MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão, làm
cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nối dài cánh tay của con người
trong khai thác tự nhiên, làm biến đổi đời sống kinh tế - xã hội thế giới. Đối
với Việt Nam, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phương tiện để đạt đến mục
tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Thực tế cho thấy, việc đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã giúp chúng ta đạt được những
thành tựu to lớn, có những bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực
kinh tế. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình đó cùng với sự tác động của những
yếu tố khác khiến chúng ta đang phải đối mặt với sự cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên và suy thoái môi trường.
Ở Việt Nam, đến giữa thế kỉ XX, vấn đề môi trường chưa có những
diễn biến phức tạp, chưa trở thành vấn đề nan giải cần phải được quan tâm.
Nhưng trong nhiều bài nói và bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện sự
quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ môi trường. Đó chính là tầm nhìn vượt
trước trong tư tưởng của Người.
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã phê phán sự tàn phá đối với tự nhiên
ở các nước thuộc địa và tố cáo tội ác chiến tranh của chủ nghĩa thực dân, đế
quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức tầm quan trọng của môi
trường, bảo vệ môi trường và dặn dò nhân dân, cán bộ, chiến sĩ, các cháu thanh
thiếu niên, nhi đồng phải có ý thức bảo vệ môi trường.
Hơn thế, Hồ Chí Minh đã đặt công tác bảo vệ môi trường vào sự tương
quan trong sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Công
cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, kiến thiết nước nhà được tiến hành
song song, đồng thời với sự nghiệp bảo vệ môi trường. Trong một chừng mực
nào đó, việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường còn được Người
tài và được chia làm hai nguồn tư liệu:
2
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường
Hiệ n nay, tư tưở ng Hồ Chí Minh đã đượ c nhiề u nhà lý luậ n, nhà
khoa họ c, quan tâm nghiên cứ u dướ i các gó c độ khá c nhau trong đó , liên
quan đế n tư tưở ng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường có những công
trì nh tiêu biể u sau:
Năm 2010, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội đã xuất bản cuốn
Về tài nguyên thiên nhiên của hai tác giả Lê Văn Yên và Vũ Thị Hương.
Trong công trình này, các tác giả đã tập hợp những bài viết, bài nói của Hồ
Chí Minh về vấn đề tài nguyên, môi trường từ những năm giữa thế kỉ XX.
Tuy nhiên, đây chỉ là tập hợp, hệ thống các bài báo, đoạn trích… từ các tác
phẩm của Hồ Chí Minh mà chưa có sự phân tích để làm nổi bật các giá trị
trong tư tưởng của Người về vấn đề bảo vệ môi trường.
Cuốn Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế của tác giả
Phan Ngọc Liên do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội ấn hành năm 1995.
Trong tác phẩm, tác giả đã phân tích tầm nhìn thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trên rất nhiều lĩnh vực, trong đó có mối quan tâm của Người tới vấn đề bảo vệ môi
trường sống. Bằng việc phân tích “Tết trồng cây”, “Rừng vàng, biển bạc”… tác
giả đã chỉ ra ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học, thẩm mỹ trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường.
Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam do
Vũ Văn Hiền và Đinh Xuân Lý đồng chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003, có bài viết “Giải quyết mối quan hệ phát triển xã hội với bảo vệ
môi trường thiên nhiên theo quan điểm Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Quang
Trường. Bài viết đã nêu lên sự tác động của con người đến môi trường tự nhiên
trong quá trình phát triển kinh tế và vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển bền vững về kinh tế với phát triển
“Chống Đuy rinh” và đặc biệt trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”. Trong
tác phẩm này, Ph.Ăng ghen đã cảnh tỉnh chúng ta về những nguy cơ mà con
4
người có thể gây ra và con người phải nhận lại hậu quả từ môi trường đáp trả.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, trước sự xuống cấp nghiêm trọng của
môi trường và những ảnh hưởng to lớn của nó tới đời sống cũng như sức khỏe
của con người, hàng loạt các hội thảo, các công trình nghiên cứu của nhiều tổ
chức, cá nhân về vấn đề này đã được công bố.
UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc) trong các Báo cáo
phát triển con người hàng năm đã liên tục gióng lên những hồi chuông
cảnh báo về bối cảnh tương lai của Trái đất. Báo cáo đã cung cấp rất nhiều
các bằng chứng khoa học chứng tỏ rằng, biến đổi khí hậu là do con người
gây ra, đã và đang đẩy thế giới đến một thảm hoạ sinh thái và những tác
động xấu đến sự phát triển con người. Tuy nhiên, chúng ta có thể giành
thắng lợi trong cuộc chiến bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, khi
chính phủ các nước và người dân trên khắp thế giới đề ra được các giải
pháp chung tay bảo vệ môi trường.
