Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** NGUYỄN THỊ PHƢƠNG MAI TƢ TƢỞNG KHOAN DUNG
VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2012


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 14
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
6. Cái mới của luận án 15
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 15
8. Kết cấu của luận án 16
NỘI DUNG 17
CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ CỦA TƢ TƢỞNG
KHOAN DUNG 17
1.1. Khái niệm “khoan dung” 17
1.2. Sự ra đời và phát triển của tư tưởng khoan dung ở phương Tây từ cổ
đại đến cận đại 31
1.3. Tư tưởng khoan dung ở phương Đông cổ đại 48
Kết luận chƣơng 1 68
CHƢƠNG 2: SỰ TÍCH HỢP CÁC GIÁ TRỊ ĐÔNG - TÂY CỦA TƢ
TƢỞNG KHOAN DUNG TRONG NHẬN THỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG Ở MAHATMA GANDHI VÀ HỒ CHÍ
MINH 70
2.1. Khoan dung trong hoạt động thực tiễn của Mahatma Gandhi (1869 -
1948) 73
2.1.1. Nguồn gốc và nội dung chính của tư tưởng khoan dung trong nhận
thức của Mahatma Gandhi 74
2.1.2. Biểu hiện khoan dung trong hoạt động thực tiễn của Mahatma
Gandhi 81
2.2. Khoan dung với tư cách là cơ sở của sự nghiệp giải phóng con người và

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kỷ XX, các mâu thuẫn giữa các quốc gia, các dân tộc và
các chế độ chính trị khác nhau chủ yếu được giải quyết bằng hình thức đối
đầu. Do vậy, nhiều cuộc chiến tranh, đấu tranh đã diễn ra ở nhiều khu vực.
Hai cuộc chiến tranh thế giới đã gây ra quá nhiều thiệt hại đối với toàn nhân
loại. Lần đầu tiên, một bên tham chiến đã sử dụng bom nguyên tử để quyết
giành phần thắng nhưng hậu quả để lại cho con người thì vô cùng nặng nề
không phải chỉ ở một thế hệ. Đồng thời, các dân tộc, các quốc gia bị chủ
nghĩa thực dân cả cũ và mới thống trị đã kiên cường đấu tranh để tự giải
phóng mình. Nhiều cuộc cách mạng thành công đã làm thay đổi vận mệnh
của các dân tộc. Tuy nhiên, lịch sử cũng ghi nhận rằng, đôi khi một cuộc
chiến tranh tàn khốc nào đó kết thúc thì một cơn lốc bạo lực mới lại xuất
hiện. Điều này xảy ra là do sự kích động và trỗi dậy của những tư tưởng cực
đoan. Nhiều cuộc khủng bố xảy ra ở nhiều quốc gia, những sự căng thẳng
về vấn đề dân tộc, về khuynh hướng bảo thủ trong tôn giáo, về sự phát triển
của những trào lưu bài ngoại và về vấn đề phân biệt chủng tộc, v.v. cũng
đang âm thầm tái diễn.
Chính những hậu quả đó đã giúp loài người rút ra những bài học
trong vấn đề chiến tranh và hòa bình để đến cuối thế kỷ XX, xu hướng đối
thoại đang dần phổ biến hơn, góp phần thay thế cho xu hướng đối đầu trong
việc giải quyết các vấn đề quan trọng. Việc xây dựng nền hòa bình bền
vững đã và vẫn là mong ước của nhân loại. Nền hòa bình đó không chỉ ở
chỗ không còn tiếng súng, mà còn là ở sự tự do tư tưởng, tự do sống trong
hạnh phúc, tự do phát triển các tiềm năng và đoàn kết trong một liên minh
2
rộng lớn, một liên minh đủ sức chống lại bạo hành, chiến tranh và các loại
hiểm họa bất trắc khác.
Bên cạnh đó, sự phát sinh những mâu thuẫn và xung đột về văn hoá

