Nhân vật nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 29


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ NHUẬN

NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI:
VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ,
NGUYỄN NGỌC TƯ

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam


3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy
giáo - TS. Nguyễn Văn Nam.
Tôi xin cam đoan: Luận văn là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi.
Những gì được triển khai trong luận văn không trùng khớp với bất cứ một
công trình nghiên cứu của tác giả nào đã công bố trước đó. Nếu sai tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 08 tháng 7 năm 2012
Học viên

Nguyễn Thị Nhuận
1.1.3. Vị trí của các cây bút nữ trong trào lưu đổi mới 21
1.2. Truyện ngắn của ba nhà văn nữ 31
Chương 2
CẢM NHẬN ĐA CHIỀU VỀ NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA BA
NHÀ VĂN NỮ: VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ 41
2.1. Khái lược về nhân vật văn học, nhân vật nữ trong văn học Việt Nam 41
2.1.1. Khái lược về nhân vật văn học 41
2.1.2. Nhân vật nữ trong văn học Việt Nam 45
2.2. Cảm nhận đa chiều về nhân vật nữ trong truyện ngắn của ba tác giả 50
2.2.1. Nhân vật nữ - Điểm giống nhau giữa ba tác giả 50
2.2.1.1. Nhân vật nữ luôn ý thức mẫu tính 50

5
2.2.1.2. Nhân vật nữ luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi 60
2.2.2. Nhân vật nữ - Điểm khác nhau giữa ba tác giả 67
2.2.2.1. Nhân vật nữ là nạn nhân của chiến tranh trong truyện ngắn Võ Thị Hảo 68
2.2.2.2. Nhân vật nữ là những cô gái mới lớn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ 73
2.2.2.3. Nhân vật nữ mang đậm tính cách của con người Nam Bộ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư 75
Chương 3
NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA BA
NHÀ VĂN NỮ: VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ 86
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 86
3.1.1. Miêu tả ngoại hình 86
3.1.2. Nghệ thuật phân tích tâm lí 93
3.2. Nghệ thuật xây dựng tình huống 106
3.2.1. Tình huống mang tính bi kịch 106
3.2.2. Tình huống tâm trạng 111
3.2.3. Tình huống tự nhận thức 113

Thị Thường, Dương Thu Hương, Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Võ Thị
Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư… Tìm
hiểu truyện ngắn nữ thời kỳ đổi mới trước hết là tiếp cận với sự vận động của
thể loại trong tiến trình vận động của lịch sử và cũng là một cách tiếp cận đời
sống văn học hôm nay.
1.3. Trong số những cây bút nữ chuyên viết truyện ngắn thì Võ Thị
Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư là những cây bút tiêu biểu gây
được sự chú ý của người đọc. Ở Võ Thị Hảo là một cây bút nổi bật và giàu
chất nữ tính, với Nguyễn Thị Thu Huệ thì đó là một ngòi bút tinh tế, giản dị,
thâm trầm nhưng cũng rất từng trải, còn Nguyễn Ngọc Tư lại thấm đẫm chất
Nam Bộ, trầm, buồn mà da diết yêu thương. 7
1.4. Có thể thấy rằng, nhân vật xuyên suốt trong truyện ngắn của các
tác giả đương đại nói chung và ba nhà văn nữ nói riêng là người phụ nữ. Bởi
hình ảnh người phụ nữ là đề tài quen thuộc trong sáng tác thơ văn từ xưa đến
nay. Hơn ai hết các nhà văn nữ là những người thấu hiểu được tâm lí, có sự
đồng cảm sâu sắc với người phụ nữ. Vì vậy sáng tác của họ nhanh chóng nhận
được sự đồng cảm của bạn đọc. Nhân vật nữ trong sáng tác của ba nhà văn Võ
Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư mang những nét riêng, độc
đáo, cá tính và đầy bản lĩnh. Điều đó đã tạo nên sự khác biệt về nhân vật nữ
trong sáng tác của họ so với các tác giả khác. Nó cũng góp phần tạo nên sự
thành công của các tác giả, đồng thời tạo nên diện mạo truyện ngắn các cây
bút nữ trong dòng chảy văn học đương đại.
1.5. Tìm hiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn ba cây bút nữ Võ Thị
Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi hy vọng có thêm
những phát hiện, tìm tòi mới về cách thể hiện nhân vật nữ trong văn học
đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
2. Lịch sử vấn đề

thấy cái tôi của chị hiện hữu" [19, tr.303-304].
Tác giả Nguyễn Văn Lưu, trong bài Huyền thoại về tình yêu cho rằng:
"Tác giả dành cho trái tim người phụ nữ, cho số phận người phụ nữ lòng yêu
thương, đau xót sâu sắc nhất", "thân phận người phụ nữ trở thành tâm niệm
thường xuyên, da diết trong những trang viết của Võ Thị Hảo" [58].
Hay tác giả Ngọc Anh, với bài Đã đến lúc người đàn bà nổi loạn
đánh giá: "Trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo, có những người đàn bà khổ vì
yêu và khổ vì bị ruồng bỏ" [1].
Tác giả Bùi Việt Thắng, đánh giá về nhân vật (trong đó có nhân vật
nữ): "Nhân vật của Võ Thị Hảo thường có những nét dịu dàng khác người

