những tìm tòi đổi mới trong văn học của nhà văn nguyễn minh châu sau năm 1975 - Pdf 42

I. ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN MINH CHÂU
1.1. Cuộc đời nhà văn Nguyễn Minh Châu:
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 23 tháng 10 năm 1930 trong một gia đình nông dân khá
giả ở làng Thơi thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Là con út trong một gia đình có
sáu anh chị em, Nguyễn Minh Châu được tạo điều kiện học hành khá chu đáo. Học ở quê
rồi vào Huế, học tiếp đến năm 1945 khi Nhật đảo chính Pháp thì trở về quê thi đỗ bằng
Thành Chung.
Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung
học trong vùng kháng chiến. Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường
Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vào quân đội. Sau một
khoá đào tạo ngắn của trường Lục quân, Nguyễn Minh Châu về sư đoàn 320 làm cán bộ
trung đội. Trong những năm từ 1950 đến 1954, Nguyễn Minh Châu cùng đơn vị chiến
đấu và hoạt động ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Sau 1954, Nguyễn Minh Châu tiếp tục phục vụ trong quân đội làm cán bộ tuyên huấn
tiểu đoàn. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa quân đội ở Lạng Sơn. Năm 1962,
Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí
Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Ông mất
ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội.
Chiến trường là nơi vẫy gọi ngòi bút và trái tim của những nhà văn mặc áo lính. Nguyễn
Minh Châu học khóa 6 Võ bị Trần Quốc Tuấn. Ông từng là cán bộ tham mưu cấp tiểu
đoàn của đại đoàn 320. Ông cùng chiến sĩ đại đoàn 320 ngược xuôi dặm lý qua nhiều tỉnh
đồng bằng. Rồi lên chiến khu, tham gia các chiến dịch lớn nhỏ trong kháng chiến chín
năm với biết bao gian khổ. Và cũng từ cuộc sống đó đã khơi dậy trong ông nguồn cảm
hứng sáng tác dạt dào, để lại nhiều tác phẩm sâu sắc cho ngày nay. Khi hòa bình lập lại,
ông cũng đi nhiều nơi, vào thành phố Hồ Chí Minh rồi trở ra Hà Nội, nhưng có lẽ dải đất
miền Trung mới là miền đất để lại cho ông nhiều thương, nhiều nhớ nhất. Hình ảnh cái
làng quê nghèo ven biển miền Trung cứ trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của ông như
một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Những năm cuối đời, ông còn ấp ủ dự định viết một cuốn
tiểu thuyết về cuộc chiến ở thành cổ Quảng Trị, rất tiếc nó không thể hoàn thành vì ông
đã đột ngột ra đi khi đang ở giai đoạn tài năng chín muồi nhất. Sau hơn một năm trời vật

tranh, các sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước 1975 (Cửa sông, Những vùng trời khác
nhau, Dấu chân người lính,…) đã cho chúng ta một cái nhìn tương đối trọn vẹn về một
thời kì hào hùng của cả dân tộc.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đã dành trọn vẹn nửa đời
văn của mình đi sâu, khám phá, phản ánh những “đề tài sinh tử” trong mảng hiện thực
chiến tranh và người lính cách mạng. Đó là những con người ngập tràn tình cảm lãng
mạn, trẻ trung, tươi tắn như Lãm, Nguyệt (trong Mảnh trăng cuối rừng), cô gái mang
“niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống”, niềm tin ấy “như sợi chỉ xanh óng ánh, bao nhiêu
bom đạn dội xuống, cũng không đứt, không thể nào tàn phá nổi”. Đó là Kinh, Lữ, Khuê,
Cận, Lượng v.v… (trong Dấu chân người lính) – những viên ngọc, sáng đẹp một cách rực
rỡ, không có tỳ vết. Khó có thể tìm thấy một khiếm khuyết trong phẩm chất của họ.
“Mảnh trăng cuối rừng” là truyện ngắn hay nhất của Nguyễn Minh Châu trong những
năm chống Mỹ. Truyện khá tiêu biểu cho những đặc điểm bút pháp của nhà văn trong
giai đoạn trước 1975 và cũng mang những đặc điểm chung của văn học ta giai đoạn ấy.
Truyện ngắn này đã được đưa vào nhiều tuyển tập truyện ngắn Việt Nam và được nhà phê
bình N.I. Niculin giới thiệu trong “Cuộc chiến tranh giải phóng và truyện ngắn Việt Nam
hiện đại” và nhận xét: “Niềm tin vào tính bất khả chiến thắng của cái đẹp tinh thần, cái
thiện đã được khúc xạ ở chỗ, anh đã tắm rửa sạch sẽ các nhân vật của mình, họ giống
như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng…”.
Sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Minh Châu không chỉ được ghi dấu ở phần sáng tác, mà
ngay trong địa hạt phê bình, người ta cũng nhớ đến ông ở tư cách là người đầu tiên khuấy
động sự tĩnh lặng hàng bao nhiêu năm của một nền văn học thời chiến bằng những bài
tiểu luận của mình và làm xôn xao dư luận một thời. Và văn học thời kỳ đổi mới đã ghi
nhận bài viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” của ông là hiện
tượng đặc sắc của một nhân cách dũng cảm và trung thực. Đó là cảm quan nhạy bén của
một nghệ sỹ đã nhận thức được sự tất yếu của tiến trình văn học.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã được các giải thưởng văn chương: giải thưởng Bộ Quốc
phòng năm (1984- 1989) cho toàn bộ tác phẩm của ông viết về chiến tranh và người lính,
giải thưởng Hội nhà văn 1988-1989 cho tập truyện “Cỏ lau” và giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000 cho cụm tác phẩm: Dấu chân người lính, Cửa

