

QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƢỜI TRONG ĐẠO GIA VÀ
Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Cảnh

Hà Nội - 2015


luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 7
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu .................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 8
7. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn ...................................................... 8
8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 8
NỘI DUNG....................................................................................................... 9
Chƣơng 1: BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ TỔNG QUAN VỀ TƢ TƢỞNG
TRIẾT HỌC CỦA ĐẠO GIA ........................................................................ 9
1.1. Bối cảnh ra đời và sự phát triển của Đạo gia ........................................ 9
1.1.1. Bối cảnh ra đời của Đạo gia ................................................................... 9
1.1.2. Sự phát triển của Đạo gia ..................................................................... 16
1.2. Tổng quan về tƣ tƣởng triết học của Đạo gia ...................................... 20
1.2.1. Học thuyết về Đạo và Đức .................................................................... 20
1.2.2. Tư tưởng vô vi ....................................................................................... 27
1.2.3. Tư tưởng biện chứng ............................................................................. 32
1.2.4. Quan điểm về chính trị - xã hội............................................................. 39
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 43
Chƣơng 2: QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƢỜI TRONG ĐẠO GIA ............ 44
2.1. Nguồn gốc và bản chất của con ngƣời .................................................. 44
2.2. Vấn đề nhận thức ................................................................................... 49

Trong lịch sử phát triển văn minh, văn hóa nhân loại, vấn đề con người
và tương lai con người luôn giữ vị trí trung tâm và trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học nhau, đặc biệt là khoa học xã hội nhân văn
nhưng xét thấy chỉ có triết học mới nhận thức con người một cách toàn diện
trong tính chỉnh thể của nó. Những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về con
người như: Nguồn gốc, bản chất con người là gì? Con người nhận thức về thế
giới này và về bản thân mình như thế nào? Hay vai trò của con người trong sự
phát triển của nhân loại ra sao? Có thể nói vấn đề con người là vấn đề xưa cũ,
song nó luôn luôn được đặt ra đối với mọi thời đại và luôn luôn được làm mới
mẻ. Trong dòng chảy phát triển của lịch sử triết học nhân loại, chúng ta không
thể không nhắc đến Trung Quốc. Cùng với Ấn Độ, Trung Quốc là cái nôi của
nền văn minh phương Đông nói riêng và nhân loại nói chung. Trải qua quá
trình hình thành và phát triển lâu dài, lịch sử triết học Trung Quốc nói chung
và Trung Quốc cổ đại nói riêng bao hàm một nội dung cực kì phong phú với
hệ thống triết học rộng lớn và sâu sắc, đặc biệt là những nội dung nghiên cứu
về vấn đề con người. Đây được coi là vấn đề trung tâm, nổi bật trong lịch sử
tư tưởng Trung Quốc. Con người là tâm điểm cho việc hình thành thế giới quan
và lí giải vấn đề nhân sinh quan, chính trị, luân lí xã hội của các trường phái
triết học Trung Quốc cổ đại. Tâm điểm ấy chủ yếu bị quy định bởi điều kiện
lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và tư tưởng văn hóa Trung Quốc thời Xuân
Thu - Chiến Quốc. Trong thời kì “Bách gia chư tử” đó, cùng với các trường
phái khác, Đạo gia cũng góp một phần công lao trong việc nghiên cứu nguồn
gốc, bản tính con người và đưa ra những giải pháp khác nhau trong việc cải hóa
con người từ ác trở về thiện, xây dựng xã hội thịnh trị. Nếu bỏ qua những hạn
chế về lịch sử thì đó là những tư tưởng tiến bộ và là những bài học lịch sử sâu
sắc, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng con người ngày nay.

