Chuyên đề tốt nghiệp LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Thực trạng pháp luật trong quản lý
Nhà nước về xuất bản ở Việt Nam & những
yêu cầu đổi mới trong cơ chế thị trường định
hướng XHCN
”
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
XUẤT BẢN Ở VIỆT NAM & NHỮNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI TRONG CƠ
CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN 14
I. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT BẢN Ở VIỆT
NAM 14
1. Sự hình thành hoạt động quản lý Nhà nước bằng pháp luật ở Việt Nam 14
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Thực trạng Pháp luật trong quản lý Nhà nước về xuất bản ở Việt Nam 17
II. NHỮNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XUẤT BẢN Ở VIỆT NAM22
1. Về lý luận 23
2. Về thực tiến 24
Chương 3: ĐỔI MỚI & HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT BẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - PHƯƠNG HƯỚNG
VÀ GIẢI PHÁP 31
I. HỆ THỐNG NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT BẢN 31
1. Pháp luật bảo đảm quyền tự do sáng tạo, công bố & phổ biến xuất bản
phẩm 31
2. Pháp luật bảo đảm định hướng XHCN đối với xuất bản trong điều kiện cơ
chế thị trường 32
3. Pháp luật đảm bảo quyền bình đẳng & tự do trong hoạt động xuất bản 33
4. Mở rộng giao lưu quốc tế về văn hoá, phát triển xuất bản là hoà nhập vào
pháp luật và thông lệ quốc tế 34
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT BẢN 36
1. Phương hướng đổi mới & hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về
xuất bản 36
2. Các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới & hoàn thiện pháp luật trong quản lý
Nhà nước về xuất bản 45
nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp và phê bình của các thầy cô.
Chuyên đề tốt nghiệp
2
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT XUẤT BẢN
Ở VIỆT NAM
I. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
BẰNG PHÁP LUẬT VỀ XUẤT BẢN
1. Nhận thức chung về xuất bản
Để có những nhận thức chung và thống nhất về xuất bản, mà ở đó các
quan hệ xã hội được hình thành, tạo nên đối tượng điều chỉnh của pháp luật
xuất bản, phần này được trình bày khái quát từ khái niệm, đến vị trí, vai trò và
đặc điểm của xuất bản.
1.1. Khái niệm
Hiện nay, ở Việt Nam xuất bản đã phát triển và đạt trình độ mới. Các
nhà xuất bản chuyên lo việc tổ chức, hoàn chỉnh bản thảo, bản mẫu đưa in.
Các nhà in lo việc tiếp nhận công nghệ mới, để thoả mãn nhu cầu về số lượng
và chất lượng việc in nhân bản các ý tưởng của tác giả, của nhà xuất bản
thành xuất bản phẩm. Phát hành là người chuyển tải các ý tưởng chứa đựng
trong những xuất bản phẩm đến tay người sử dụng, thông qua hoạt động
thương nghiệp.
Vậy xuất bản là gì?
Theo nghĩa rộng, xuất bản là hoạt động bao gồm các lĩnh vực xuất bản,
in và phát hành xuất bản phẩm. Hoạt động xuất bản là quá trình tổ chức các
nguồn lực xã hội trong việc sáng tạo tác phẩm, in nhân bản các tác phẩm, phổ
bày trên, xuất bản vẫn sẽ tồn tại và phát triển cùng xã hội loài người. Nó sẽ
tiếp nhận các tiến bộ của khoa học và công nghệ, đa dạng hoá xuất bản phẩm,
đa năng hoá xuất bản phẩm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của
bạn đọc.
Chuyên đề tốt nghiệp
4
1.3. Đặc điểm của xuất bản
Phần này chỉ trình bày những đặc điểm cơ bản liên quan đến việc điều
chỉnh của pháp luật.