dân tộc đã dồn vào một con đường: ấy là con đường ra mặt trận, con đường
cứu nước”. Chính trong cuộc chiến ác liệt ấy, cả người cầm bút và người
đọc đều có một mối quan tâm thường trực về vận mệnh dân tộc, về số phận
và khát vọng của nhân dân. Vì vậy, giai đoạn này sản sinh ra nhiều nhà văn
– chiến sĩ, đó là yêu cầu của Đảng, của cách mạng và cũng là ý thức công
dân tự nguyện của các tác giả. Văn học giai đoạn này phản ánh kịp thời hiện
thực kháng chiến và những con người kháng chiến để tuyên truyền, động
viên, khích lệ, cổ vũ chiến đấu, trở thành một vũ khí đắc lực phục vụ cho
cuộc chiến toàn dân.
Vì lẽ đó, văn học thời kì này thường đề cập đến những vấn đề lớn lao, có ý
nghĩa lịch sử liên quan đến vận mệnh của cả cộng đồng với ý đồ xây dựng
những tượng đài thiêng liêng, đại diện cho sức mạnh của dân tộc. Nhân vật
chính trong các tác phẩm thường mang tính lí tưởng, đại diện cho ý chí,
phẩm chất của cả cộng đồng. Lúc này, cái “tôi” cá nhân trong văn học cũng
như trong đời sống đã hoà vào tập thể, trở thành cái “ta” chung của toàn dân
tộc. Đồng thời, văn học giai đoạn này còn lấy cảm hứng về tương lai tốt đẹp,
tươi sáng, đề cao sức mạnh tinh thần và sự lạc quan cách mạng trong khói
lửa chiến tranh.
3


2.1.2. Sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu trước năm 1975:
Đến với văn học vào một thời điểm lịch sử đặc biệt, Nguyễn Minh Châu
càng nhận thức sâu sắc hơn về lương tri, trách nhiệm và sứ mệnh thiêng
liêng của ngòi bút mình. Ông luôn nghiêm túc đòi hỏi người nghệ sĩ phải là
người chiến sĩ trên mặt trận của Đảng. Người nghệ sĩ mỗi khi sáng tác không
thể chơi vơi mà phải hình dung ra tác phẩm của mình, đem “ướm” nó vào
cuộc sống, “thử nhìn xem nó có nằm trong cái mạch chính của cuộc sống
hay không, thử nhìn xem nó có lạc hậu hoặc trước quá xa bước tiến triển
của xã hội không? Thử nhìn xem tác phẩm có mang đến cho xã hội một

chiến tranh phá hoại của Mỹ. Hiện thực bao trùm trong tác phẩm là tư thế
4


vừa bình tĩnh chủ động vừa khẩn trương trong cuộc sống của một làng quê
và cuộc chiến đấu anh hùng của một đơn vị hải quân ta khi chiến tranh vừa
xảy đến. Sức mạnh của lòng yêu nước và mối quan hệ mới giữa con người
với con người trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là hai nhân tố cơ bản được
Nguyễn Minh châu chú ý khai thác để chứng minh sự vững vàng của nhân
dân miền Bắc trước thử thách của chiến tranh. Cuộc sống đang đi vào thời
chiến nhưng không khí ở làng Kiều Sơn quanh cửa sông Kiều là một không
khí đầy lạc quan. Ý thức làm chủ tập thể làm chủ cuộc đời là nét nổi bật
trong phẩm chất của mỗi người. Thanh niên nô nức tòng quân. Phụ nữ địa
phương đảm đương việc đồng áng việc gia đình cũng như tham gia chiến
đấu và phục vụ chiến đấu hết sức mình phù hợp với từng cương vị và hoàn
cảnh. Bộ mặt nông thôn với mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tốt đẹp
đã tạo cho miền Bắc một tư thế vững vàng để chống lại cuộc chiến tranh phá
hoại của giặc Mỹ đồng thời sẵn sàng chi viện sức người sức của cho tiền
tuyến lớn miền Nam.
Trong cái làng nhỏ này ta bắt gặp đủ loại người: một cô giáo trẻ - cô giáo
Thuỳ - mơ mộng dịu dàng đang “ba cùng” với nhân dân; một phóng viên
nhà báo nữ trẻ; những chiến sĩ trẻ mới trên đường ra trận tuyến hoặc bước
vào cuộc chiến đấu đầu tiên; những người lính từng cầm súng thời kháng
chiến chống Pháp giờ vẫn tiếp tục cầm súng chống Mỹ (trung tá Quang)
hoặc về tham gia công tác hợp tác xã chi bộ Đảng hoặc chính quyền địa
phương các cấp (ông Lâm, ông Vàng); một người phụ nữ nông dân - bà
Thỉnh - lam lũ tất bật và có cuộc đời riêng nhiều thua thiệt nhưng “tâm hồn
là một viên ngọc trai ngời sáng”; đến cả một cụ ông ngót tám mươi tuổi mà
tuổi bước vào đời đầy cực nhục bây giờ tiếc không còn sức để cầm súng diệt
thù;… Mỗi người đều có một hoàn cảnh và một nỗi niềm riêng. Thế nhưng