1





cũng đã được quan tâm. Tuy nhiên ở nước ta cho tới nay hãy còn chưa có một
chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề con người
trong Đạo gia, đặc biệt là ý nghĩa hiện thời của nó.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chuyên khảo về vấn đề con người trong
Đạo gia nhìn chung vẫn còn thiếu tính hệ thống và chưa có một chuyên khảo
riêng về vấn đề này. Tuy đã có một số tác giả đề cập đến vấn đề này nhưng nó
chỉ xuất hiện với tư cách là một khía cạnh, một mặt trong toàn bộ nội dung
nghiên cứu chung. Trong những năm gần đây, có rất nhiều những công trình
như vậy. Trong đó một số tác giả đáng chú ý như: Doãn Chính, Vũ Minh Tâm,
Phùng Hữu Lan, Nguyễn Hiến Lê... Đó là những người đã đi sâu nghiên cứu về
triết học Trung Quốc, triết học sử Trung Quốc, văn học sử Trung Quốc, trong
đó vấn đề con người trong triết học Đạo gia cũng đã được đề cập đến.
PGS.TS Doãn Chính là tác giả của một số cuốn sách và nhiều bài
nghiên cứu đáng chú ý về triết học Trung Quốc qua các thời kì lịch sử. Ví dụ
như cuốn "Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc" (2004), Nxb Chính trị
Quốc gia. Trong công trình này, ở chương II: Triết học thời Xuân Thu - Chiến
Quốc, tác giả đã dành một phần nội dung tập trung phân tích về thế giới quan,
nhân sinh quan, các học thuyết, tư tưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo
gia, trong đó có vấn đề về con người. Ngoài ra, ông còn có một số bài viết
đăng trên các tạp chí như: "Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại"
(2003) trên Tạp chí Thanh niên hay "Vấn đề bản tính con người trong triết
học Trung Quốc cổ đại" (2007) trên Tạp chí Triết học số 6. Đó là những bài
viết có phạm vi nghiên cứu hẹp hơn so với những cuốn sách của ông. Ở đó,
ông đã quan tâm đi sâu nghiên cứu vấn đề bản tính con người của các trường
phái triết học Trung Quốc cổ đại, trong đó có Đạo gia. Bên cạnh đó có thể kể
đến cuốn "Lịch sử triết học Trung Quốc" (2013), Nxb. Khoa học - xã hội của
tác giả Phùng Hữu Lan, cuốn "Đại cương triết học Trung Quốc" (2004), Nxb.
Tp Hồ Chí Minh của hai tác giả Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Đó đều là

Thanh Liêm làm Chủ tịch Hội đồng dịch thuật, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà

4


Nội, 2002. Đây là bộ sách có giá trị văn hóa lớn, đã giới thiệu tóm lược toàn
bộ nền văn hóa lâu đời của nước Trung Hoa một cách đầy đủ, sâu sắc, khoa
học trên nhiều bình diện. Ở đó, tác giả đã dành hẳn quyển thứ chín đề nghiên
cứu những quan điểm về vấn đề con người trong Đạo gia. Các quan điểm về
con người đã được trình bày, phân tích khá cụ thể và chi tiết. Đó là những vấn
đề như: Đạo là hạt nhân của hệ thống học thuật đạo; quan điểm hữu vô của
Lão Tử và chủ nghĩa tương đối của Trang Tử; quan điểm vô vi của Đạo gia;
quan điểm vô vi, vô đãi, vô kỉ của Trang Tử; quan điểm tự nhiên học thuyết
tĩnh khí của Đạo gia ... Tuy nhiên những quan niệm về nguồn gốc, bản chất
của con người và nhất là ý nghĩa hiện thời của những quan niệm về con người
đối với vấn đề con người hiện nay thì vẫn chưa được đề cập.
Ngoài ra còn một số bài viết trong khi tìm hiểu vấn đề con người Trung
Quốc nói chung hoặc tìm hiểu về Lão Tử, Trang Tử...ít nhiều cũng đã đề cập
đến vấn đề này như: Luận án tiến sĩ “Tư tưởng triết học của Trang Tử trong
tác phẩm Nam Hoa Kinh” của Cung Thị Ngọc, "Vấn đề con người trong triết
học Trung Quốc cổ đại" (2010) của Kim Chi, Tạp chí Khoa học xã hội số 9;
bài viết "Hạt nhân và ý nghĩa triết lí của Trang Tử với cuộc sống hiện đại"
(1999) của Cung Thị Ngọc, Tạp chí Triết học số 2; bài viết "Về vấn đề con
người và xã hội con người trong triết học Lão Tử (2009) của Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Tạp chí Phát triển Khoa học và công nghệ.
Nhìn chung, những công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề con
người trong Đạo gia vẫn còn ít ỏi. Thậm chí chưa thấy một công trình nào
nghiên cứu một cách cụ thể chi tiết và hệ thống về vấn đề này.
Xung quanh vấn đề tìm hiểu những ý nghĩa hiện thời của những quan
điểm về con người trong Đạo gia, cho đến nay đã có ít nhiều công trình và tác