của giá trị con người, tính “tương đối” về văn hoá để tự đặt mình trong
khuôn khổ chống lại mọi hình thức kỳ thị, phân biệt chủng tộc hoặc tôn
giáo hay văn hóa.
Những bài học lớn này cũng được rút ra từ chính lịch sử của đất
nước Việt Nam. Dù hơn 1000 năm chịu sự thống trị của chế độ phong kiến
phương Bắc, 100 năm dưới ách thống trị của thực dân và đế quốc, dân tộc
Việt vẫn thể hiện được là dân tộc nhân văn. Kẻ thù dù có vô cùng tàn ác với
nhân dân nhưng khi chúng bại trận thì chuyện tắm máu hay giết người hàng
loạt để trả thù đã không xảy ra. Không những vậy, những kẻ xâm lược bại
trận còn được cấp lương thực để trở về quê hương. Đến bây giờ, Việt Nam
vẫn sẵn sàng làm bạn với những kẻ thù trước đây của mình trên tinh thần
hợp tác để cùng phát triển.
Bên cạnh đó, tính thống nhất trong đa dạng được tổ chức UNESCO,
cơ quan tư vấn về khoa học, văn hóa và giáo dục của Liên hợp quốc, tổ
chức quốc tế lớn nhất gồm gần 200 nước trên thế giới, luôn ủng hộ thể hiện
giá trị mà nó mang lại. Đó là làm cho thế giới sinh động hơn và là động lực
của sự tiến bộ. UNESCO cũng không phủ nhận rằng, sự khác biệt giữa các
nền văn hoá, giữa các cá nhân có thể dẫn đến sự tranh cãi, bất đồng, thậm
chí là xung đột. Vì vậy, nhân loại phải đoàn kết, phản đối đồng hoá và
chống lại nạn thiếu khoan dung cả trong tinh thần lẫn cách sống từ mỗi cá
nhân cho đến toàn thể nhân loại. Và, nếu không có khoan dung thì cũng
không thể có hoà bình, còn nếu không có hoà bình thì cũng chẳng có phát
4
triển mà cũng chẳng có dân chủ [dẫn theo: 143]. Do vậy, thuật ngữ khoan
dung được coi như “từ then chốt” trong văn hoá thế giới ngày nay và ngày
càng được sử dụng rộng rãi.
Tuy nhiên, những năm gần đây, thái độ thiếu khoan dung lại đang
dần nổi lên. Thái độ ấy là một trong những thách thức lớn nhất mà cộng
đồng thế giới phải đương đầu từ cuối thế kỷ XX đến nay. Thái độ ấy thể
hiện ở việc bác bỏ, không chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân, các dân

những năm 90 của thế kỷ XX về khoan dung có rất ít. Đáng chú ý nhất là
năm 1993, với tập “Sự khoan dung ngày nay - Những sự phân tích triết
học” trong tài liệu chuẩn bị nội dung cho Đại hội Triết học thế giới lần thứ
XIX ở Mátxcơva, những bài nghiên cứu về vấn đề khoan dung mới bắt đầu
được trình bày và được tập hợp lại. Tiếp đó, các công trình nghiên cứu về tư
tưởng khoan dung ở Việt Nam dần dần xuất hiện tản mát trên các tạp chí
nghiên cứu, chẳng hạn như bài viết của Ngô Phương Bá (1995) hay của Đỗ
Huy (1994). Nhưng kể từ sau khi UNESCO phát động “Năm quốc tế về
khoan dung” (1995), các bài nghiên cứu về tư tưởng khoan dung mới xuất
hiện ngày một nhiều hơn.
Về nguồn gốc tư tưởng khoan dung, bài “Khoan dung: sức mạnh và
sự mềm dẻo của hiện đại” (La tolérance: Force et fragilité de la modernité,
1993) [176] của Yves Charles Zarka tập trung vào yêu cầu cấp bách của
thời hiện đại về khoan dung. Tác giả khẳng định: “Khái niệm về sự khoan
dung là một sản phẩm của tư duy hiện đại”, mặc dù nó được manh nha hình
thành vào các thế kỷ XVI và XVII. Trong khi đó, bài “Sự khoan dung và ý
nghĩa toàn cầu của nó” (La tolérance française et sa signification universelle,
1993) [172] của Marcel Conche lại nêu ra một căn cứ lịch sử sớm hơn và
6
tác giả khẳng định rằng, “khoan dung xuất phát từ xã hội cổ đại” và “tư
tưởng khoan dung tuyệt đối là của Hy Lạp cổ đại”. Đáng chú ý là, trong bài
viết, tác giả chủ yếu tìm hiểu nội dung tư tưởng khoan dung từ góc độ lịch
sử triết học với một số trích dẫn đáng lưu ý, đưa ra một số nội dung tư
tưởng cụ thể ở từng nhà triết học Hy Lạp cổ đại.
Trong bài “Khoan dung, hoà giải và triết học” (Toleration,
reconciliation and philosophy, 1993) [153] Renato Cristi khẳng định, sự
hiểu biết vấn đề khoan dung ở thời hiện đại có nguồn gốc xuất phát từ nội
dung tư tưởng triết học Pháp và triết học Anh ở thời kỳ triết học Khai sáng.
Song, đó mới chỉ là cách đặt vấn đề mà chưa có sự tìm hiểu sâu để đi đến sự
phát triển mới tới quan điểm hiện đại cần có về khoan dung.