nhiệm với Tổ quốc niềm say mê chiến đấu và tâm hồn trong sáng. Đông đúc
và sinh động nhất là thế hệ trẻ thế hệ trưởng thành trong chế độ mới ưu việt.
Với “Dấu chân người lính” Nguyễn Minh Châu đã cố gắng dựng lại không
khí dữ dội của chiến tranh chống Mĩ từ những cuộc hành quân chiến dịch
bao vây đánh lấn trên từng mét chiến hào từng mỏm đồi cho đến khi kết thúc
chiến dịch vùng Khe Sanh - Tà Cơn được giải phóng. Ở cuộc chiến đấu
giằng co dai dẳng và đầy thử thách này, quá khứ hiện tại cùng xen kẽ vào
nhau để lí giải cội nguồn của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam lí giải
nguyên nhân sâu xa làm nên những chiến thắng trước cuộc đụng đầu lịch sử
khốc liệt bậc nhất trên hành tinh ở thời điểm bấy giờ - ở cái thời điểm mà
một nhà thơ phải ngỡ ngàng “Việt Nam - người là ai mà trở thành nhân
loại”.
Với cốt truyện phát triển từ nhiều điểm nhìn, tác giả lần lượt miêu tả những
nhân vật như Kinh, Lữ, Nhẫn, Lượng, Khê, Cận,… xoay quanh chiến dịch
tại mặt trận Khê Sanh. Khuê là một chiến sĩ cần vụ thông minh khéo léo, là
cấp dưới của Kinh, một cán bộ đầy lý tưởng, hoạt bát, đức độ và tình cảm.
Nhẫn là trung đoàn trưởng trung đoàn 5, một con người thanh lịch nhưng
nghiêm khắc, xuất thân từ tiểu tư sản đã được rèn luyện khắc khổ, là cấp trên
của Lượng, đại đội trưởng đại dội trinh sát. Kinh, Khuê, Nhẫn, Lượng cùng
làm việc với nhau, mỗi người một tính cách nhưng có chung một điểm đó là
những con người tràn trề nhiệt huyết, chiến đấu kiên cường và tin tưởng
mãnh liệt vào sự nghiệp kháng chiến của dân tộc. Mỗi bước đường họ đi là
biết bao nhiêu kỉ niệm, câu chuyện cảm động về tình người, tình anh em,
tình đồng đội và tình yêu đôi lứa. Trên đường chiến đấu, Kinh gặp lại con
trai mình là Lữ. Ông yêu con trai mình hơn ai hết và tin tưởng vào anh với tư
thế của một người cha và một người đồng đội. Về phần Lữ, đây là một
chàng thanh niên bản tính nghệ sĩ nhưng đứng trước sự nghiệp kháng chiến
6



trong sự hoà âm với bản “đại hợp xướng anh hùng ca”, ta vẫn có thể cảm
nhận những nét trầm lắng suy tư, những “âm trầm nốt lặng” vốn là sắc điệu
riêng của cây bút Nguyễn Minh Châu. Cùng với việc tập trung khám phá
những vẻ đẹp có thực dễ nắm bắt trên bề mặt cuộc sống, ở một chừng mực
nhất định, ông đã gắng khơi vào phần chìm khuất của đời sống, những vẻ
đẹp tìm ẩn trong mỗi con người. Qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai
đoạn này ta có thể thấy khá rõ xu hướng không chỉ nắm bắt mà còn muốn đi
vào cắt nghĩa, lí giải chiều sâu, vẻ đẹp tinh thần độc đáo của dân tộc. Vẻ đẹp
ấy thể hiện trong vẻ đẹp của mỗi con người đang sẵn sàng xả thân cho cuộc
chiến đấu hào hùng. Ông quan niệm: “Mỗi con người đều chứa đựng trong
7


lòng những nét đẹp đẽ kì diệu đến nỗi cả một đời người cũng chưa đủ để
nhận thức, khám phá tất cả những cái đó”. Chủ đích nghệ thuật này đã
thành một định hướng nhất quán trong suốt hành trình nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu: hướng về vẻ đẹp của cuộc đời, của con người.
Mặt khác, tuy chưa có điều kiện đi sâu vào những éo le, ngang trái khôn
lường và khó tránh trong số phận mỗi người, nhưng ngay giữ những trang
viết đầy hào sảng của “Cửa sông” hay “Dấn chân người lính”, người đọc
đã mong manh cảm nhận được dường như nỗi đau vẫn song hành tồn tại
cùng niềm vinh quang, ngay dưới chân tượng đài chiến thắng. Những nỗi éo
le, ngang trái trong đời tư, sự vênh lệch giữ số phận cá nhân với số phận
cộng đồng là điều có thực, là điều không tránh khỏi. Đó là những nhánh rẽ
có sức ám ảnh trong mạch đi hào hùng của văn học chống Mỹ nói chung và
sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong chiến tranh nói riêng. Có điều, chính
Nguyễn Minh Châu cũng từng nói: “Bây giờ ta phải chiến đấu cho quyền
sống của cả dân tộc. Sau này, ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng
con người, làm sau cho mỗi con người ngày một tốt đẹp. Chính cuộc chiến
đấu ấy mới lâu dài.” Như vậy, ta càng thấy được sự nhạy cảm, càng trân

