BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ THÚY HƢỜNG
HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU SAU NĂM 1975
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ THÚY HƢỜNG
HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU SAU NĂM 1975
Chuyên ngành: Lý luận văn học và Văn học nƣớc ngoài
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Phạm Thị Phƣơng Huyền
SƠN LA, NĂM 2015
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo ThS.
CHƢƠNG 2: LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NỮTRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU ......................................................................... 22
2.1. Hình tượng những nữ chiến sĩ ở chiến trường ............................................. 23
2.1.1 Những bông hoa của chiến trường ............................................................. 23
2.1.2. Những trái tim thép trong lửa đạn ............................................................. 26
2.1.3. Những “hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu của tâm hồn” ................................. 30
2.2. Những nàng "vọng phu" thời hiện đại ......................................................... 35
2.3. Những người vợ, người mẹ trong đời thường .............................................. 38
CHƢƠNG 3:MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ VẺ ĐẸP
NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU ...... 44
3.1. Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ .................................................................... 44
3.1.1. Đối thoại .................................................................................................... 44
3.1.2. Độc thoại nội tâm ...................................................................................... 47
3.2. Biểu tượng .................................................................................................... 50
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 59
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Từ buổi hồng hoang của lịch sử, loài người đã biết rằng nơi ẩn náu
yên ổn nhất là lòng mẹ (Florian). Và cho đến nay dù đã trải qua hàng ngàn năm
văn minh, nhân loại cũng không khi nào ngớt ca ngợi về người phụ nữ. Như
W.Ross.Wallace đã từng nói “bàn tay đong đưa vòng nôi là bàn tay thống trị
hoàn cầu” sự vĩnh viễn bất tận của những thanh âm ngưỡng vọng và tôn thờ ấy
in dấu trong mọi lĩnh vực đời sống, đặc biệt là trong văn học nghệ thuật. Sẽ
không bao giờ, không một sức mạnh nào có thể làm lu mờ vòng hào quang của
những người phụ nữ như Natasa, Cachia, Exmerada, Ogioni, Phangtin,… những
kể trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Hình tượng nhân vật nữ trong
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975” để nghiên cứu. Qua đây,
chúng tôi mong muốn tìm hiểu những triết lí sâu sắc trong tư tưởng nhân văn
của Nguyễn Minh Châu.
2. Lịch sử vấn đề
Hiện tượng Nguyễn Minh Châu xuất hiện cuối những năm 70 thực sự gây
tiếng vang và thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình và công chúng bạn
đọc. Tình hình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu vô cùng đa dạng, phong phú,
mọi vấn đề được đưa ra bàn luận từ con người đến tác phẩm. Đến nay đã có
hàng trăm công trình, bài viết về Nguyễn Minh Châu và sự nghiệp của ông.
2.1. Những nghiên cứu chung về Nguyễn Minh Châu
Năm 1975 sau khi đất nước thống nhất, trong ý thức thường trực gắn bó
với đời sống Nguyễn Minh Châu đã kịp thời bắt vào nhịp sống mới và sự phát
hiện những vận động mang tính thời sự của đất nước.
Về những sáng tác ở giai đoạn đầu của Nguyễn Minh Châu trên báo văn
nghệ số 367 - 1997 tác giả Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá đã cho rằng:
“Nguyễn Minh Châu biết tránh lối biểu hiện bằng công thức tô hồng, không
phải bằng cách giả tạo nào đó giữa cái tốt và cái xấu. Truyện của anh hầu như
chỉ tập trung vào phía tốt, vào mặt sáng của hiện thực, của lòng người, và anh
tin rằng sự chân thật của những điều anh mô tả sẽ quyết định sức thuyết phục
nghệ thuật của nó” [14, 5].