- xuất bản vừa là hoạt động văn hoá tư tưởng vừa là hoạt động kinh tế
Xét về phương diện mục đích và hiệu quả thì xuất bản hướng tới việc
cảm hoá con người, cải tạo con người, để cải tạo thiên nhiên và xã hội vì mục
đích của con người. Nó là một hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ và vì trí
tuệ. Song khi các sản phẩm của trí tuệ là sách đã “nhiễm” vào con người thì
nó không thể chỉ là dạng tinh thần, mà đến “cái ngưỡng” nhất định nó sẽ
chuyển hoá thành lực lượng chất.
- xuất bản phẩm là kết quả của quá trình tư duy và quy trình sản xuất
đặc thù.
Xuất bản là một loại ngành nghề, và nó trở thành một ngành kinh tế kỹ
thuật đạt lợi nhuận cao ở các nước phát triển. Hoạt động của nó là dạng hoạt
động sản xuất vật chất đặc biệt. Tính đặc biệt do đòi hỏi của sản phẩm sách
quy định. Toàn bộ quy trình sản xuất hàng hoá sách là một quá trình của lao
động tư duy, lao động trí óc
Khi xét tới giá trị sử dụng của xuất bản phẩm, ta có thể thấy một số
thuộc tính sau:
- Trong tiêu dùng giá trị của xuất bản phẩm không những không mất đi
mà còn được nhân lên. Người đọc sách không chỉ thoả mãn tức thời, như
uống nước khi khát, mà cái giá trị nội dung tiếp nhận được còn tích lũy lâu
Quản lý Nhà nước bằng pháp luật là tiền đề quan trọng dẫn đến hiệu
quả chính trị, kinh tế, xã hội nói chung và trong xuất bản nói riêng. Hiệu quả
chính trị là cơ sở dẫn đến hiệu quả kinh tế xã hội. Vì nền chính trị xó vững
vàng, hệ thống chính trị ổn định, thì xã hội mới phát triển, kinh tế mới tăng
trưởng. Mọi tiềm năng được phát huy trong không khí thanh bình, triển vọng.
Trong trường hợp đó không loại trừ khả năng xảy ra các cuộc ẩu đả, các cuộc
Chuyên đề tốt nghiệp
6
chiến huynh đệ tương tàn. Cũng có thể nói hiệu quả chính trị là nguyên nhân
quan trọng dẫn đến các hiệu quả kinh tế, xã hội. Nhưng chính sự ổn định của
kinh tế, kinh tế tăng trưởng, và sự ổn định của các giá trị xã hội, sẽ củng cố và
tăng cường sự ổn định chính trị, chế độ chính trị và hệ thống chính trị. Đó là
sự tác động tích cực trở lại của hiệu quả kinh tế, xã hội đối với hiệu quả chính
trị.
2.2. Những đặc trưng cơ bản của quản lý Nhà nước bằng pháp luật về
xuất bản
Quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong xuất bản có ý nghĩa quan trọng
đặc biệt, xuất phát từ các đặc trưng cơ bản là thuộc tính của các quan hệ xã
hội về văn hoá, xuất bản. Nhưng ý chí của Nhà nước về quản lý xuất bản “để
lên thành luật” phải “bắt nguồn trong các quan hệ vật chất” về xuất bản. Sau
đây là các đặc trưng chính trong quản lý Nhà nước về xuất bản bằng pháp
luật.
- Quản lý Nhà nước về xuất bản bằng pháp luật là bảo tồn, phát triển
nền văn hoá dân tộc, hiện đại nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn hoá và tiến bộ
về khoa học - công nghệ của nhân loại.
- quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản là mở đường cho hoạt
động sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học để công bố
dưới hình thức xuất bản.
Nhà nước được thực hiện trong thực tế về việc xây dựng một nền văn hoá
mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; loại trừ và ngăn chặn những độc hại về
văn hoá. Là phương tiện điều chỉnh có hiệu lực, pháp luật tạo môi trường
thuận lợi cho các hoạt động văn hoá phát triển theo định hưỡng xã hội, loại
trừ khả năng hoà tan và đổi mầu trong quá trình hoà nhập.