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là tìm hiểu những tư tưởng triết học cơ bản về
con người trong triết học Đạo gia và ý nghĩa hiện thời của nó.

6


3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên đây, nhiệm vụ của luận văn là:
Thứ nhất, tìm hiểu khái quát điều kiện kinh tế, điều kiện chính trị, điều
kiện văn hóa - xã hội và một số tiền đề tư tưởng triết học cơ bản nhằm luận
chứng cho sự ra đời của triết học nói chung và những quan điểm triết học về
con người của Đạo gia.
Thứ hai, phân tích và hệ thống hóa một số tư tưởng triết học cơ bản về
con người trong Đạo gia chủ yếu trong các tác phẩm “Đạo Đức kinh” và Nam
Hoa kinh”.
Thứ ba, luận văn trình bày, phân tích một số ý nghĩa rút ra từ những
quan điểm triết học về con người trong triết học Đạo gia đối với vấn đề con
người hiện nay trên các phương diện nhận thức cũng như thực tiễn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là những quan điểm cơ bản
về con người trong triết học Đạo gia và ý nghĩa hiện thời của nó.
4.2. Phạm vi
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những tư tưởng triết học cơ bản về
con người trong Đạo gia chủ yếu thông qua tác phẩm “Đạo Đức kinh” của
Lão Tử và “Nam Hoa kinh” của Trang Tử cùng với một số các sách, bài viết
và các tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước thế hệ đi trước
đã nghiên cứu về Đạo gia để từ đó tìm hiểu ý nghĩa hiện thời của nó đối với

tập và cho những ai quan tâm đến vấn đề con người trong triết học Đạo gia và
ý nghĩa hiện thời của nó.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chương, 9 tiết.

8


NỘI DUNG
Chƣơng 1: BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ TỔNG QUAN VỀ TƢ TƢỞNG
TRIẾT HỌC CỦA ĐẠO GIA
1.1. Bối cảnh ra đời và sự phát triển của Đạo gia
1.1.1. Bối cảnh ra đời của Đạo gia
- Điều kiện kinh tế
Lịch sử của nhà Chu bắt đầu từ sự thắng lợi của cuộc chiến tranh thôn
tính giữa bộ tộc Chu với nhà Ân - Thương và kết thúc với sự kiện Tần Thủy
Hoàng thống nhất Trung Quốc và lên ngôi Hoàng Đế năm 221 tr.CN. Trung
Quốc cổ đại dưới thời nhà Chu (1134-221 tr.CN), được chia làm hai giai đoạn
Tây Chu (1134-770 tr.CN) và Đông Chu (770-221 tr.CN). Vì vậy trong lòng xã
hội chất chứa nhiều mâu thuẫn xã hội, bùng phát nhiều biến động dữ dội báo
trước một cuộc chuyển biến lớn lao. Nói về thời kì Xuân Thu - Chiến Quốc các
sử gia đều cho rằng đây là thời kì hôn quân, loạn thần, uy quyền thao túng,
nhưng đồng thời cũng là thời kỳ xử sĩ được tự do nghị luận chính trị.
Về tình hình kinh tế thời Xuân Thu thì tiến bộ mới quan trọng nhất
trong thời kì này là sự ra đời của đồ sắt. Đồ sắt xuất hiện phổ biến, công cụ
sản xuất bằng sắt tham gia vào thế giới công cụ đồng đá trước đây đã đem lại
sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp. Đến
thời Xuân Thu trong lĩnh vực canh nông phương pháp canh tác rất tiến bộ,
nhờ lưỡi cày bằng sắt, nhờ biết dùng bò để kéo cày, tạo điều kiện thuận lợi