thời, bài viết cũng lý giải sự khoan dung trong đời sống tín ngưỡng, tôn
giáo của Việt Nam như là nhu cầu tất yếu và làm thành đặc điểm tâm linh
tồn tại trong tâm hồn người Việt. Mặc dù nội dung của bài viết chưa tiếp
cận trực diện nhưng đó là những gợi mở quan trọng để chúng tôi tiếp tục
tìm hiểu vấn đề này.
Các bài viết “Tinh thần khoan dung và sự hoà giải trong tư duy của
người Ấn Độ” (2006) [104] của Hajine Nakamura, “Vài suy ngẫm về khoan
dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam” (2007) [135],
“Khoan dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam” (2008)
[136] và “Khoan dung Phật giáo cho lợi ích chung của đất nước trong bối
cảnh toàn cầu” (Buddhist tolerance for the common good of the Nation in
Global Age, 2008) [168] của Hoàng Thị Thơ đi sâu phân tích cơ sở và biểu
hiện của khoan dung trong Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói
8
riêng. Dù rằng, các bài viết này mới chỉ tập trung phân tích theo tư tưởng
của Thích Ca Mâu Ni và mới chỉ khảo sát trong trường hợp cụ thể của vua
Asoka (Ấn Độ) nhưng đã nêu được phần nào biểu hiện của nội dung tư
tưởng khoan dung theo tư tưởng của Phật giáo. Đối với tác giả Hajine
Nakamura, việc thực hành tinh thần khoan dung vào thực tiễn không chỉ
dừng lại ở vua Asoka mà đã đi xa hơn, đến vua Akbar và nêu lên rằng,
những yếu tố khoan dung cơ bản vẫn được giữ vững trong chính sách tôn
giáo tại Ấn Độ về sau. Còn đối với Hoàng Thị Thơ, từ nội dung các bài viết
có thể suy ra, khái niệm khoan dung được xem như đồng nghĩa với vị tha
trong quan niệm Phật giáo, vì nó đều có nghĩa là làm lợi cho chúng sinh, lấy
chúng sinh đau khổ làm đối tượng để phụng sự. Tác giả phân tích biểu hiện
của khoan dung trong Phật giáo tại Việt Nam qua việc phân tích hình ảnh
kết cấu ngôi chùa và hình thức bàn thờ tại gia của người Việt đã khẳng định
được rằng, khoan dung không chỉ giới hạn trong phạm vi phẩm chất đạo
đức của con người cá nhân, con người Việt Nam mà đang mở rộng thành
phẩm chất văn hoá của dân tộc Việt, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá.