Như vậy, việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt động xuất bản là
điều chỉnh hoạt động kinh tế trong văn hoá - tư tưởng, đồng thời điều chỉnh
hoạt động văn hoá- tư tưởng trong cơ chế thị trường. Đó là hai mặt của một
Chuyên đề tốt nghiệp
8
vấn đề phải được thể chế hoá phù hợp, đảm bảo cho xuất bản hoạt động đúng
quy luật, phát triển theo trật tự của pháp luật.
Chuyên đề tốt nghiệp
9
II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XUẤT BẢN
1. Pháp luật - phương tiện quản lý Nhà nước về xuất bản
1.1. Pháp luật - phương tiện tạo lập môi trường tự do sáng tạo, bình
đẳng cho các chủ thể trong hoạt động xuất bản
Với đặc trưng của lao động sáng tạo nói chung, đặc biệt là lao động
sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học nói riêng thì nhu cầu về
tự do sáng tạo, bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm là một đòi
hỏi khách quan. Vì vậy, tự do và bình đẳng trong hoạt động sáng tạo, công bố
và phổ biến tác phẩm là tự do trong khuôn khổ pháp luật. ở đó, các chủ thể
tham gia hoạt động xuất bản sẽ được làm tất cả những gì pháp luật cho phép.
pháp luật cũng ấn định những gì được phép làm, đối với các cơ quan Nhà
chỉ tác hại trong kinh tế mà nghiêm trọng hơn là sự tác động tiêu cực về chính
trị, tới các giá trị đạo đức, xã hội, truyền thống tốt đẹp.
Như vậy, xuất bản trong cơ chế thị trường, tình huống chưa có tiền lệ ở
nước ta, càng phải có pháp luật để ngăn ngừa mặt trái, mặt tiêu cực tác động.
Nhà nước phải phòng ngừa và ngăn chặn những hoạt động bất chấp hậu quả
xấu về chính trị và xã hội. Các điều cấm trong pháp luật xuất bản, đặc biệt về
nội dung là mệnh lệnh của Nhà nước, phải được các thủ thể xuất bản thi hành
nghiêm chỉnh
2. Nội dung điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản
2.1. Hoạch định chiến lược phát triển xuất bản theo định hướng xã hội
chủ nghĩa
Đối với các quốc gia, việc xác lập các mục tiêu phát triển trên từng lĩnh
vực của đời sống kinh tế xã hội được đặt ra như một tất yếu. Các mục tiêu đó
được xây dựng trên cơ sở thực trạng kinh tế - xã hội và xu thế phát triển của
thời đại. Nếu không làm được vấn đề này thì không khác người đi đường
Chuyên đề tốt nghiệp
11
không có đích. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, sự hoà nhập trong cộng đồng
quốc tế ở đó có nhiều mô hình phát triển khác nhau, thì việc lựa chọn mô
hình, bước đi, mục tiêu phát triển phù hợp càng đòi hỏi cấp thiết hơn. Hoạt
động xuất bản cũng nằm trong sự đòi hỏi phát triển có mục tiêu. Đây là nội
dung quan trọng đầu tiên, định hướng cho việc hình thành hành lang pháp
luật, đảm bảo cho hoạt động xuất bản phát triển. Với ý nghĩa đó, mục này
trình bầy những nội dung cần phải điều chỉnh bằng pháp luật.
2.2. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật trên các lính vực khác nhau của
xuất bản
Các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xuất bản, từ hoạt động
của các chủ thể xuất bản, in, phát hành, xuất nhập khẩu vật tư thiết bị xuất
bản, xuất nhập khẩu xuất bản phẩm đến hoạt động của các chủ thể trong lập
quyền phải thoả mãn các điều kiện cần và đủ. Vì vậy, việc ra đời các chủ thể
về xuất bản, in và phát hành cũng phải được Nhà nước qui định cụ thể về điều
kiện.