Ở Việt Nam, nhiều công trình, chuyên đề, bài báo khoa học có giá trị
của các nhà nghiên cứu đã được công bố về vấn đề này. Trong đó, có một số
công trình tiêu biểu về vấn đề bảo vệ môi trường như sau:
Tập thể tác giả PGS.TS. Nguyễn Đức Khiển, Phạm Văn Đức, Đinh
Minh Trí (2010) với công trình“Thực thi luật và chính sách Bảo vệ môi
trường tại Việt Nam”, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông, đã phân tích
thực trạng môi trường và các chính sách pháp luật liên quan đến môi trường
làm thay đổi nhận thức và hành động của con người trong lao động sản xuất
góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam.
Với nhiều số liệu cụ thể, chi tiết về cuộc sống, đặc biệt là ô nhiễm môi
vệ môi trường hiện nay đã được tiếp cận, nghiên cứu từ nhiều hướng khác nhau,
nhưng tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:
1- Nội dung cơ bản và tầm nhìn vượt trước của tư tưởng Hồ Chí Minh về
bảo vệ môi trường.
6
2- Vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam
hiện nay.
3- Ý nghĩa, sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường
trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường đã được nhiều công
trình nghiên cứu đề cập đến. Tuy nhiên, do giá trị lý luận cũng như thực tiễn lớn
lao của tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường, nên vấn đề này vẫn cần
được tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn nữa, nhất là trong điều kiện chúng ta đang
thực hiện chiến lược phát triển bền vững đất nước hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi
trường và ý nghĩa hiện thời của tư tưởng đó đối với sự phát triển bền vững ở
nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết được những nhiệm vụ
sau:
Một là, phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về bảo vệ môi trường.
Hai là, luận giải ý nghĩa hiện thời của tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ
môi trường đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
dung luận văn bao gồm 02 chương, 06 tiết
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường
Chương 2: Ý nghĩa hiện thời của tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi
trường.
8
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Môi trường
Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm môi trường.
Tùy theo mục đích và nội dung nghiên cứu mà khái niệm môi trường được
phân tích thành các khái niệm hẹp, như môi trường tự nhiên, môi trường xã
hội, môi trường nhân tạo, môi trường kinh tế - xã hội.
Trong Từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê cho rằng: “Môi trường là
toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay
một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy”
[69, tr. 61]. Như vậy, với định nghĩa này, tác giả đã quan niệm môi trường
theo nghĩa rộng bao gồm tổng hợp các điều kiện tự nhiên và xã hội ảnh hưởng
đến sự tồn tại phát triển của con người, sinh vật.
Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, năm 2014 đưa ra định nghĩa:
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động
đến sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [72, tr. 6].
Tác giả Nguyễn Huy Côn và Võ Kim Long trong cuốn “Từ điển Tài
nguyên - Môi trường” cho rằng, “Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa học bao
quanh sinh vật, là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo (trong các
công trình kiến trúc - xây dựng, các đô thị) quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển
Bàn về môi trường tự nhiên, có một số quan niệm như sau:
Thứ nhất, quan niệm về tự nhiên với tư cách là môi trường sống, tồn tại
của con người và các sinh thể khác.
10
Theo Từ điển Triết học: “Tự nhiên là thực tại khách quan, tồn tại bên
ngoài ý thức, độc lập với ý thức… biến đổi và vận động không ngừng”
[75, tr. 1316]”.
Như vậy, theo nghĩa rộng, tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại
khách quan bên ngoài ý thức con người, vận động, biến đổi theo quy luật vốn
có, gồm các nhân tố đất đai, khí hậu, nguồn nước, ánh sáng mặt trời, động
thực vật… Tự nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho con
người, như không khí để thở, đất đai để trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng nhà ở,
các khoáng sản phục vụ cho sản xuất, nơi chứa đựng, đồng hóa chất thải, cung
cấp những cảnh đẹp cho con người giải trí. Tuy nhiên, sự tác động của con
người làm cho tự nhiên không còn tồn tại thuần túy như trước nữa, tức là con
người đã tạo ra “tự nhiên thứ hai”. Nhưng để tồn tại và phát triển, con người
không thể sống ngoài tự nhiên mà phải hoạt động theo quy luật tự nhiên.
Thứ hai, một số quan niệm bàn trực tiếp về môi trường tự nhiên.