quả nghiên cứu trên đều góp phần quan trọng thúc đẩy việc tìm hiểu, nghiên
cứu vấn đề, đồng thời, mở thêm hướng đi mới cho các công trình nghiên
cứu sau.
Trong sách “Bàn về khoan dung trong văn hoá” (1997) [146],
Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn đã thể hiện sự dày công sưu tầm
và trình bày để làm rõ vấn đề thông qua toàn bộ dòng chảy lịch sử văn hoá
nhân loại. Tuy nhiên, tác phẩm này đã trình bày một chiều theo trình tự thời
gian với từng trường phái, với từng đại biểu cụ thể, chưa phản ánh được yếu
tố tác động qua lại giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội của khoan dung. Vì
10
một tư tưởng không thể chỉ phát triển tuần tự theo thời gian được, đồng
thời, mỗi tư tưởng đều có sự giống nhau và khác nhau ở mỗi giai đoạn,
cũng như việc cùng một trường phái nhưng ở những giai đoạn khác nhau,
tinh thần, ý nghĩa của tư tưởng đó vẫn có sự giống nhau.
Riêng về vấn đề khoan dung văn hoá ở Việt Nam, “Bao dung là một
lối sống văn hoá” (1994) [50] của Đỗ Huy là một trong những bài nghiên
cứu thuộc diện sớm nhất trong hệ thống nghiên cứu về tư tưởng khoan dung
ở Việt Nam. Vì vậy, nội dung của nó chủ yếu giới thiệu và nêu ra những
biểu hiện sơ lược mà chưa có sự lý giải hay đưa ra khái niệm với nội hàm
cụ thể về khoan dung.
Với ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam, việc tiếp biến tinh thần
khoan dung trong lịch sử tư tưởng Việt Nam là có. Trong bài “Tư tưởng
khoan dung của Khổng Tử và sự thể hiện của nó ở Nguyễn Trãi” (2011)
[145], tác giả Trần Nguyên Việt đã thể hiện được sự tiếp biến đó trên cơ sở
đưa ra một số lời dạy của Khổng Tử đối với học trò. Tác giả khẳng định
rằng, nếu nội dung căn bản của tư tưởng khoan dung ở Khổng Tử là trung
thứ thì đến Nguyễn Trãi, đạo lý nhân nghĩa đóng vai trò chủ đạo.
Đối với tinh thần khoan dung Việt Nam, mặc dù đã có một số công
trình thể hiện sự quan tâm và nghiên cứu, song, khoan dung mới chỉ được
nghiên cứu dưới góc độ văn hoá, tâm lý như “Nội sinh và ngoại sinh trong

hiện trong những lĩnh vực cụ thể mà rộng hơn, nó thể hiện sự sâu sắc cả
trong suy nghĩ và hành động của Người. Hoàn toàn có thể khẳng định rằng,
không chỉ trong tư tưởng mà còn trong hoạt động thực tiễn, tư tưởng khoan
dung của dân tộc được Hồ Chí Minh thể hiện rất điển hình. Tuy nhiên, vấn
đề đó chưa được tìm hiểu nhiều, nhất là mặt thứ hai, Hồ Chí Minh vận dụng
12
tinh thần khoan dung đó trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trước sự chống phá của kẻ thù để bảo tồn và
phát triển dân tộc. Vấn đề được đặt ra là chúng ta cần phát huy tinh thần đó
của Hồ Chí Minh như thế nào trong bối cảnh toàn cầu hoá với nhiều cơ hội
và thách thức như hiện nay.
c) Tư tưởng khoan dung trong lĩnh vực đạo đức
Trong bài “Khoan dung” (Tolerance, 1993) [155] của mình, Michael
Dummett cho rằng, khoan dung thuộc phạm trù đạo đức của con người, là
một đức tính không chỉ của cá nhân, của các nhà lãnh đạo chính trị mà còn
của Nhà nước. Trong bài viết này, mục đích chính của tác giả nhằm đưa ra
cách thức giải quyết các vấn đề quốc tế không dựa trên sự phân biệt về văn
hoá, tín ngưỡng, chủng tộc, v.v. mà bằng khoan dung.
Ở bài trả lời phỏng vấn của Phạm Xuân Nam, “Khoan dung phải là
tên gọi mới của hoà bình” (1995) [105], với tư cách là thành viên của tổ
chức UNESCO Việt Nam, những câu trả lời của ông thể hiện tinh thần
khoan dung hiện đại của UNESCO và có lẽ cũng là câu trả lời chính thức,
lời đồng thuận của Việt Nam đối với “Thập kỷ phát triển văn hoá hoà bình”
mà UNESCO phát động.
Trong vấn đề đối thoại của thế kỷ XXI, bài “Đối thoại giữa các
nền văn minh theo tinh thần khoan dung - nhân tố quyết định sự sống còn
và thịnh vượng của nhân loại” (2011) [48], tác giả Đỗ Minh Hợp khẳng
định vai trò quan trọng của tư tưởng khoan dung trong thế giới hiện đại,
rằng “đối thoại dựa trên tinh thần khoan dung trở thành hình thức giao
tiếp phổ biến giữa người với người, giữa các cộng đồng người, trở thành