Về lĩnh vực xuất bản:
Với tính chất hoạt động chuyên nghiệp, và vị trí vai trò của nó trong
đời sống xã hội, các điều kiện ra đời phải bao gồm nội dung sau:
+ Điều kiện về pháp nhân: pháp luật phải quy định được các loại pháp
nhân thuộc đối tượng có thể đứng tên xin lập nhà xuất bản.
+ Điều kiện về sự phù hợp giữa tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ
của nhà xuất bản với chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân đứng tên xin thành
lập;
Về lính vực in và phát hành:
Các điều kiện thành lập cơ sở in và phát hành cần chú ý nhiều đến vón
hoạt động, và các yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật, việc ứng dụng công
nghệ và thiết bị, sản phẩm in. Tuy nhiên phải có điều kiện về mục tiêu, ngành
Chuyên đề tốt nghiệp
13
nghề kinh doanh. Các điều kiện này rất quan trọng, nhằm ngăn ngừa việc in
nhân bản các sản phẩm độc hại.
- các quy định về hoạt động xuất bản
Quyền tự do và quyền chủ động của nhà xuất bản, cơ sở in và phát
hành là quyền được làm tất cả những gì pháp luật xuất bản không cấm. Đó là
mục đích của hoạt động lập pháp. Vì như vậy mới phát huy được các nguồn
lực của cơ sở xuất bản. Đồng thời cho phép các cơ quan quyền lực Nhà nước
chỉ được làm những gì pháp luật qui định, nếu không pháp luật không còn là
phương tiện, mà trở thành mục đích của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Tóm lại, Là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc điều chỉnh các quan
hệ xã hội, quản lý Nhà nước về xuất bản bằng pháp luật có những đặc trưng
riêng, bắt nguồn từ các quan hệ vật chất về xuất bản. Xuất bản là quá trình tổ
003/SLt, về chế độ xuất bản, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự phát triển nền
xuất bản Việt Nam. Điều 1 Sắc luật đã ghi: “Quyền tự do xuất bản của nhân
dân được tôn trọng và bảo đảm, tất cả xuất bản phẩm đều không phải kiểm
duyệt trước khi xuất bản, trừ tình thế khẩn cấp, nếu Chính phủ xét cần”.
Nhà Xuất Bản Y Học được thành lập ngày 31 tháng 10 năm 1959. Trụ sở
chính đặt tại 352 Đội Cấn - Ba Đình - Hà Nội và chi nhánh tại 699 Trần Hưng
Đạo - TP Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay, qua các giai đoạn cách mạng, Nhà
Xuất Bản Y Học với chức năng và nhiệm vụ xuất bản các loại sách y dược và
các biểu mẫu giấy tờ quản lý y tế đã đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đẩy mạnh
sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Thời kì từ năm 1959 đến 1985 Nhà Xuất Bản Y Học là đơn vị hành chính sự
nghiệp, hoạt động xuất bản theo kế hoạch nhà nước giao. Chi phí xuất bản do
Chuyên đề tốt nghiệp
15
ngân sách nhà nước đài thọ, lấy việc hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch xuất bản
hàng năm làm nhiệm vụ trung tâm của đơn vị.
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Nhà Xuất Bản Y Học tiếp
nhận bộ phận xuất bản sách y học tại TP.HCM trở thành chi nhánh của mình.
Từ năm 1976 - 1985 đơn vị hoạt động theo chế độ bao cấp, đã xuất bản nhiều
bộ sách có giá trị, sách giáo khoa, sách chuyên đề, sách chuyên khảo phục
vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức y học, đào tạo cán bộ
y, dược ở các trường đại học, trung học và sơ học, phòng bệnh, chữa bệnh
phục vụ công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân.Với những thành tích đã đạt được,
năm 1984 Nhà Xuất Bản Y Học được Đảng và Nhà Nước tặng thưởng Huân
chương Lao động hạng Ba.