Trong cuốn “Môi trường và phát triển”, do Nhà xuất bản Xây dựng phát
hành năm 2007, các tác giả Nguyễn Thế Thôn, Hà Văn Hành đã cho rằng:
“Môi trường tự nhiên gồm môi trường địa chất, môi trường địa hình - địa
mạo, môi trường đất, môi trường sinh vật, môi trường nước và môi trường
không khí. Đó là các yếu tố của tự nhiên được hình thành ngoài ý muốn của
con người, tác động qua lại với con người” [78, tr. 16]. Các tác giả đã quan
niệm môi trường tự nhiên gắn với các yếu tố của tự nhiên trong sự tác động
qua lại với con người.
Tác giả Đỗ Ngọc Lan trong cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt động
trường tự nhiên đang bị ô nhiễm trầm trọng với những diễn biến phức tạp.
Vấn đề này đang đe dọa trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, đe dọa đến sự
tồn tại, phát triển của các loài sinh vật và chính bản thân con người. Để bảo vệ
12
sự sống, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững không còn con đường nào
khác là phải bảo vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường đang là một trong nhiều mối quan tâm mang tính
toàn cầu. Bảo vệ môi trường thực chất là khắc phục những nảy sinh trong
quan hệ giữa con người với tự nhiên, làm thế nào để hoạt động của con người
không phá vỡ cân bằng của tự nhiên.
Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014 khẳng định: “Hoạt
động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác
động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm,
suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [72, tr. 6].
Theo định nghĩa trên, bảo vệ môi trường là bảo vệ sự cân bằng của các
yếu tố cấu thành môi trường tự nhiên như không khí, đất, nước, sinh vật...
nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người. Bảo vệ môi trường là chống
lại tất cả những gì tác hại đến trạng thái thể chất và tinh thần của con người,
trả lại sự cân bằng vốn có của môi trường hoặc có thể xem bảo vệ môi trường
là hoạt động làm giảm đến mức thấp nhất sự gây ô nhiễm môi trường và hoạt
động xử lý môi trường bị ô nhiễm. Vì vậy, chúng ta cần sử dụng hợp lý các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải tạo và phục hồi môi trường tự nhiên: như
cải tạo đất, trồng rừng, gìn giữ và phát triển các giống loài sinh vật, làm sạch
môi trường, bảo vệ cân bằng sinh thái.
Bảo vệ môi trường không chỉ nhằm tạo nên một môi trường tốt đẹp, trong
sạch cho thế hệ hôm nay mà còn đảm bảo cho sự tồn tại của thế hệ mai sau. Nhìn
duy trì sự tồn tại và phát triển. Tự nhiên trong tư tưởng, tình cảm của Người
không phải cái gì khác xa lạ, không phải chỉ là đối tượng để cải tạo, chinh phục
mà còn là một bộ phận quan trọng trong cuộc sống của con người, có mối quan
hệ khăng khít với cuộc sống của con người, “ thiên nhân hợp nhất”.
14
Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích theo quan điểm phương Đông: “Thiên
thời, địa lợi, nhân hòa”. Trong đó “thiên thời, địa lợi” là những cái con người
có thể tranh thủ được, nếu cùng lúc mà có được ba yếu tố là điều tốt nhất
nhưng yếu tố giữ vai trò quyết định ở đây vẫn là “nhân hòa”. Cho nên bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên và môi trường là việc mà con người hoàn toàn có thể
chủ động. Như vậy, cùng với việc nhận thức rõ vai trò vô cùng to lớn của môi
trường tự nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhìn thấy vai trò của bảo vệ môi
trường trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Môi trường tự nhiên là
vô giá nhưng không là vô tận nên con người cần phải tôn trọng tự nhiên, khai
thác đi đôi với tái tạo và bảo vệ môi trường tự nhiên, để đem lại cuộc sống tốt
đẹp cho chính con người.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, để phát triển xã hội, xây dựng cuộc
sống thực sự tốt đẹp và hạnh phúc, con người phải tác động vào môi trường tự
nhiên, khai thác các yếu tố của môi trường tự nhiên phục vụ cho cuộc sống
của mình. Chính môi trường tự nhiên cung cấp cho con người những yếu tố
đảm bảo cho cuộc sống nên con người cần phải nhận thức đúng đắn về môi
trường tự nhiên, tức phải nắm được các quy luật khách quan của nó. Người đã
căn dặn: “Thế giới ngày nay đã tiến những bước tiến khổng lồ về mặt kiến
thức của con người. Khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội không
ngừng mở rộng ra những chân trời mới, con người ngày càng làm chủ được
thiên nhiên cũng như làm chủ vận mệnh của xã hội và của bản thân mình”[64,
tr. 104]. Trong công cuộc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ
bảo tồn, xây dựng để rừng thực sự là “vàng”. Người nhấn mạnh: “Rừng vàng
vì rừng Việt Bắc có rất nhiều gỗ và lâm sản, có thể đổi lấy nhiều máy móc,
hàng hóa… núi bạc vì núi non… có nhiều quặng có thể xây dựng công nghiệp
để phát triển kinh tế”[64, tr. 230].