Đây chính là những điểm chúng tôi sẽ cố gắng bổ sung trong việc
nghiên cứu tư tưởng khoan dung, từ đó, góp phần phát huy những giá trị và
vai trò tích cực của tư tưởng này trong giai đoạn hiện nay. Những điểm mà
các công trình nghiên cứu trước còn bỏ ngỏ, nhất là việc tiếp cận một cách
hệ thống từ góc độ triết học duy vật lịch sử để tìm hiểu tiến trình hình thành
và phát triển nội dung tư tưởng khoan dung trong sự tương thích với điều
kiện lịch sử và chỉ ra ý nghĩa hiện thời của nó, là những điểm chúng tôi sẽ
cố gắng bổ khuyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là trình bày một cách tương đối có hệ thống và
khái quát nội dung chính của tư tưởng khoan dung từ góc độ triết học; làm rõ
ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng khoan dung vào thực tiễn; đồng thời, nêu
lên ý nghĩa của nó đối với Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Để thực hiện mục đích đó, luận án có nhiệm vụ là:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm khoan dung, từ đó, hệ thống hóa và khái
quát hóa một số nội dung chính của tư tưởng khoan dung trong triết học
phương Tây và triết học phương Đông.
Thứ hai, làm rõ nội dung và vai trò của khoan dung trong thực tiễn
đầu thế kỷ XX thông qua tư tưởng và hành động của hai đại biểu là
Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh.
Thứ ba, phân tích tính tất yếu và phổ quát của tư tưởng khoan dung
ở thời hiện đại, từ đó nêu lên yêu cầu và những thuận lợi, khó khăn của việc
thực hiện nó trong điều kiện mới của Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
15
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện
luận án là phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp nghiên cứu lịch
sử triết học, phương pháp lôgíc - lịch sử, phương pháp so sánh, phương

xã hội hiện đại.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho công tác
giảng dạy, nghiên cứu lịch sử triết học và góp phần vào việc tạo dựng lý
luận trong việc giáo dục và đào tạo, nhằm hướng đến việc biết cách tiếp cận
và tiếp thu cái mới, biết cách hướng đến đối thoại.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của
tác giả đã công bố liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo,
luận án được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.
17
NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ CỦA TƢ TƢỞNG
KHOAN DUNG
1.1. Khái niệm “khoan dung”
Có nhiều cách giải nghĩa khác nhau về cùng một tư tưởng là minh
chứng chứng tỏ rằng, tư tưởng đó sâu sắc, có nội hàm phong phú, được chú
ý nhiều và có ảnh hưởng nhất định đến suy nghĩ và hành động của con