trả tiền thuê nhân công, cho vay lấy lãi, nộp thuế. Thành thị đã có một cơ sở
kinh tế tương đối độc lập, từng bước thoát ra khỏi chế độ thành thị thị tộc của
quý tộc thị tộc, thành những đơn vị khu vực của tầng lớp địa chủ mới lên hay
còn gọi là Hiển tộc.
Như vậy Trung Hoa cổ đại là thời kì tan rã suy tàn của một mô hình
kinh tế - xã hội cũ theo truyền thống thị tộc mà trong đó thời Xuân Thu Chiến Quốc là thời kì biểu hiện rõ nhất. Sự tan rã này có nguyên nhân sâu xa
từ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển đó tất yếu dẫn đến sự

10


hình thành sở hữu tư nhân. Đồng thời sự suy yếu của thế lực chính trị của nhà
Chu đã khiến cho các thế lực địa phương thực hiện chiếm của công làm của
tư. Điều đó càng thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời của sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất ở thời cổ đại Trung Hoa. Lực lượng kinh tế tư hữu ra đời là một thế
lực đối chọi với chế độ sở hữu đất đai nhà Chu. Như vậy điều kiện kinh tế là
cơ sở hình thành đầu tiên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự hình thành của Đạo
gia. Nguyên nhân của mọi biến động xã hội suy cho cùng bắt nguồn từ
nguyên nhân kinh tế. Chính những sự thay đổi to lớn trong lĩnh vực kinh tế đã
tạo ra những thay đổi trong điều kiện chính trị.
- Điều kiện chính trị
Sự phát triển của sức sản xuất, kinh tế phát triển đã tác động mạnh mẽ
đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Tầng lớp mới
lên nắm quyền đã lấn chiếm một phần đất và một phần dân. Giai cấp quý tộc
thị tộc Chu bị mất đất mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút và đương nhiên
vai trò thống trị, ngôi Thiên tử của vua Chu chỉ còn là hình thức. Sự phân biệt
sang hèn dựa trên tiêu chuẩn huyết thống của chế độ thị tộc tỏ ra không còn
phù hợp nữa mà đòi hỏi phải dựa trên cơ sở tài sản. Tầng lớp địa chủ mới lên
ngày càng giàu có, lấn át quý tộc thị tộc cũ, thậm chí còn chiếm cả chính
quyền như họ Quý thị ở nước Lỗ, họ Trần ở nước Tề. Xã hội Trung Quốc xảy

mới, đó là thế lực địa chủ ở các địa phương. Xu hướng chính trị của những
thế lực mới này là thâu tóm quyền lực, tập trung uy quyền và mở rộng sự
thống trị lật đổ triều Chu. Hệ quả xã hội của xu hướng này thật tàn khốc.
Những cuộc nội chiến kéo dài diễn ra. Điều đó đã làm đảo lộn mọi thiết chế,
nghi lễ truyền thống nhà Chu làm cho xã hội rơi vào cảnh loạn lạc, phá hoại
sức sản xuất ghê gớm.

Như vậy kết quả của những biến động của điều kiện

kinh tế đã dẫn đến sự đa dạng trong kết cấu giai tầng của xã hội. Nhiều giai
tầng mới xuất hiện, mới cũ đan xen và mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Có thể
tóm tắt mấy mâu thuẫn chính nổi lên trong thời kì này là:
- Mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có tư hữu tài sản có địa vị kinh tế
trong xã hội mà không được tham gia chính quyền với giai cấp quý tộc thị tộc

12


cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền.
- Mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với
giai cấp quý tộc thị tộc nhà Chu.
- Trong bản thân giai cấp quý tộc thị tộc Chu có một bộ phận tách ra,
chuyển hóa lên giai tầng mới, một mặt họ muốn bảo lưu nhà Chu, một mặt họ
cũng không hài lòng với trật tự cũ của nó. Họ muốn cải biến nó bằng con
đường cải lương cải cách.
- Tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc, một mặt họ đang bị tầng lớp mới lên tấn
công về chính trị và kinh tế, mặt khác họ cũng có mâu thuẫn với tầng lớp đại
quý tộc thị tộc đang nắm chính quyền.
- Mâu thuẫn nông dân công xã thuộc các tộc bị người Chu nô dịch với nhà
Chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột, tận dụng sức lao động của họ.