Trong quá trình lao động sản xuất, con người đã tiến hành khai thác,
biến đổi các yếu tố của tự nhiên phục vụ cho sự sống của mình, cho sự tồn tại
16
và phát triển của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người khai thác
rừng “lấy gỗ làm nhà”, khai thác các mỏ khoáng sản ở miền núi làm nguyên
liệu cho “nông nghiệp và công nghiệp” là tất yếu. Song việc khai thác môi
trường tự nhiên phải hợp lí, hiệu quả và tránh ảnh hưởng xấu đến môi trường,
phải luôn quan tâm đến bảo vệ môi trường. Người xác định: “Đảng ta phải
làm nhiều chuyện: xây dựng nhà máy, xây dựng hợp tác xã; làm sao cho
người nông dân, người công nhân ăn no, mặc ấm; làm sao cho nước càng
ngày càng mạnh, dân càng ngày càng giàu. Ngày nay làm cả việc chống trời
nữa” [65, tr. 272]. Cụ thể hơn, là: “nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với
nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Vậy ta phải làm sao cho dân có đủ nước để tăng gia sản xuất” [64, tr.
283]. Theo quan điểm của Người thì Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần phải
biết nắm bắt, vận dụng quy luật tự nhiên để phục vụ cho đời sống của mình,
để từng bước nâng cao cuộc sống, tái tạo và bảo vệ môi trường.
Thứ ba, bảo vệ môi trường tự nhiên giúp hình thành đời sống tinh thần
của con người Việt Nam ngày càng tốt đẹp hơn.
Thấy được vai trò to lớn của môi trường tự nhiên, Hồ Chí Minh chủ
trương con người sống hòa hợp với môi trường. Theo Người, môi trường
sống là yếu tố quan trọng đảm bảo sức khỏe cho cán bộ chiến sỹ và giúp cho
họ công tác tốt. Chính vì vậy Người luôn căn dặn cán bộ phải chọn những nơi
“Giữa dòng bàn bạc việc quân
Đêm về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.
Hay:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
Và trong hoàn cảnh éo le vẫn với tư thế ung dung, vẫn giao cảm cùng
chim muông, thiên nhiên, rừng núi:
“ Mặc dù bị trói chân tay
18
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng”.
Hay trong nhà ngục tối mịt mùng:
“ Nắng sớm xuyên qua nơi ngục thất
Đốt tan khói đặc với sương dày”.
Người là bầu bạn của trăng, nắng, chim muông, hoa lá… con người
dường như không còn ở vị trí “chế ngự thiên nhiên” mà dường như đang giao
hòa, trở về một bộ phận của tự nhiên, của nguồn cội.
Những tư tưởng, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tình yêu
thiên nhiên và đất nước đến vô cùng. Thiên nhiên, đất nước trong đời sống
tinh thần của Người không đơn giản chỉ là một thái độ ứng xử tích cực của
con người đối với cuộc sống xung quanh, hơn thế, sự quan tâm, bảo vệ và hòa
đồng với thiên nhiên và đất nước đã trở thành một phần máu thịt, gắn quện
với nhân sinh quan và thế giới quan của một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc, thể
hiện trình độ nhận thức cực kỳ sâu sắc của Người đối với môi trường tự nhiên
và vai trò chủ động, tích cực của con người trong tiến trình biến “cái tự nhiên
tự nó” thành “cái tự nhiên cho ta”. Đó vừa là một tình cảm cao quý, vừa là
một bài học lịch sử vô giá mà trước lúc đi xa Người muốn để lại cho con cháu
mai sau.
cư đông đúc, những thành phố lớn chỉ còn là những đống đổ nát, hoang tàn:
“Nam Thị ( Khu Nam Thượng Hải) đã bị đốt phá, 80% nhà cửa bị thiêu hủy
sau ngày bị chiếm đóng” [55, tr. 124]. Những thị trấn và thành phố đó nay
đều bị phá trụi sau trận càn quét: “Khai Phong, trung tâm tơ lụa, đã trở thành
một thành phố chết. Tùng Giang ngày nay chỉ còn là một đống tro tàn” [55, tr.