2
Trong tạp chí văn nghệ quân đội số 1/1973 Phan Cự Đệ đã đánh giá chặng
đường văn học mà Nguyễn Minh Châu đã cống hiến: “Từ Cửa sông đến Dấu
chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã tiến những bước chân hứa hẹn và vững
chắc. Với quyết tâm thường xuyên đi sâu vào những mũi nhọn của cuộc sống, ra
sức rèn luyện thế giới quan và tu dưỡng nghệ thuật một cách nghiêm túc,
nghiệm…” [9, 37].
Lã Nguyên trong Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư
duy nghệ thuật đã viết: “Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời
bằng con đường riêng của mình. Nhưng Nguyễn Minh Châu lại thể hiện cho
chúng ta bài học ý nghĩa chung nhất: Tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu
đi nữa thì cũng không thể vượt qua khỏi các quy luật của chân- thiện- mĩ, quy
luật nhân bản. Nhà văn chân chính có sứ mệnh khơi nguồn dòng song văn học
đổ ra đại dương nhân bản mênh mông” [12, 18].
Đó là những nhận xét, đánh giá rất có ý nghĩa và chính xác, đầy thuyết
phục về nhà văn Nguyễn Minh Châu. Sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn
Minh Châu thực sự đã gợi ra nhiều lí thú, qua thời gian ngày càng được đông
đảo độc giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
2.2. Những nghiên cứu về nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu
Đối với Nguyễn Minh Châu, nhà văn chuyên viết về chiến tranh và quân
đội thì loại nhân vật được chú ý hơn cả là nhân vật nữ, những người phụ nữ đi
qua chiến tranh và trong đời sống thường ngày.
Nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư khi nghiên cứu về nhân vật Qùy trong
truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành đã đưa ra nhận xét: “Nguyễn
Minh Châu đã bộc lộ được thế mạnh của một cây bút có khả năng phân tích và
thể hiện những biến động tâm lí khá phức tạp của một con người không đơn
giản. Ngay trong một hoàn cảnh sống giàu lí tưởng, sự lí tưởng hóa chính mình
cũng như mọi người xung quanh sớm muộn cũng dẫn tới những bi kịch không
cần thiết, một thái độ sống tỉnh táo, biết người biết mình vẫn là điều được nhà
văn luôn khẳng định…” [4, 5].
Tác giả Nguyễn Văn Bính trong tập san Văn học và Tuổi trẻ, tập 32, cho
rằng với tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng: “Việc soi chiếu, khám phá vẻ đẹp
nhân vật Nguyệt từ nhiều bình diện đã góp phần thể hiện quan niệm nghệ thuật
4
dựng nhân vật nữ.
5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu vẻ đẹp nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
- Chỉ ra một số biện pháp nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp nhân vật nữ trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ là một khóa luận tốt nghiệp chúng tôi chỉ tập trung tìm
hiểu: “Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau
năm 1975”cụ thể là 07 truyện: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc
thuyền ngoài xa, Bến quê, Mảnh trăng cuối rừng, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền
nam, Bên đường chiến tranh.
Trong quá trình thực hiện đề tài người viết có thể so sánh với một số nhân
vật của các tác giả cùng thời để thấy được những nét riêng độc đáo của nhân vật
nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài việc sử dụng các phương pháp thường dùng trong văn học, ở khóa
luận này chúng tôi sẽ tập trung vào các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp khảo sát thống kê: Chúng tôi dùng phương pháp này
nhằm khảo sát 7 truyện ngắn viết về người phụ nữ. Từ đó thấy được vẻ đẹp của
những nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
6.2. Phương pháp so sánh: Việc so sánh truyện ngắn viết về nhân vật nữ
của Nguyễn Minh Châu với các sáng tác cùng viết về nhân vật nữ của những tác
giả cùng thời nhằm làm nổi bật hình tượng nhân vật và tài năng của tác giả.
6.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nhằm miêu tả những vè đẹp của
nhân vật nữ từ những căn cứ cụ thể để việc nghiên cứu có tính thuyết phục.
7. Cấu trúc khóa luận
còn là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả
quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và nghĩa con
người. Cũng có khi khái niệm nhân vật được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ
một con người cụ thể nào cả mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm.