phức tạp, với những vấn đề riêng tư, về số phận, nhân cách, khát vọng nhân
bản của con người. Giai đoạn này, Văn học là phương tiện biểu hiện tư
tưởng, chính kiến riêng của nhà văn, không còn mình hoạ cho một tư tưởng
có sẵn như thời kì trước. Mỗi nhà văn đều có một ý thức về chân lí trong
quan niệm của mình. Các nhà văn thường từ bỏ lối viết theo cảm hứng lãng
mạn, mạnh dạn tìm tòi, mở ra những lối đi mới cho nghệ thuật. Văn học lúc
này không chỉ là những sự lạc quan, phấn khởi nữa mà còn chứa đựng trong
đó những nỗi buồn, sự ưu tư gắn liền với thực tại rối ren, phức tạp, với
những bi kích nhân sinh trong đời sống. Con người cũng từ đó xuất hiện
trong Văn học như một thực thể phức tạp, đa chiều, đa diện và xu hướng tự
vấn, tự sám hối ngày càng nổi trội. Như vậy, Văn học giai đoạn này đã
không còn là một bản hợp xướng anh hùng ca nữa. Dù mỗi nhà văn đã chọn
cho mình một hướng đi riêng, một phong cách riêng nhưng tất cả đều nhìn
vào hiện thực cuộc sống, vẽ nên bức tranh cuộc sống chân thực và rõ ràng.
2.2.2. Sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975:
Năm 1975, chiến tranh kết thúc, nhưng những hậu quả nnặng nề nó để lại
thì không dễ gì vượt qua. Đối với con người, chiến tranh như “một lưỡi dao
phạt ngang” biết bao cuộc đời, biết bao số phận mà hai nửa cuộc đời ấy thật
khó để gắn liền lại như cũ. Đối với đất nước là ngỗn ngang biết bao vấn đề:
xoá bỏ hận thù, hoà hợp dân tộc, hàn gắn vết thương chiến tranh… Và
Nguyễn Minh Châu đã từng viết “bước ra khỏi cuộc chiến tranh cũng cần
thiết phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào một cuộc chiến tranh”.
Trong ý thức thường trực gắn bó với đời sống, Nguyễn Minh Châu đã kịp
thời bắt vào nhịp sống mới và sớm phát hiện những vấn đề “sinh tử” mới của
đất nước ngay giữa thời điểm chuyển giao giữa chiến tranh vào hoà bình. Và
như đã hứa hẹn, Nguyễn Minh Châu đã nhanh chóng cùng dân tộc bước vào
“cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người”. Từ đó, Nguyễn Minh
Châu lấy con người làm cốt lõi cho sáng tác của mình, đã khẳng định một
lần nữa nhận định của Gorki “Văn học là nhân học”. Đó cũng là những
chuyển đổi chung của văn học sau năm 1975 và Nguyễn Minh Châu đã góp

Hàng loạt những tác phẩm liên tiếp ra đời trong giai đoạn này: Người đàn
bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Cơn giông, Cỏ lau… Không ở đâu
trong những tác phẩn đó ta không thấy được cái hiện thực khốc liệt của
chiến tranh. Có lẽ không ai có thể nói về những di chứng của chiến tranh,
những mất mát, éo le, những bi kịch hằn sâu trong số phận con người một
cách da diết và đau đớn như Nguyễn Minh Châu. Có thể nào quên được cảnh
tượng ám ảnh này trong “Cỏ lau”: “Khắp bốn phía trời những hòn vọng phu
đứng nhan nhản. Thật là đủ hình, đủ dáng, đủ tư thế của một thế giới đàn bà
đã sống trải bao nổi can qua, chiến chinh dường như đang tụ hội về đây,
mỗi người một ngọn núi đang đứng một mình vò võ chon von trên các núi đá
cao ngất, người ôm con bên nách, người bế con trước ngực, người cõng con
sau lưng, hai tay buông thõng quay mặt về đủ các hướng, các ngã chân trời
có sung nổ, có lửa cháy.”. Ông đã viết những điều này bằng tiếng nói cảm
thông, chia sẻ của người trong cuộc, bằng chính nỗi lo âu lớn lao và khắc
khoải về con người mà ông hết lòng yêu thương, gắn bó. Có thể nói, sáng tác
của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này đã rơi trúng nguồn mạch nhân văn,
đáp ứng nhu cầu nhân bản cấp thiết đặt ra đối với nền văn học dân tộc sau
chiến tranh. Và vì thế, tác phẩm của ông đã tạo được sự đồng cảm lớn từ
người đọc.
10


Viết về chiến tranh, Nguyễn Minh Châu không chỉ nhìn về những số phận
bị ẩn chìm mà còn nhìn thẳng vào cả sự tha hoá về nhân cách và đạo đức nảy
sinh trong chiến tranh. Đó là sự tha hoá của Bàng trong “Miền cháy”, những
suy nghĩ lệch lạc của Phong trong “Lửa từ những ngôi nhà”, sự phản bội
đớn hèn của Quang trong “Cơn giông”,… tất cả góp phần tạo nên một bức
tranh chân thực về những cuộc chiến. Bởi lẽ ai đã từng đi qua nó đều biết
rằng về căn bản, không một cuộc chiến nào chỉ có những vinh quang, dẫu
cho đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa, dẫu cho ta nắm được phần thắng



khác ra đời và sống được''. Thị hiếu người đọc ở đây, theo tôi, đó chính là
cái mà người đọc cần khi tiếp cận một tác phẩm văn học. Người đọc cần đọc
được những vấn đề nhức nhối của hiện thực đời sống mà họ quan tâm, chứ
không phải là thứ ''văn chương minh họa'' mà sau này ông đã đề cập trong
Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa. Theo đó, ông
nhấn mạnh tính chất hiện thực trong văn chương, một cái hiện thực thật sự
chứ không phải những ngôn từ, nội dung sáo rỗng, nó phải xuất phát từ trái
tim và lương tri của người cầm bút. Cũng chính từ đó, Nguyễn Minh Châu
đã tìm tòi đổi mới tính hiện thực trong quan niệm nghệ thuật của mình về
đời sống và con người, dù hiện thực đó có nhiều cái không dễ nghe.
Con người sau chiến tranh, cần phải có một đường hướng đúng đắn để sống
và làm việc. Đó cũng chính là điều khiến Nguyễn Minh Châu nhiều lần suy
tư, trăn trở. Ông hy vọng và đề cao vai trò của Đảng, Nhà nước trong việc
định hướng đúng con đường cho nhân dân đi, sao cho đời sống được cải
thiện, đất nước đi lên, hội nhập. Song song đó, ông cũng đưa ra lời cảnh báo,
cảnh tỉnh cho những cá nhân chưa có lối sống đúng đắn, chưa có được
những quan sát tinh tế về cuộc sống chung quanh, để góp phần hoàn thiện
con người mình hơn.
Trong ''Chiếc thuyền ngoài xa'', nhân vật nghệ sĩ Phùng, một con người say
mê cái đẹp, vui mừng vì chụp được chiếc thuyền có ''một vẻ đẹp thực đơn
giản và toàn bích'', ''một cảnh đắt trời cho''. Tuy nhiên, chính những con
người sống trên chiếc thuyền mà anh vừa chụp ấy, đã đưa đến cho anh một
cái nhìn khác hơn, tinh tế hơn về sự cơ cực của người dân miền biển, một
trong những lí do khiến lão chồng đánh vợ tàn bạo. Từ đó kéo theo những
cái nhìn mới mẻ khác về cuộc sống mà rõ nhất là sự nhẫn nhục, đức hy sinh
của người đàn bà hàng chài vì quá thương con. Ở chiều ngược lại, đứa con
cũng vì thương mẹ mà đánh cha, khiến cho anh bàng hoàng chứng kiến hình
ảnh một cậu bé vừa hiếu thảo lại vừa bất hiếu. Sự đối lập, thuận - nghịch lí