Từ năm 1986 đến1996 đơn vị hoạt động theo cơ chế sự nghiệp có thu, hoạt
động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, được nhà nước bù lỗ. Thời kì này đơn vị
gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho
công tác xuất bản. Nhà xuất bản đã thực hiện hạch toán trong sản xuất kinh
học, sách phục vụ công tác xã hội y tế được bạn đọc hoan nghênh, sách tham
khảo chuyên sâu có giá trị cao.
Từ chỗ cơ sở vật chất ban đầu của doanh nghiệp còn rất nghèo nàn, phương
tiện làm việc thiếu thốn đến nay qua 46 năm hoạt động, Nhà Xuất Bản Y
Học đã củng cố và phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị mới, nhà xưởng,
dây chuyền sản xuất được khép kín, máy móc hiện đại. Vì vậy sản xuất kinh
doanh liên tục ổn định và phát triển, đời sống CBCNV ngày một nâng cao.
Ghi nhận những thành tựu đó, nhân dịp kỉ niệm 45 năm thành lập
(31/10/2005) Nhà Xuất Bản Y Học vinh dự đón nhận tặng thưởng Huân
chương Lao động hạng Nhất của Đảng và Nhà nước trao tặng.
Chuyên đề tốt nghiệp
17
Như vậy, từ tháng 7/1993 ở Việt Nam hoạt động xuất bản đã có những
quy tắc xử sự trong các quan hệ xã hội về xuất bản ghi tại Luật xuất bản mới.
Những cơ sở pháp lý, hành lang pháp luật đã được hình thành, tạo điều kiện
cho hoạt động xuất bản phát triển, việc điều hành của cơ quan quản lý Nhà
nước, kiểm soát và xử lý của các cơ quan tư pháp. Luật xuất bản ngày
7/7/1993 là đỉnh cao của pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, nó đã kế thừa
được những giá trị tinh hoa của Sắc luật số 003/SLt, ngày 18/6/1957, tổng kết
được thực tiễn lãnh đạo và quản lý xuất bản trong 36 năm (1957-1993) của
Đảng và Nhà nước ta, đón nhận được những đòi hỏi mới của cơ chế kinh tế
thị trường ở Việt Nam và nhu cầu hoà nhập cộng đồng quốc tế.
2. Thực trạng pháp luật trong quản lý Nhà nước về xuất bản ở Việt
Nam
Những kết quả đã đạt được:
Trong hơn 10 năm qua, hoạt động xuất bản đã từng bước thích ứng với
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững định hướng chính trị
trong quá trình phát triển, ổn định hệ thống tổ chức, có bước phát triển đáng
động khôi phục thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới, phục vụ
tốt nhiệm vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Những mặt hạn chế
- Nhìn chung quy mô, năng lực sản xuất và kinh doanh của toàn ngành
còn nhỏ bé, trình độ công nghệ còn lạc hậu, chưa theo kịp các nước tiên tiến
trong khu vực.
- Khuynh hướng thương mại hoá tiếp tục tác động xấu đến hoạt động
của một số nhà xuất bản, đặc biệt đối với những nhà xuất bản có quy mô nhỏ,
năng lực yếu kém, bị tư nhân thao túng, dẫn đến xuất bản những loại sách
"hàng chợ", chất lượng thấp. Tình trạng vi phạm các quy định về pháp luật
Chuyên đề tốt nghiệp
19
xuất bản và không thực hiện đúng quy trình biên tập dẫn đến sai phạm về nội
dung vẫn chưa được khắc phục.
- Rất nhiều người sống ở đô thị được tặng sách, thừa sách nhưng không
có nhu cầu đọc. Sách đâu chỉ để dành phục vụ các học giả, nhà trí thức nhưng
nhiều khi những người công tác trong lĩnh vực xuất bản vẫn quên mất đối
tượng độc giả khá lớn cần quan tâm là người nghèo.