Chẳng hạn nói nhân dân là nhân vật chính trong tác phẩm Chiến tranh và hòa
bình, chiếc quan tài là nhân vật chính trong truyện Chiếc quan tài của Nguyễn
Công Hoan.
Nhân vật có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Đó có thể
là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính
cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự và kịch. Đó cũng có thể là
những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn
8
như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ cảm nhận
như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình.
Nhân vật là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ. Đó không phải
là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của một con người mà chỉ là sự thể
hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách.
Các dấu hiệu đặc điểm ấy thường được đúc kết thành một công thức, được quy
ước có mở đầu, triển khai và kết thúc. Nhân vật văn học còn mang tính hình
tuyến tức là nó xuất hiện rõ dần theo thời gian.
Nhân vật văn học khác với nhân vật trong hội họa, điêu khắc, bởi nó là
một chỉnh thể vận động, có tính cách được lộ dần trong không gian, thời gian,
mang tính chất quá trình. Hơn nữa, nhân vật văn học có tính chất hồi cố vì mỗi
bước phát triển của nhân vật đều làm ta nhớ lại công thức nhận biết nó ban đầu,
đều làm cho nó sâu thêm, hoặc điều chỉnh nó cho xác đáng, nhưng không bao
giờ bỏ quên hay xa rời cái chuẩn ban đầu. Chẳng hạn Huấn Cao trong Chữ
người tử tù của Nguyễn Tuân một con người tài hoa - khí phách thì mỗi hành
những “đời thừa”, những con người “vô nghĩa lí”.
Tóm lại, nhân vật văn học là hình thức khái quát đời sống. Đọc tác phẩm
cần tìm hiểu hết nội dung đời sống và nội dung tư tưởng thể hiện trong nhân vật.
Để chiếm lĩnh thế giới và nhân vật văn học đa dạng cần tìm hiểu phương diện
loại hình của chúng.
Các phương diện loại hình cũng rất đa dạng. Các nhân vật của truyện dân
gian, thơ ca dân gian khác với nhân vật văn học viết. Nhân vật thần thoại cũng
khác nhân vật truyền thuyết và nhân vật cổ tích; xét về phương pháp sáng tác
nhân vật chủ nghĩa cổ điển khác với nhân vật lãng mạng và nhân vật hiện thực.
Xét về thể loại, nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình đều có khác biệt
quan trọng. Đứng trên khía cạnh kết cấu, ý thức hệ và cấu trúc nhân vật có thể
chia thành: nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân
vật chức năng (hay mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư
tưởng.
Sự phân chia như trên cũng chỉ mang tính chất tương đối. Vì vậy cần
tránh thái độ máy móc khi khảo sát nhân vật văn học cụ thể.
10
1.1.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật là nói đến các phương thức,
phương tiện và biên pháp thể hiện nhân vật. Văn học đa dạng đến đâu, các
phương thức, phương tiện thể hiện nhân vật đa dạng đến đó. Nhân vật là yếu tố
nội dung nhưng nghệ thuật xây dựng nhân vật lại thuộc hình thức tác phẩm.
Trước hết nhân vật được miêu tả bằng chi tiết - những nét cụ thể mà nhà
văn sử dụng để miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành động nhân vật, cũng như
những cảnh vật, sự kiện có liên quan đến nhân vật. Đan dệt hàng loạt chi tiết với
nhau mới có một bức tranh ngôn ngữ có thể tạo nên ấn tượng tương đối xác định
về nhân vật. Các chi tiết thường được sắp xếp, bố trí chặt chẽ, không thừa hoặc
nhân vật được miêu tả và tự nhân vật sẽ làm những gì mà họ cần phải làm cho
tính cách của họ”.