9
nhưng tâm hồn họ thánh thiện, giàu lòng vị tha và đức hi sinh - hi sinh mình
để cứu rỗi kẻ khác" [48].
PGS. TS. Bích Thu trong các bài: Những dấu hiệu đổi mới của văn
xuôi từ năm 1975 qua hệ thống môtíp chủ đề; Những thành tựu của truyện
ngắn sau 1975; Văn xuôi của phái đẹp, đã đánh giá cao sáng tác của các nhà
văn nữ. Tác giả cho rằng đội ngũ sáng tác trong đó có Võ Thị Hảo, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư là “một lớp trẻ dồi dào bút lực” [52]. Và bằng
tầm nhìn bao quát của một nhà phê bình Bích Thu nhận định: “Sự xuất hiện
rầm rộ của các cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt và dáng vẻ của văn
xuôi hôm nay” [53]. Không chỉ quan sát sự xuất hiện của đội ngũ tác giả nữ
như một hiện tượng, PGS.TS. Bích Thu còn có ý kiến đánh giá về giá trị văn
xuôi phái đẹp rất tinh tế: “văn chương của phái đẹp hiện nay sắc và sâu khi
khai thác đề tài thế sự đời tư với nội dung nhân tình thế thái, bằng lối viết dịu
dàng mà bén ngọt, riết róng mà đồng cảm, chia sẻ với những thân phận,
những con người sống quanh mình” [54]. Ý kiến này thể hiện người viết hiểu
rõ văn chương phái đẹp cả bề rộng của đề tài lẫn bề sâu của nghệ thuật biểu
hiện.
Còn Nguyễn Lương, trong bài Gương mặt Võ thị Hảo lại khái quát

Tác giả Kim Dung trong bài Đọc Hồi ức một binh nhì và Bến trần
gian, cho rằng:
“Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt - vừa "bụi
bặm" trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, văn của chị vừa táo bạo vừa
thanh khiết. Một cái gì đó không thuần nhất, không đơn giản, thậm chí có khi
còn đối chọi nhau trong văn của Nguyễn Thị Thu Huệ” [7].
Tác giả Nguyễn Việt Hòa, lại có những nhận xét khác về nghệ thuật

11
trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ: "Chất lãng mạn trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ tương đối đặc biệt, nó toát ra từ người đang đứng
giữa ranh giới thiếu phụ - phụ nữ" trong bài “Lãng quên và hy vọng. Nhân
đọc Nào ta cùng lãng quên - Tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”.
Nhà nghiên cứu văn học Đoàn Hương, trong Văn nghệ Trẻ ngày
25/3/1996 có bài viết Những ngôi sao nước mắt, lại có những nhận xét tinh tế
về cách xây dựng nhân vật và nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ
đó là:
“Huệ có lối viết văn như người "lên đồng" trong truyện ngắn của
mình không phải cô "kể" cho chúng ta nghe mà là cô "lôi" chúng ta đi theo
nhân vật. Đó là phong cách độc đáo của Nguyễn Thị Thu Huệ". Và "Nhân vật
của cô, những nhân vật mà bao giờ Thu Huệ cũng để cho nó lướt đi những
bước chông chênh trên vực thẳm của cuộc đời không có dây bảo hiểm Tôi
ngờ rằng những nhân vật của cô, đều là một phần máu thịt của cuộc đời
cô những truyện ngắn của Huệ được viết, được kể lại bằng chính ngôn ngữ
của nhân vật: nhẹ nhàng và thanh thản trong những tình huống, những cảnh
ngộ lại không yên tĩnh chút nào. Cũng như những nhân vật của cô, cô không
hề lên án một ai dù là một bà mẹ ích kỉ trong Hậu thiên đường, một người
đàn ông tầm thường, nhạt nhẽo và giả dối trong Cát đợi, hoặc những ông bố,
bà mẹ quái gở trong Phù thủy Nhưng đọc truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu
Huệ, ta thấy những trang viết không bình lặng. Những nhân vật của cô làm ta

lập hẳn một trang web http://www.viet- studies.info về Nguyễn Ngọc Tư thu
thập các bài viết và các sáng tác của chị. Ngoài ra, Trần Hữu Dũng còn có bài
"Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam", tác giả cho rằng mỗi truyện ngắn của
chị là "một bữa ăn văn chương thịnh soạn, dọn bày chu đáo gồm toàn đặc sản