Theo Cục Xuất bản, năm 2007, toàn ngành Xuất bản được 26.609 cuốn,
276,447 triệu bản, đạt 106,4% về cuốn, 122% về bản so với năm 2006.
Hiện nay, cả nước có khoảng 13.200 nhà sách, hiệu sách, trung tâm
sách, 65 công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xuất bản phẩm. Tuy nhiên,
phần lớn sách mới chỉ được tập trung phát hành tại các khu trung tâm, các
thành phố lớn, rất ít đến được với đồng bào miền núi, vùng sâu vùng xa.
Qua trên có thể thấy rằng, mặc dù lượng sách xuất bản thời gian qua
tăng tương đối cao, nội dung phong phú hơn nhưng mới chỉ phục vụ cho
khoảng 30% dân số, 70% còn lại là đồng bào ở các vùng nông thôn, miền núi,
vùng sâu, vùng xa chưa có sách, thậm chí là những sách cơ bản tối thiểu, hỗ
trợ họ ngay trong công việc hàng ngày cũng không có để đọc.
- Hoạt động xuất bản thực hiện định hướng phát triển toàn ngành, phục
vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của đất nước; nâng cao chất lượng của các xuất
bản phẩm, phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của các đối tượng đọc khác
nhau, góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa dân tộc.
- Tập trung xây dựng tiềm lực và năng lực của hoạt động xuất bản, hoạt
động xuất bản đã từng bước thích ứng cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Trong 3 năm (2004 - 2007) tốc độ phát triển của toàn ngành xuất
bản không ngừng tăng. Năm 2004, xuất bản được 19.695 tên sách với
242,700 triệu bản; năm 2007 với 26.609 tên sách (tăng 146% so với năm
Chuyên đề tốt nghiệp
21
2004), đạt 276,447 triệu bản, mức hưởng thụ bình quân 3,3 bản sách/người/
năm.
Cơ quan chỉ đạo của Đảng và cơ quan quản lý nhà nước đã chú trọng
xây dựng quy hoạch ngành xuất bản và xác định lại chức năng, nhiệm vụ của
các nhà xuất bản. Trong 3 năm qua đã ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật quan trọng theo tinh thần của Chỉ thị 42. Đó là: Luật Xuất bản (2004),
Nghị định 111 (2005), về hỗ trợ mua bản quyền tác giả trong hoạt động xuất
bản. Việc áp dụng các tiến độ khoa học kỹ thuật trong ngành in được chú
trọng, chất lượng các sản phẩm in bảo đảm tốt hơn
- Hoạt động các nguồn lực cho ngành xuất bản; phát triển nhu cầu văn
hóa đọc của nhân dân đã có chuyển biến rõ nét, việc đổi mới, sắp xếp một số
nhà xuất bản chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp và đẩy nhanh
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp in và phát hành sách nhà nước đã tạo
động lực cho toàn ngành xuất bản phát triển. Cổ phần hóa doanh nghiệp phát
hành sách nhà nước đã làm thay đổi nhận thức, tạo thế chủ động cho doanh
nghiệp. Đến tháng 12 năm 2007, đã có 36 doanh nghiệp cổ phần hóa.
Một số nhà xuất bản thu hút tư nhân góp trên 50% vốn tham gia xuất
bản sách và độc quyền phát hành một số tên sách. Hệ thống phát hành sách
thiểu số chưa đáp ứng yêu cầu; xã hội hóa hoạt động xuất bản chưa phát huy
được mọi nguồn lực xã hội, còn có khuynh hướng thương mại hóa, tư nhân
hóa; công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, quy hoạch cán bộ còn nhiều
bất cập.
II. NHỮNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
XUẤT BẢN Ở VIỆT NAM
Là phương tiện quan trọng hàng đầu của Nhà nước trong việc quản lý
xã hội, pháp luật phải là những chuẩn mực chung, có giá trị thực tế trong việc
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhưng mọi dự án luật đều được ban hành