Các nhà nghiên cứu về L.Tonxtoi nhấn mạnh thành công trong nghệ thuật
xây dựng nhân vật của nhà văn ở cả hai phương diện: “biện chứng pháp hành
động” và “biện chứng pháp tâm hồn”. Điều đó có nghĩa là tính tất yếu trong
hành động của nhân vật thường liên quan chặt chẽ với tính tất yếu trong hành
động nội tâm của nhân vật. Ở đây, khái niệm “nội tâm” chỉ toàn bộ cuộc sống
bên trong của nhân vật, đó là tâm trạng suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, những
phản ứng tâm lí của bản thân nhân vật trước cảnh ngộ, tình huống mà nhân vật
chứng kiến hoặc thể hiện trên bước đường đời của mình. Nhà văn có thể trực
tiếp biểu hiện nội tâm nhân vật bằng ngôn ngữ của chính mình với tư cách người
kể chuyện (trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành miêu tả tâm trạng bồi
hồi, xúc động của Tnú sau ba năm đi lực lượng trở về buôn làng); những biện
pháp mà nhà văn hay dùng nhất là biểu hiện độc thoại nội tâm và đối thoại nội
tâm của nhân vật. Những đoạn văn này được thực hiện bằng chính ngôn ngữ của
nhân vật, chúng vang lên một cách thầm lặng trong tâm tư của nhân vật. Nhân
vật tự biểu hiện phơi bày những diễn biến trong tâm trạng mình qua những suy
nghĩ, cảm xúc cụ thể, chẳng hạn độc thoại Sống hay không sống bộc lộ sự đấu
tranh nội tâm của Hamlet. Trong Ông già và biển cả nhân vật Xanchiago một
mình đơn độc giữa biển cả thì Heminguay chủ yếu sử dụng độc thoại nội tâm
của nhân vật. Đó là cuộc đấu tranh giữa nhận thức và hành động, lí trí và hành
động.
12
Các nhà văn còn chú ý biểu hiện ngôn ngữ của nhân vật bởi vì ngôn ngữ
là một căn cứ quan trọng biểu đạt phẩm chất và tính cách của mỗi con người, nó
đóng vai trò cá biệt hóa nhân vật. Nhân vật còn được thể hiện qua mâu thuẫn,
xung đột, sự kiện. Các mâu thuẫn, xung đột bao giờ cũng có tác động làm cho
lãng mạn hóa, tô đậm những hành động tốt đẹp. Đối với nhân vật phản diện,
người ta dùng biện pháp vạch mặt, tố cáo, châm biếm, lố bịch hóa. Trong văn
học dân gian, những nhân vật như Nữ Oa, Thánh Gióng, Tấm, Thạch Sanh… là
nhân vật chính diện biểu hiện năng lực, sức mạnh của cộng đồng, lí tưởng quốc
gia độc lập, tư tưởng dân chủ ý thức công dân cổ đại và các chuẩn mực đạo đức
trong đời sống. Nhân vật chính diện trong văn học cổ điển Việt Nam là những
nhà nho tiết tháo lấy việc thực hiện lí tưởng “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ” làm lẽ sống. Trong văn học hiện thực phê phán, nhân vật chính diện thường
là những con người nhỏ bé, bị xã hội vùi dập nhưng họ vẫn giữ được phẩm chất
tốt đẹp như Chị Dậu (Tắt đèn), Lão Hạc (Lão Hạc),…Còn trong văn học hiện
thực chủ nghĩa cũng là quần chúng bị áp bức, nhưng họ đã vùng lên chống lại xã
hội áp bức bóc lột để xây dựng xã hội mới. Nhân vật phản diện trong truyện cổ
tích và truyện cười dân gian thường là đại diện cho cái ác như mẹ con nhà Cám
(Tấm Cám), Lí Thông (Thạch Sanh) là đại diện cho bọn mũ áo thênh thang mà
nhân cách hèn hạ, bọn con vua, cháu chúa, thầy đồ, sư sãi… giả dối, dốt nát,
tham lam, keo kiệt… Nhân vật phản diện trong văn học phong kiến lại là lũ nịnh
thần, bọn tôi xưng bất trung, bọn con bất hiếu… Trong văn học phục hưng, văn
học khai sáng, văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán nhân vật phản
diện thường lại là những kẻ vì đồng tiền và quyền lực mà sẵn sàng trà đạp lên
lương tâm đạo đức và nhân phẩm con người.