thay mình hoàn thành tâm nguyện. Nhưng đời không như ý, vì mải chơi, con
Nhĩ quên mất nhiệm vụ bố giao, khiến anh càng thêm hụt hẫng, nuối tiếc. Về
điều này, tôi hoàn toàn đồng cảm với nhà văn Nguyễn Minh Châu, xem đó
như một lời nhắc nhớ chính bản thân mình về tình yêu quê hương và những
người trong gia đình, sống trọn vẹn nghĩa tình để cuối đời không ân hận.
Trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, nhân vật Quỳ cũng có
những chiêm nghiệm, quan sát sâu sắc, mới mẻ về cuộc đời sau khi qua
nhiều biến cố. Trước đó, cô là một người con gái có vẻ đẹp quyến rũ nên
được nhiều chàng si mê, và vì thế cô kiêu hãnh. Cô đã không thèm để ý đến
ai ngoài Hòa, trưởng sư đoàn, lại có tài, đẹp trai. Lúc nào cô cũng hi vọng có
được một người yêu hoàn hảo về mọi mặt, người ấy, nếu có, thì gần như
không phải là con người nữa, mà là một thánh nhân. Vì lẽ đó mà cô không
thể chấp nhận được Hòa có đôi bàn tay hay ra mồ hôi, lại hay vui mừng
nhảy cẫng lên vì có tin vui,... Một lần Hòa bị thương, sau bốn ngày điều trị,
13


sau những nỗ lực cứu chữa của bác sĩ Thương và hơn hết là sự cố gắng níu
kéo không ngừng nghỉ cái sự sống cho Hòa của Quỳ, Hòa vẫn ra đi cùng nụ
cười bí hiểm... Sau biến cố đó, và cả những biến cố sau này, những suy nghĩ
của Quỳ dần thay đổi, nhất là khi Hậu, người yêu cô rất nhiều, vì cô mà chết.
''Đồng chí đã có bao giờ trải qua một sự việc mà sau đó tình cảm, ý nghĩ,
cách nhìn con người và cả cách sống của mình đổi khác đi không?''. Quỳ đã
hỏi người đối diện mình câu hỏi đó, vì là cô đang dần có một sự thay đổi về
nhận thức, về cuộc sống chung quanh, thay đổi cách đối xử với những người
yêu thương mình mà mình không đáp lại hoặc hờ hững, vô tình. Và sự thay
đổi lớn lao nhất là Quỳ đã nói dối với mẹ Hậu mình là người yêu Hậu như
một cách đáp đền, chuộc lỗi, và sau đó nữa, Quỳ đã dành sự quan tâm cho
Ph. với mong muốn đưa anh ta ra khỏi tình trạng chán chường và hồi sinh trí
tuệ cho anh, ''trả anh ta về với công việc của anh ta''. Sau tất cả, Quỳ trưởng

cũng có chút suy nghĩ với câu nói ấy của nhà văn. Rõ ràng, chính sự hồn
nhiên của mình, đôi khi lại khiến người khác phải gánh lấy hậu quả, mà nặng
nề nhất là bằng mạng sống. Vì một lẽ nào đó, ta vô tình hoặc cố ý sống vô
tình, vô tâm, hờ hững, xua đuổi một con người không đáng nhận những điều
cay đắng ấy, để rồi cuối cùng, khi người ấy không còn, hoặc còn nhưng
không toàn vẹn (về cả thể xác lẫn tinh thần), lúc đó ta mới hối hận, mới
thương cảm, mới nói hai chữ ''giá như''. Giá như ngày ấy đừng đối xử như
vậy thì giờ đâu đến nỗi?!. Những người đàn bà trong truyện ngắn này cũng
vậy, sống cùng Thoan thì vu oan, xua đuổi, nghi ngờ, dè chừng, ngày Thoan
đi lại bịn rịn, vấn vương, lúc Thoan chết lại xót xa, khóc lóc. Có thể nào rồi
họ lại thêm một lần trong nhiều lần hồn nhiên, để cảm thấy chưa hoặc không
ân hận, dẫu là ân hận muộn màng, họ sẽ khóc đó rồi quên đó? Nhưng với
những ai đọc truyện ngắn này, sự day dứt là có thật. Và Nguyễn Minh Châu,
như đã nói ở trên, đã bắt trúng thị hiếu ấy để xây dựng nên những nhân vật
và tình huống truyện này. Từ đó, ông muốn gửi gắm một quan niệm về cuộc
đời, mà theo cảm nhận riêng của tôi, đó chính là: đời sống ngắn ngủi lắm,
thưa các bạn. Hãy yêu thương nhau khi còn có thể, dù người đó có gây ra lỗi
lầm, cứ đừng suy nghĩ, chần chừ, mà bao dung và tha thứ ngay, để họ thấy
vậy mà tha thiết làm lại cuộc đời, khát khao hướng thiện. Với những người
làm nghề ''cầm phấn lái đò'', sự bao dung ấy lại càng cần thiết hơn bao nhiêu
nghề khác! Thật vậy, không ai hoàn thiện cả, vậy sao lại bắt người ta không
được sai lầm, sao lại không bỏ qua sai lầm cho người ta? Một con người xấu
xa đến đâu, vẫn có một điểm tốt mà đôi khi vì sẵn có thành kiến với họ, vô
tình ta phủ nhận mặt tốt ấy. Điều tốt vẫn tồn tại trong cái xấu, cũng như cái
xấu vẫn hiện hữu trong điều tốt. Đã là con người, không ai tốt hoặc xấu một
cách hoàn toàn, mà có tốt, có xấu, hai thứ cứ chồng chéo, đan xen, như quan
niệm đúng đắn của cố nhà văn Thu Giang - Nguyễn Duy Cần trong quyển
''Một nghệ thuật sống''. Vì những lẽ trên, quan niệm này, theo tôi, rất tiến bộ
và đầy giá trị nhân đạo, mà Nguyễn Minh Châu trên con đường tìm tòi
những quan niệm về nghệ thuật sống của con người đã phát hiện ra, rồi dịu

chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ''. Những tưởng cuộc sống bà chỉ toàn đau
khổ, nhưng khi được hỏi có khi nào vui không, bà trả lời ngay không do dự
bằng tất cả sự hồn nhiên và tình yêu dành cho con mà mình có được: ''Vui
nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no''. Những câu trả lời
không ai có thể bắt bẻ ấy, khiến Đẩu, Phùng và chúng ta phải chưng hửng,
nhìn lại, và suy ngẫm. Quả thật sự hy sinh ấy là quá lớn lao, và ắt hẳn trong
chúng ta ai cũng có một người mẹ tuyệt vời như vậy. Để rồi một lần nữa,
Nguyễn Minh Châu làm mới hình ảnh người phụ nữ hy sinh không chỉ về
16


tinh thần, mà còn về thể xác, nhưng dù gì thì cứ tiếp tục sống vì con, khiến
người đọc đã thấu nay còn thấu hơn cái sự cao cả của những đấng sinh
thành, để rồi biết trân trọng họ mà còn kịp.
Tiếp theo quan niệm về tình mẫu tử, trong truyện ngắn Mẹ con chị Hằng, ta
thấy hình ảnh người phụ nữ giàu đức hy sinh được thể hiện rõ ràng và sâu
sắc hơn hết. Hãy bắt đầu bằng chính sự vô tâm của Hằng đối với mẹ mình,
bà cụ Huân. Hằng không bất hiếu, ngược lại trong sâu thẳm trái tim mình,
chị ta thương mẹ. Nhiều lần cáu gắt với mẹ, sau đó, chị thấy ân hận. Ở chiều
ngược lại, mẹ chị, như bao bà mẹ Việt Nam khác, thương yêu con mình vô
điều kiện, dù rằng nó có đối xử với mình ra sao, có lỗi lầm gì cũng mặc. Một
tình yêu thương vô tận mà Hằng đương nhiên được hưởng. Nhưng dường
như cô không trân trọng. Như ai đó đã từng nói rằng: ''Khi đã trở nên quá
thân thuộc, con người ta thường quên mất cần phải trân trọng nhau''. Hằng
theo cách đó, không trân trọng mẹ và những tình cảm của mẹ mình, những
tình cảm mà theo chị là vụng về, lôi thôi như tính cách một người già vốn
thường luôn như vậy. Tuy thế, bà mẹ vụng về, lôi thôi ấy, lại không hề có
một chút gì cảm thấy buồn, hoặc có buồn thì cũng chóng qua, vì cụ nghĩ
rằng đó cũng là lẽ thường, và cụ vẫn thương con như vốn dĩ. Nếu phải tìm
một cái gì cao cả ở trên đời, đừng đi đâu xa, hãy về nhà sà vào lòng mẹ! Tin

trong cả nội dung lẫn hình thức viết của tác phẩm.
3.2. Phả vào văn xuôi viết về chiến tranh một hơi thở mới:
Viết về chiến tranh như thế nào luôn là điều khiến Nguyễn Minh Châu trăn
trở. Trước năm 1975, như chúng ta đã biết, các sáng tác của Nguyễn Minh
Châu, cũng như của nhiều nhà thơ khác, không tách rời những sự kiện chính
trị của đất nước. Để rồi theo đó, những nhân vật đại diện xuất sắc của chủ
nghĩa anh hùng ra đời, với Nguyễn Minh Châu là sự ra đời của Nguyệt, Lãm
trong Mảnh trăng cuối rừng; Lữ trong Dấu chân người lính,... Họ hội tụ mọi
vẻ đẹp của một con người, gần như hoàn hảo. Chính ông cũng đã thừa nhận
như thế trong Viết về chiến tranh (đăng trên báo Văn nghệ Quân đội số 11
năm 1978): ''Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh của ta, các nhân
vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt,
chưa thực''. Cũng theo ông, những nét tính cách đa dạng của một con người,
bao gồm cả tốt lẫn xấu, đáng ra phải được phơi bày, thì lại ''tạm thời giấu
mình trên trang sách''. Ông cũng nói, một trong những lý do chỉ có cái tốt
được nhắc đến, đó chính là trong cả hai cuộc kháng chiến, ta là kẻ yếu, vì thế
phải mạnh bằng bất cứ giá nào để giành chiến thắng, nên đành ''tạm gác lại
những sự thực đau lòng, những thất thiệt, những mặt tính cách nào của từng
con người không trực tiếp tạo nên chiến thắng''. Nhưng rồi Nguyễn Minh
Châu nhận thấy rằng, ''trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực đôi khi
chúng ta phải khai chiến với cả những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của
chính mình''. Điều đó, theo tôi, có nghĩa là những nhà văn muốn phản ánh
18