13
miệt vườn, với những vật liệu hảo hạng, tươi sống" [8]. Chị đã tạo được một
chỗ đứng khu biệt cho mình không lẫn với bất cứ nhà văn nào và chị góp
phần tạo nên một nhánh văn chương đặc biệt, không giống, nhưng chuẩn mực
không kém những miền khác.
Còn tác giả Hoàng Thiên Nga, lại nhận xét truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư qua Cánh đồng bất tận. Tác giả cho rằng: "Đây là một truyện ngắn có bút
pháp giản dị, gọn ghẽ, đầy ắp âm sắc Nam Bộ và ngòi bút quá đỗi tinh tế,
nhân hậu, trong lành" [36].
Tác giả Trần Thị Dung, khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm
Vinh - Nghệ An trong bài “Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc
Tư qua tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận”, lại điểm qua một số biện pháp
xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư như xây dựng tình huống, miêu tả
ngoại hình, mô tả hành động, lời đối thoại của nhân vật
Tác giả Nguyễn Trọng Bình cũng có nhiều bài viết về Nguyễn Ngọc
Tư trong đó đáng chú ý đến các bài: “Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật con người”; Những dạng tình huống
thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Ở hai bài viết trên tác giả
cho rằng "mô hình" con người hướng thiện chính là một kiểu tư duy nghệ
thuật độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư và đưa ra dạng tình huống khi khảo sát
hầu hết các truyện ngắn của chị.
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết của các độc giả về tác phẩm của
chị, về giọng điệu, về đặc trưng ngôn ngữ, về nội dung tự sự, về không gian-
thời gian cùng nhiều ý kiến bình luận trên các trang web. Trong rất nhiều ý
kiến đa phần là sự yêu mến đặc biệt của độc giả, sự đồng cảm, chia sẻ với tác

ba cây bút nữ Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư. Đặc biệt
là những nét tương đồng và khác biệt trong cách nhìn và thể hiện nhân vật nữ

15
của ba tác giả. Từ đó thấy được sự đóng góp của ba nhà văn trong nền văn
xuôi đương đại nói riêng và văn nền văn học dân tộc nói chung.
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu nhân vật nữ
trong một số tập truyện ngắn tiêu biểu của ba nhà văn: Võ Thị Hảo, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư. Từ đó khái quát chân dung nhân vật nữ trong
văn học đương đại việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu các tập truyện
ngắn của ba cây bút nữ
,
đặc biệt là những truyện ngắn tiêu biểu:
+ Võ Thị Hảo: Biển cứu rỗi, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen, Người sót lại
của rừng cười, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm…
+ Nguyễn Thị Thu Huệ: Cát đợi, Hậu thiên đường, Phù thủy,
Mùa thu vàng rực rỡ, Nào ta cùng lãng quên, 37 truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ…
+ Nguyễn Ngọc Tư: Nước chảy mây trôi, Cánh đồng bất tận,
Giao thừa, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Gió lẻ và 9 câu chuyện
khác…
Bên cạnh đó luận văn còn có sự mở rộng, so sánh với nhân vật nữ
trong các thể loại khác nhau, các giai đoạn khác nhau, các tác giả khác nhau
cả cùng giới và khác giới. Đặc biệt là so sánh với các nhà văn nữ cùng thời.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh đối chiếu

Trước hết ta cần hiểu khái niệm truyện ngắn như sau:
Theo Từ điển văn học định nghĩa:
"Truyện ngắn là một hình thức tự sự loại nhỏ. Truyện ngắn khác với
truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống:
một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong giai đoạn nào đó của đời sống
nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía
cạnh nào đó của vấn đề xã hội" [43, tr.137].
Còn trong 150 thuật ngữ văn học định nghĩa, truyện ngắn là một:
"Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu
hết các phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện
ngắn là sự giới hạn về dung lượng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người
tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ" [4, tr.359- 360].
D. Gronopxki trong cuốn Đọc truyện ngắn viết: "Truyện ngắn là một
thể loại muôn hình muôn vẻ, biến đổi không cùng". Quả đúng như vậy, vì
xung, quanh khái niệm này có nhiều cách định nghĩa khác nhau là điều dễ
hiểu.
Tuy nhiên truyện ngắn có những đặc trưng để phân biệt với các thể
loại khác. Trong sự so sánh, đối chiếu với tiểu thuyết thì truyện ngắn có
những điểm khác biệt về: Dung lượng tác phẩm, cách xây dựng kết cấu và
cách thể hiện tính cách số phận nhân vật.
Dung lượng thể hiện qua số trang, số lượng nhân vật, khuôn khổ của