Không nên hiểu sự phù hợp giữa nội dung và sự thể hiện nhân vật theo lối
một chiều. Nhân vật phản diện thì cái gì cũng xấu. Nhân vật chính diện thì cái gì
cũng đẹp đẽ cao cả. Thực tế văn học hết sức đa dạng, nhà viết kịch Trung Quốc,
Lí Ngư đời Thanh trong Nhân tình ngẫu kí có nói: “miêu tả nhân vật phải chú ý
đến cái nghịch cảnh của tình người. Tả cô gái giàu phải biết qua phục sức đơn
sơ mà tăng vẻ sang trọng. Tả cô gái nghèo phải thông qua sự trưng dụng khoe
khoang làm lộ vẻ nghèo nàn. Có như vậy sự thể hiện mới không đơn điệu”.
Sự vận dụng các chi tiết, hành động, sự kiện, môi trường để miêu tả các
dạng nhân vật nói trên cũng không giống nhau. Nhân vật chức năng thì phải có
14
nghiệm về một tư tưởng. Nhân vật Người điên trong Nhật kí người điên được
15
khắc họa qua một tìm tòi đau đớn mang tính chất ẩn dụ. Nhân vật phát hiện tính
chất thù địch của con người của toàn bộ môi trường sống.
Tóm lại, nhân vật là hình thức văn học để phản ánh hiện thực. Hình thức
ấy rất đa dạng để thể hiện các khía cạnh vô cùng phong phú của cuộc sống. Việc
hình dung sự đa dạng của nhân vật là rất cần thiết để đi sâu tìm hiểu những nội
dung phong phú đó trong di sản văn học nhân loại cũng như phong phú của văn
học xã hội chủ nghĩa ngày nay.
1.2. Nguyễn Minh Châu - ngƣời “mở đường tinh anh và tài năng”
1.2.1. Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác
Nhà văn Nguyễn Minh Châu, tên khai sinh đồng thời cũng là bút danh
sinh ngày 20/10/1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh
Nghệ An. Vào năm 1944 - 1945, Nguyễn Minh Châu học trường kĩ nghệ Huế,
năm 1945 ông tốt nghiệp thành trung. Tháng 1/1950 ông học chuyên khoa
trường Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ Tĩnh) sau đó nhập ngũ, cùng năm đó ông và
Đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1951, ông là học viên trường sĩ quan lục quân
Trần Quốc Tuấn, trung đội trưởng sư đoàn 320. Năm 1952 - 1956 công tác tại
Ban tác chiến - Ban tham mưu tiểu đoàn 722 và tiểu đoàn 706. Năm 1956 - 1958
là Chính ủy viên phó đại đội, trợ lí văn hóa thanh niên trung đoàn 64. Năm
1958, Nguyễn Minh Châu được phong úy sau đó đi học bổ túc văn hóa khóa 2,
viết tài liệu tổng kết ở quân khu Tả Ngạn.
Năm 1959, Nguyễn Minh Châu dự hội nghị bạn viết toàn quân. Sang đến
năm 1960, ông công tác tại Phòng Văn nghệ, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân
dân Việt Nam. Năm 1961, đi học trường văn hóa quân đội ở Lạng Sơn. Năm
1962, chuyển công tác vào Tạp chí văn nghệ quân đội và phục vụ tại đây với tư
cách nhà văn quân đội cho đến lúc mất. Ông đã đi thực tế Trường 400 pháo lục
+ Cỏ lau (NXB Văn học, 1989).
Về tiểu thuyết:
+ Cửa sông (NXB Văn học, 1967).
+ Dấu chân người lính (NXB Thanh niên, 1972).
+ Từ giã tuổi thơ (NXB Kim Đồng, 1974).
+Miền cháy (NXB Quân đội nhân dân, 1977).
+ Lửa từ những ngôi nhà (NXB Quân đội nhân dân, 1977).