trong sáng tác của mình một cái hiện thực thật sự, không được nói đến toàn
những mặt tốt đẹp, mà phải thẳng thắn nhìn nhận, phơi bày những bản chất
xấu xa, tội lỗi, đôi khi là độc ác của tính cách con người, cũng với cứu cánh
là giáo dục, hướng thiện để con người hoàn thiện bản thân mình hơn. Như đã
nói ở trên, đó cũng chính là điều mà người đọc tìm kiếm khi tiếp cận những



nhưng ở nhiều khía cạnh, ta xét thấy, Quỳ vẫn là một con người rất... con
người, huống gì chính cô cũng đã thốt lên như thế: ''Tôi cũng chỉ là một con
người''. Trước hết, ta thấy Quỳ biết buồn khi người yêu bị thương; đến khi
người yêu mất, những tưởng cô sẽ không bao giờ rơi một giọt nước mắt nào;
tuy nhiên, khi bác sĩ Thương dẫn cô ra mộ Hòa, nhìn cảnh tượng đau lòng
ấy, cô đâu có kìm được? Cảnh tượng mồ xanh cỏ luôn khiến bao trái tim sắt
đá nhất cũng phải giọt vắn giọt dài, hẳn ta còn nhớ Thúy Kiều ngày xưa
cũng từng khóc mộ Đạm Tiên. Tiếp theo, Quỳ biết nhớ ơn Hậu, người đã vì
mình hy sinh, nên đã nói với mẹ Hậu rằng mình là người yêu của con trai bà
ấy, để bà được an tâm, an ủi. Kế đến, Quỳ biết lắng nghe những tâm sự thầm
kín mà nếu không phải là Quỳ, thì cũng sẽ không là bất cứ ai được nghe từ
cửa miệng của Ph.. Để từ đó, Quỳ quyết định sẽ cứu giúp con người này ra
khỏi cảnh chán chường và hồi sinh trí tuệ cho anh ta, như phần trên tôi đã đề
cập. Tất cả những thứ đó, theo cá nhân tôi, và tôi nghĩ có lẽ cũng sẽ nhận
được sự đồng tình từ các bạn, rằng nhân vật Quỳ được Nguyễn Minh Châu
khắc họa mang nhiều nét tính cách dung dị của một con người, cũng như
được đào sâu hơn vào thể giới nội tâm, chứ đâu phải chỉ là một con người
hoàn hảo ở dáng vẻ bề ngoài, một thánh nhân như trong văn chương trước
đây nữa.
Và tôi lại nhắc đến Thoan, người con gái mang thai sắp sanh nhưng bị
những người đàn bà ở chung đơn vị gây sức ép đến phải rời đi và qua đời vì
sanh khó, trong truyện ngắn Đứa ăn cắp. Cô gái ấy, được Nguyễn Minh
Châu cho những nét tính cách rất đời thường, như bao người khác thôi. ''Cái
con Thoan cấp dưỡng, cao lớn, duyên dáng, hay hát và hát rất hay, mồm lúc
nào cũng bỏm bẻm nhai cháy, gặp ai cũng chào hỏi vồn vã, đuểnh đoảng và
rất là lười, và lại còn có cái tính xấu hay tắt mắt nữa''. Rõ ràng, với những
nét tính cách như thế, Thoan được tự do phát lộ ra những gì thực là của
mình, và tôi nhận thấy rằng, những ai sống thực là mình, bao giờ cũng khiến

trần tục,...
Những điều ấy, không phải những nhà văn của chúng ta không thấy, không
biết, nhưng không phải ai cũng dám đưa vào trong những trang văn của
mình. Có người đã làm, và rồi thì ''bị thổi còi, bị phê phán trên báo, được
tập thể góp ý xây dựng, nhà văn ngồi một mình giữa vắng vẻ ngâm nga:
Chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa'' (Hãy đọc lời ai điếu cho một giai
đoạn văn nghệ minh họa). Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn làm việc đó,
trên con đường đi tìm những mới mẻ cho ngòi bút của mình thỏa sức múa
may.
Dù viết về những gì rất đời thường, rất con người, hay những di chứng từ
chiến tranh, tựu trung lại, Nguyễn Minh Châu cũng vẫn đề cao cái hiện thực
thật sự được phản ánh trong tác phẩm. Hiện thực gắn liền với những quan
niệm, nhưng tâm tư, suy nghĩ trở trăn của con người sau chiến tranh, góp
21


phần tạo nên một tác phẩm văn chương đáng để người đọc chờ đợi. ''Một vụ
việc chỉ là một vụ việc. Nhưng nếu ta mô tả con người tham gia vào những
vụ việc ấy với tất cả chiều sâu của tiến trình diễn biến tâm lí và tính cách là
chân thực và khách quan thì khiến người đọc không thể thờ ơ được''. Đó
cũng chính là những nỗ lực tìm tòi, đổi mới của nhà văn Nguyễn Minh Châu
trong những sáng tác về đề tài chiến tranh sau năm 1975.
3.3. Những tìm tòi đổi mới về hình thức nghệ thuật:
3.3.1. Nghệ thuật xây dựng tình huống:
Từ năm 1975 trở về trước, các sáng tác của Nguyễn Minh Châu phản ánh
những sự kiện lịch sử của đất nước nên những nhân vật của ông mang dáng
vóc chủ nghĩa anh hùng, theo đó bộc lộ những nét phẩm chất cao đẹp. Họ
được đặt ở giữa sự lựa chọn, chung hoặc riêng, sống hoặc chết, với cứu cánh
là giành chiến thắng. Và bao giờ cũng thế, cái chung được đề cao, cái tính
cách anh hùng được tô đậm nét.