125]. Và bọn thực dân tàn sát đến mức giết hại cả vùng từ già, trẻ, lớn, bé,
gái, trai không còn ai sống sót, khói đen nghi ngút của các đám cháy che kín
bầu trời. Những hình ảnh chân thực mà Hồ Chí Minh ghi lại đã tố cáo tội ác
20
man rợ, hung ác và tàn nhẫn của chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã tàn phá sự
sống, tàn phá môi trường.
Hồ Chí Minh tố cáo chính sách khai thác tài nguyên của thực dân, đế
quốc đã làm cạn kiệt, phá hủy tài nguyên môi trường của các nước thuộc địa.
Tội ác mà chủ nghĩa thực dân, đế quốc gây ra cho môi trường sống của các
nước thuộc địa là không thể nào dung thứ, Người viết: “Bộ chỉ huy Pháp ra
lệnh phá hoại tất cả và biến cả vùng này thành một vùng sa mạc. Tất cả các
làng mạc đều bị đốt cháy ra tro. Tất cả các súc vật, gà vịt đều bị giết sạch,
vườn tược bị cướp phá và cây cối đều bị chặt trụi. Đồng ruộng, thóc lúa cũng
đều bị đốt cháy. Suốt mấy ngày liền khói đen của các đám cháy che kín cả
một bầu trời” [59, tr. 303 - 304]. Đây là sự hủy diệt môi trường của chủ nghĩa
thực dân.
Hồ Chí Minh lên án chế độ thực dân với những lời mỉa mai đanh thép:
“Người ta không bao giờ muốn nói xâm chiếm thuộc địa là việc đốt nhà, tàn
sát hay cướp bóc; và cũng không muốn nói đó là việc làm cho kiệt quệ một
đất nước chỉ mong muốn được phát triển. Mà đó là triệt hạ sự sống của một
vùng khi đặt nó vào tay một vài ông lớn chứ không phải để dân chúng canh
tác trên mảnh đất đó” [53, tr. 169]. Tội ác chiến tranh đó cho đến tận ngày
Người đã từng ví trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
Tội ác chiến tranh của thực dân, đế quốc không chỉ là tàn phá môi
trường tự nhiên mà còn là giết hại dân thường ở các nước thuộc địa một cách
dã man và tàn bạo. Hồ Chí Minh đã lên án chế độ khai hóa: “Trên mảnh đất
bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó. Còn xác ông cụ
già thì, ghê gớm làm sao, cũng trần truồng như thế, nhưng bị thiêu cháy, nên
không nhận ra hình thù được nữa, mỡ chảy lênh láng, đã đọng lại và da bụng
thì phồng lên, chín vàng, óng ánh; giống như da con lợn quay vậy” [53, tr.
67]. Chính những kẻ xâm lược cũng đã thừa nhận tội ác đó khi người sĩ quan
Pháp nhìn thấy người chết, bị đốt cháy, đã chín, mỡ chảy ra, da bụng trương
22
phồng lên, sém vàng. Chính sĩ quan của họ cũng cảm thấy rùng rợn trước
những tội ác do họ gây ra.
Bọn xâm lược không loại trừ một ai, chúng gây tội ác với tất cả mọi
người từ già, trẻ, gái, trai, các thế hệ, thành viên của gia đình: “Chúng đang
tàn sát cha mẹ, vợ con, anh em ta, đốt phá mùa màng ta, triệt hạ làng mạc ta.
Chúng đang gây ra biết bao tang tóc, khốn khổ cho nhân dân ta” [59, tr. 163].
Tội ác của chúng chất cao như núi. Đó là những hình ảnh độc ác và man rợ,
hình ảnh người già và thanh niên bị bắt, bị giết: “Bắt được người già và thanh
niên, chúng nó chọc tiết, chôn sống, chặt đầu, phanh thây, hoặc treo thòng
lọng trên cành cây, chất củi thui” [58, tr. 85]. Hành động giết hại dân thường
vô tội của chủ nghĩa thực dân vừa là sự độc ác vô nhân tính vừa là hành vi
gây ô nhiễm môi trường khi mà xác chết ngổn ngang mà người dân có thể gặp
ở bất cứ nơi nào.
Sau năm 1954, do âm mưu xâm lược nước ta của đế quốc Mỹ, đất nước
ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án một
cách sâu sắc việc đế quốc Mỹ đã tiến hành chiến tranh xâm lược và hủy diệt ở