phẩm có giá trị văn hóa tư tưởng khá sâu sắc. Đáng chú ý nhất là sự ảnh
hưởng của Kinh Dịch đến tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại trong đó có
Đạo gia. Đây là bộ sách kinh điển của Trung Quốc. Nó là một hệ thống tư
tưởng triết học của người Á Đông cổ đại. Ban đầu Kinh Dịch được coi là một
hệ thống bói toán nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi những nhà triết
học. Những lí thuyết về Âm Dương, Ngũ hành, Thái cực, Vô cực… được Đạo
gia lấy từ trong Kinh Dịch và làm nền tảng cho những tư tưởng triết lí cơ bản
của mình.
Về mặt văn hóa tư tưởng trong thời kỳ này rất đáng chú ý, đó là hiện
tượng “Trăm nhà đua tiếng”. Chính không khí sôi nổi trong học thuật và sự đa
dạng phong phú của các học phái ở thời Xuân Thu Chiến Quốc là điều kiện
đưa đến một học thuyết triết học Đạo gia hoàn chỉnh. Có nhiều nguồn tư liệu
khác nhau về các học phái triết học thời kì này tham gia tranh luận. Theo sách
“Hán thư Nghệ văn chí‟ của Ban Cố (32-92) thì có tới 14 “gia đình” triết học
hay theo sách “Thất lược” của Lưu Hâm thì có 9 trường phái gọi là “Cửu
Lưu”. Theo bảng phân loại của Tư Mã Đàm, đời Tiền Hán thì chỉ có 6 nhà là
Âm Dương gia, Nho gia, Mặc gia, Danh gia, Pháp gia, Đạo gia. Trong suốt
thời kì lịch sử triết học thì cách phân loại này là hợp lí hơn cả. Thời Xuân Thu

14


Chiến Quốc, cuộc chiến tranh thôn tính giữa các nước chư hầu diễn ra ngày
càng gay gắt khốc liệt, vì thế việc tìm ra một con đường hay biện pháp giải
quyết được đặt ra như một vấn đề cần được giải quyết một cách cấp bách
nhất. Thời kì này trong kho tàng văn hóa cũng đã ẩn chứa những tiền đề về tư
tưởng gợi mở sự sáng tạo của các học sĩ. Xã hội xuất hiện tầng lớp sĩ nhân
mới nổi lên, với việc nắm được kiến thức văn hóa khoa học là tiêu chí của
tầng lớp này, họ có thể quan sát, tổng kết thời thế xã hội cũng như đề xướng
các luận thuyết khoa học và các biện pháp giải quyết những vấn đề xã hội.

khai bảo vệ trật tự xã hội nhà Chu đang tan rã và cũng không chuyển kịp sang
giai cấp địa chủ mới để hô hào vận động cách tân. Một mặt tư tưởng của Đạo
gia là sản phẩm của thời đại nhưng mặt khác nó cũng là sự kết tinh trí tuệ sự
thể hiện nét sáng tạo độc đáo trong thế giới quan của các nhà hiền triết thuộc
phái Đạo gia.
1.1.2. Sự phát triển của Đạo gia
Đạo gia được khởi đầu từ Lão Tử rồi sau đó được phát triển qua một
quá trình dài với sự đóng góp của nhiều học giả, ẩn sĩ cùng những tác phẩm
của họ. Tư tưởng Đạo gia được thể hiện chủ yếu qua các tác phẩm “Đạo Đức
kinh” của Lão Tử, “Nam Hoa kinh” của Trang Tử và một số tư tưởng của
Trang Tử được ghi chép tản mạn trong các sách “Mạnh Tử”, “Hàn Phi Tử”,
“Lã Thị Xuân Thu”, “Liệt tử”…
Theo Sử kí Tư Mã Thiên (175-?86 tr.CN), Lão Tử là người nước Sở,
huyện Khổ, làng Lệ, xóm Khúc Nhân, ở tỉnh Hồ Nam bây giờ. Ông họ Lí, tên
Nhĩ, tự Bá Dương, thụy là Đam. Ông làm quan giữ tàng thất nhà Châu… Tiểu
sử của ông còn gây nhiều tranh cãi trong giới học thuật, không có quan điểm
thống nhất về năm sinh năm mất của ông. Lão Tử trau dồi đạo đức, học thuyết
của ông cốt ở chỗ giấu mình, kín tiếng.
Người tiếp tục đường lối Đạo gia của Lão Tử là Dương Chu tự Tử Cư
sống ở thời Chiến Quốc. Chuyện về ông chỉ có vài dòng trong “Mạnh Tử”,
“Hàn Phi Tử”, “Lã Thị Xuân Thu”, “Hoài Nam tử”. Học thuyết của ông được
biết đến là nhờ có chép trong sách Liệt tử. Không ai biết đích xác ông sinh,