Cuộc sống có nhiều nghịch lí, nhưng đôi khi chính cái nghịch lí ấy lại góp
phần đưa ra một chân lí. Nắm bắt thị hiếu đó của khán giả, Nguyễn Minh
Châu trong nhiều sáng tác của mình đã đưa ra tình huống nghịch lí, mà dễ
thấy nhất là trong truyện ngắn Bến quê. Lạ lùng thay, nhân vật Nhĩ của
chúng ta, một con người suốt đời đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất,
lại chưa từng đặt chân qua bên kia sông. Xa xôi cách mấy cũng đi, gần ngay
trước mắt chưa lần nào đến, quả là nghịch lí. Để rồi khi Nhĩ giật mình nhận
ra và muốn đặt chân đến đó một lần, cũng là lúc anh ngậm ngùi nhận thấy
rằng sức khỏe hiện tại của mình đã không cho phép, chỉ còn biết ôm nỗi ân
hận muộn màng. Đến lúc bấy giờ, cái gần với Nhĩ lại hóa thành xa xôi.
Thêm một nghịch lí, cao hơn, đau đớn hơn. Tình huống này như một lời
cảnh tỉnh của Nguyễn Minh Châu cho những ai - như đã nói ở trên, lúc nào
cũng muốn tìm kiếm cái xa xôi mông lung huyễn hoặc, mà vô tình quên đi
rằng, bên cạnh mình còn có những người, những điều, những vùng đất quê
hương yêu dấu đang dang rộng vòng tay. Và sau cái nghịch lí, đó chính là
chân lí.
Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, tình huống nghịch lí cũng vô
cùng độc đáo. Chiếc thuyền ẩn hiện trong biển sớm mờ sương, ''có pha đôi
chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào'', thực ra không đẹp như
Phùng nghĩ. Mà ngược lại, khi tiến vào bờ, chiếc thuyền ấy mang theo
những cảnh rợn người. Những con người trên chiếc thuyền lũ lượt bước
xuống, mỗi người góp phần tô đậm cho cái cảnh tượng phi thẩm mĩ lẫn phi
đạo đức: lão chồng vũ phu đánh vợ, đứa con bênh mẹ lại đánh cha, cả ông
lẫn bà ai nấy đều xấu xí, thô kệch, lộ vẻ mệt mỏi, chán chường,... Chứng
kiến cảnh ấy, nhiếp ảnh Phùng không khỏi ngơ ngác, như không tin vào mắt
mình. Và rồi thông qua hai phát hiện đối lập ấy, nhân vật Phùng của chúng
ta, nhà văn Nguyễn Minh Châu của chúng ta, chiêm nghiệm được rằng cuộc
đời vốn chứa đựng nhiều nghịch lí, mâu thuẫn, không thể nào cứ đánh giá
con người ở cái dáng vẻ bề ngoài, mà phải đi sâu vào tìm hiểu, phát hiện
những bản chất sâu kín bên trong.

Trong Đứa ăn cắp, tuy cốt truyện xoay quanh Thoan, nhưng hầu như
Thoan không cất giọng trong toàn bộ tác phẩm, hoặc nếu có cũng do những
người đàn bà cùng đơn vị hồi tưởng lại. Tuy nhiên, chính những người đàn
bà ấy lại góp mỗi người một tiếng nói, đưa ra những cái nhìn về Thoan,
những xúc cảm khi hay tin Thoan qua đời vì sinh khó. Từ đó mới thấy, giọng
điệu trần thuật trong truyện ngắn không nhất thiết là của nhân vật chính, cho
những nhân vật phụ nói lên tiếng nói của mình về nhân vật chính cũng là
một cách làm sáng tạo, mới mẻ của Nguyễn Minh Châu về phương diện
nghệ thuật.
3.3.3. Ngôn ngữ trần thuật:
Ngôn ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước năm 1975 đậm
tính sử thi, hào hùng, dù là tả cảnh núi rừng hay tâm trạng con người.
Sau năm 1975, ngôn ngữ của ông có phần giản dị hơn. Cũng dễ hiểu, vì
ông chủ trương viết về những cái dung dị đời thường của tính cách con
người cũng như những quan niệm về cuộc sống.
Ông đã mang cái vẻ cụ thể của một con người đời thường để miêu tả chân
dung nông dân Khúng ''Khúng y như một con bọ hung từ dưới đất chui lên,
vừa đen vừa gầy vừa già vừa xấu. Bàn tay lão giống y như một tòa rễ cây''.
24


Ngôn ngữ xưng hô trong Chiếc thuyền ngoài xa cũng là một sự mới mẻ.
Ban đầu khi bước vào tòa án huyện, người đàn bà hàng chài khúm núm sợ
sệt, thưa gửi, xưng con, tuy nhiên sau đó lại xưng chị, kêu Đẩu và Phùng là
chú. Cách xưng hô ấy như của một người chị dành cho những đứa em của
mình, thân mật, gẫn gũi vô cùng.
KẾT LUẬN
Nguyễn Minh Châu là nhà văn có đóng góp to lớn cho nền Văn học dân
tộc. Ở cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau năm 1975, ông đều để lại những
tác phẩm xuất sắc. Nếu như trước năm 1975, ông chủ yếu viết về người anh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status