Chính vì vậy, khi thuật ngữ này được dịch sang tiếng Việt thông qua Hán
ngữ, tolerance được biểu đạt bằng nhiều từ khác nhau, như bao dung, độ
lượng, khoan dung.
Trong Hán Việt từ điển giản yếu [1], học giả Đào Duy Anh giải
thích bao dung là người có đại độ, tức là độ lượng rộng lớn; khoan dung là
sự rộng rãi dung được nhiều, độ lượng rộng, khoan dung là lòng rộng bao
dung. Như vậy, ở đây, hai thuật ngữ này chỉ đối tượng khác nhau.
Theo Phan Văn Các trong Từ điển từ Hán Việt [8], bao dung không
phải là một danh từ, mà là tính từ với nghĩa có độ lượng lớn, rộng lượng,
cũng tức là bao bọc, rộng rãi. Trong khi đó, khoan dung là một động từ
được giải thích là rộng rãi bao dung, rộng lòng tha thứ. Ví dụ như khoan
dung cho kẻ biết hối lỗi. Khoan là một trong những đức tính của người
quân tử (khoan, tín, mẫn, huệ) mà đạo Khổng quy định, do đó, khoan
dung được sử dụng như đức tính của người quân tử, của kẻ mạnh. Từ đó
có thể hiểu rằng, bao dung có nghĩa rộng hơn khoan dung và cũng không
chỉ đối với kẻ yếu.
19
Học giả Bửu Kế trong Từ điển Hán Việt từ nguyên [59] lại có cách giải
thích theo hướng tách từ và giải nghĩa từng từ một. Trong đó, bao tức là trùm
lên còn dung nghĩa là tha thứ. Như vậy, bao dung có nghĩa là đại độ, có lòng
tha thứ, bao bọc kẻ khác. Còn khoan là rộng rãi, dung lại là rộng lượng. Khoan
dung ở đây được giải thích là che chở, đùm bọc, bao dung kẻ khác.
Trong Từ điển tiếng Việt [117], nhà nghiên cứu ngôn ngữ học
Hoàng Phê cho rằng, bao dung thuộc loại tính từ với nghĩa là có độ lượng,
rộng lượng với mọi người, còn động từ khoan dung lại có nghĩa là rộng
lượng tha thứ cho người có lỗi lầm.
Gần đây nhất, trong Từ điển bách khoa Việt Nam [46], thuật ngữ
khoan dung cũng được giải nghĩa là thái độ ứng xử rộng lượng của người
trên đối với kẻ dưới quyền. Tuy nhiên, cách giải nghĩa đó không thực sự
khớp với luận chứng từ góc độ lịch sử được nêu lên trong phần giải thích

thuộc các thuật ngữ như “đau khổ”, “cái ác”, v.v Trải qua một quá trình biến
đổi lâu dài về nội dung, đến nay khái niệm khoan dung đã được định hình.
Người ta hiểu căn bản khoan dung tức là lập trường cho phép, thừa nhận và
tôn trọng sự khác biệt; là quy tắc đạo đức tất yếu dẫn tới việc tìm kiếm những
khả năng giải quyết xung đột và mâu thuẫn thông qua việc thừa nhận quyền
của người khác, hay của những người nào có quan điểm, tín ngưỡng, hình
thức ứng xử khác với chúng ta. Khoan dung còn thường được hiểu là thái độ
đại lượng đối với những khuyết tật của người khác, là năng lực chịu đựng
(kiềm chế, trải qua, dung hòa một cái gì đó), chấp nhận (thừa nhận) sự tồn tại
của ai đó. Khoan dung có thể được xem là đặc trưng tâm lý hay đặc trưng
tâm lý xã hội của cá nhân và của các nhóm xã hội, thể hiện trong sự tương
tác của họ với những cá nhân hay các nhóm xã hội khác, như là một trong
21
những giá trị quan trọng nhất của con người xã hội hiện đại; khoan dung còn
như là sự định hướng vào tính độc lập, tính tự trị và tính không cho phép gán
ép tư tưởng của chủ thể này đối với chủ thể khác; như là sự siêu việt hóa các
thiên kiến tôn giáo, chủng tộc đang trói buộc tự do của con người; như là hệ
quả của sự tôn trọng và thừa nhận sự không toàn vẹn mang tính nguyên tắc ở
bất kỳ sinh vật và sự tồn tại riêng biệt nào, v.v
Hiện nay, có thể coi các phương diện lý luận được nghiên cứu tích
cực nhất của vấn đề khoan dung là mối quan hệ giữa các khái niệm khoan
dung và không khoan dung (hay phản khoan dung); là mối liên hệ qua lại
giữa khoan dung và các phạm trù triết học khác như chân lý, tự do, lựa chọn
đạo đức, v.v.; là việc nghiên cứu ý thức khoan dung, các hình thức và loại
hình của nó. Các nhà xã hội học tiếp cận nghiên cứu ảnh hưởng của các đặc
trưng dân số xã hội, trước hết là mặt trình độ học vấn, đến mức độ khoan
dung; các nhà tâm lý học tiếp cận tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc
hình thành mức độ khoan dung trong quá trình xã hội hóa. Nhiều nhà tâm lý
học coi mức độ khoan dung thấp nhất là một trong các nguyên nhân thường
gặp trong nhân cách làm cho con người bộc lộ tính hiếu chiến và bạo lực.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status