16


mất năm nào. Nguyễn Hiến Lê đoán rằng ông sinh trước Mạnh Tử và sau
Mặc Tử. Chủ thuyết của Dương Chu là quý sự sống trọng bản thân.
Trang Tử sinh vào khoảng năm 369 TCN và mất khoảng năm 286
TCN, tức vào giữa thời Chiến Quốc, người huyện Mông tên là Chu có lần làm

nhiên, trực giác tâm linh và phi lí tính. Có lẽ với thân phận của tầng lớp thất
thế đã bị mất đi vai trò chính trị nên các triết gia của Đạo gia không còn gắn
trực tiếp với những biến động chính trị hiện thời và do đó họ có điều kiện để
suy ngẫm các vấn đề tự nhiên, về cuộc sống hơn nữa trong kho tàng văn hóa
Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều thành tựu văn hóa khoa học đồ sộ đã tạo
đà cho sự khám phá sáng tạo của họ. Bởi vậy họ đã vượt trước nhiều hiền giả
đương thời bởi những tư tưởng về cội nguồn bản chất của vạn vật nguyên
nhân sâu xa của hiện trạng xã hội và nhân sinh, với lăng kính đại diện cho
tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc đang suy tàn, nên tư tưởng của họ thể hiện sự bất
lực trước thời cuộc và tâm trạng hoài nghi tuyệt vọng của tầng lớp đó. Con
đường mà triết học Đạo gia đưa ra để cứu đời, dẹp loạn giống như một biện
pháp để giải thoát cá nhân. So với Nho gia những quan niệm triết học về con
người của Đạo gia đạt tới mức độ trừu tượng, lí tính hóa ở mức độ cao hơn do
chỗ Đạo gia xuất phát từ quan niệm Đạo như là “tính quy luật của tự nhiên” để
giải thích nguồn gốc tự nhiên của con người và đề cao tư duy trừu tượng trong
quan niệm về nhận thức…Đạo gia đã có ảnh hưởng to lớn đến nhiều lĩnh vực
như chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, y thuật, sinh
học, hóa học, võ thuật, địa lí… ở Trung Quốc và một số nước châu Á khác.
Tuy chia làm nhiều quan điểm đa dạng và phong phú nhưng Đạo gia
nổi bật ở một điểm là đề cao con người đến mức đặt vấn đề lợi ích cá nhân,
rằng: Lợi ích cao nhất của cá nhân là gì? Làm thế nào để đạt tới lợi ích cá
nhân? Chẳng hạn Dương Chu nêu lên thuyết “toàn sinh” có nghĩa là bảo toàn
sinh mạng là quan trọng nhất, muốn vậy phải hạn chế dục vọng, coi thường
lợi ích của ngoại giới, giữa người với người phải giữ quan hệ hòa khí; Trang
Tử lại cho rằng lợi ích tối cao của con người không phải sống lâu hay không
sống lâu mà là thỏa mãn dục vọng, do vậy chủ trương tiêu dao, hồn nhiên

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status