+ Những ngày lưu lạc (NXB Kim Đồng, 1981).
17
+ Những người đi từ trong rừng ra (NXB Quân đội Nhân dân, 1982).
+ Đảo đá kì lạ (NXB Kim Đồng, 1985).
+ Mảnh đất tình yêu (NXB tác phẩm mới, 1987).
Về tiểu luận phê bình:
Nguyễn Minh Châu viết nhiều tiểu luận và phê bình văn học. Tất cả các
bài viết này của ông được Tôn Phương Lan tuyển chọn và giới thiệu trong cuốn
Trang giấy trước đèn (NXB Khoa học xã hội, 1994)
Ngoài sáng tác trên đây Nguyễn Minh Châu còn viết nhiều bút kí và
truyện ngắn khác nhau đăng trên các báo.
Với những cống hiến xuất sắc của mình trong hoạt động Văn học Nghệ
thuật, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã được nhận các giải thưởng cao quý:
Giải thưởng Bộ quốc phòng (năm 1984 - 1989) cho toàn bộ tác phẩm của
ông viết về chiến tranh và người lính; Giải thưởng hội nhà văn Việt Nam
(1988 - 1989) cho tập truyện vừa Cỏ lau; Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật cho tác phẩm Dấu chân người lính, Cửa sông, Cỏ lau, Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành.
1.3. Nguyễn Minh Châu và thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn hiện đại là một thể loại hết sức quen thuộc và gần gũi nhưng
để tìm một định nghĩa duy nhất, đầy đủ và chính xác về nó thì không hề dễ.
truyện in trong tập “Bến quê”, 3 truyện in trong tập “Cỏ lau”, 3 truyện in trong
tạp chí Văn nghệ quân đội . Điểm qua các sáng tác của ông, ta có thể nhận thấy
số lượng truyện ngắn viết sau năm 1975 dù không nhiều hơn bao nhiêu nhưng
có chất lượng vượt trội so với các truyện trước năm 1975. Những truyện ngắn
được đánh giá cao như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến
quê, Chiếc thuyền ngoài xa… đều thuộc về giai đoạn thứ hai này. Xuất phát từ
mối quan tâm lo lắng của nhà văn về những vấn đề phức tạp nảy sinh trong cuộc
sống mới thời hậu chiến, mỗi truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kì này
thường ngầm chứa một bức thông điệp nào đó về đạo đức, lối sống và quan
niệm nhân sinh. Cùng với Bức tranh một loạt truyện ngắn ra đời sau đó đã cho
người đọc thấy được nhiều trăn trở suy tư của nhà văn về cuộc sống và con
người, trong đó nổi bật lên vấn đề về sự thức tỉnh của lương tâm và sự hoàn
thiện nhân cách. Ông lưu ý mọi người về sự độc ác hồn nhiên ngoài ý muốn
19
(Đứa ăn cắp), lối sống gia trưởng (Giao thừa), nhắc nhở về lối ứng xử của con
người với cha mẹ (Mẹ con chị Hằng)….
Tiếp theo những thể nghiệm bước đầu trong tập Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành, các tập Bến quê và Cỏ lau ra đời càng gây được sự chú ý đặc biệt
của dư luận. Lấy số phận con người làm tiêu điểm cho lăng kính nghệ thuật của
mình, Nguyễn Minh Châu sâu đi khám phá những tầng nghĩa sâu thẳm của thế
giới bên trong con người. Trong các truyện ngắn của ông, xu hướng triết lí nhận
thức ngày càng rõ nét hơn, con người trong tác phẩm luôn khao khát nhận thức,
chiêm nghiệm đời sống, tự đối thoại và tự nhận thức mình trong mối nhận thức
tương quan với tự nhiên và xã hội, đằng sau những chuyện đời thường là những
chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời.
Các truyện như Khách ở quê ra, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Phiên
chợ giát… còn như muốn bao quát thêm nhiều vấn đề có tính lịch sử vào trong