18
cốt truyện… Theo một số tài liệu phương Tây có những qui định cụ thể về
chiều dài của tiểu thuyết và truyện ngắn. Trong đó, truyện ngắn chỉ nên kéo
dài từ 3 đến 30 trang còn tiểu thuyết thì số trang không giới hạn. Về nhân vật,
trong truyện ngắn số lượng nhân vật ít còn trong tiểu thuyết lại có nhiều tuyến
nhân vật, số lượng nhân vật đồ sộ hơn. Truyện ngắn thường có một biến cố,
một sự kiện quan trọng còn tiểu thuyết có nhiều sự kiện, biến cố. Trong
truyện ngắn tốc độ hành động truyện diễn ra mau lẹ hơn còn trong tiểu thuyết

tinh thần của các dân tộc khác nhau còn chịu ảnh hưởng lớn của nhà văn
Italia: Bocaxio (1314 - 1375) với tác phẩm Mười ngày. Ở Anh truyện ngắn ra
đời vào thế kỉ XIX với tập truyện Vùng Kentenbec của Đzairo Soxero. Ở Tây
Ban Nha, truyện ngắn hình thành muộn hơn và gắn liền với tên tuổi
Xecvantec. Ở Đức truyện, ngắn xuất hiện gắn với chủ nghĩa lãng mạn nhằm
phủ nhận chủ nghĩa cổ điển. Ở Pháp, từ thế kỉ XV đã có 100 truyện ngắn của
Actua de Laxali. Còn Ở Nga, truyện ngắn có mầm mống từ trước nhưng phải
đến thế kỉ XIX, truyện ngắn mới thực sự hoàn thiện với A. Puskin cùng các
tập truyện ngắn: Truyện của ông Benkin (1830), Con đầm pích (1838),
Người con gái viên đại úy (1836)… Tiếp đến là Gôgôn - người có công đặt
nền móng cho chủ nghĩa hiện thực cho văn học Nga với tập truyện ngắn Bức
chân dung, và hội tụ cuối cùng là Sêkhôp - một nghệ sĩ bậc thầy trong việc
tạo ra sự cô đọng của truyện ngắn với hàng loạt tác phẩm: Cái chết của một
viên công chức, Người tu sĩ vận đồ đen… Trong khi đó, thế kỉ XIX và thế kỉ
XX lại xem Mĩ là cái nôi phát sinh truyện ngắn hiện đại với việc cống hiến
cho thế giới những tác giả truyện ngắn tầm cỡ: E. Poe với Con mèo đen, O.
Henry với Chiếc lá cuối cùng hay E. Hemingway với Cuộc đời hạnh phúc
ngắn ngủi của Măccombo…
Ở phương Đông, hình thức sơ khai của truyện ngắn là truyền kỳ -

20
"một thứ truyện thần thoại có tác giả". Truyền kỳ giúp trí tưởng tượng của
nhà văn bay bổng phiêu lưu vào thế giới kì thú của nhân vật để sáng tạo
những cốt truyện li kì, hấp dẫn. truyền kì bắt đầu xuất hiện vào đời Đường,
thế kỉ IX ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về
sự ra đời của thể loại này. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Truyền kỳ là hình
thức ban đầu của truyện ngắn Việt Nam xuất hiện vào thế kỉ XV. Một số lại
cho rằng, hiểu theo nghĩa hiện đại thì truyện ngắn chỉ hình thành từ khi có chữ
Quốc ngữ. Để có câu trả lời chắc chắn cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, đối
chiếu, so sánh một cách khoa học. Nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng,

mình một cách hiệu quả" [56]. Sự ra đời của hàng loạt tuyển tập truyện ngắn
cùng với những cuộc thi viết truyện ngắn liên tục được tổ chức trên các tạp
chí như: Văn nghệ quân đội, Văn nghệ Trẻ, Tạp chí Sông Hương đã thể
hiện sức sống của thể loại này. Bên cạnh đó, những diễn đàn phê bình, tranh
luận về văn học trong đó có truyện ngắn cũng diễn ra sôi nổi với các tên tuổi
như: Bùi Việt Thắng, Phạm Xuân Nguyên, Phạm Thanh Sơn và bạn đọc
ngày nay không quay lưng lại với truyện ngắn, họ vẫn dõi theo, nồng nhiệt
hưởng ứng và đón đợi các tác phẩm mới. Có những tập truyện ngắn ngay từ
khi mới ra đời đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với công chúng và trở thành một
hiện tượng văn học như: Tướng về hưu (Nguyễn Huy thiệp), Người sót lại
của rừng cười (Võ Thị Hảo), I am đàn bà (Y Ban), Phù thủy (Nguyễn Thị
Thu Huệ), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Bóng đè (Đỗ Hoàng
Diệu) Như vậy chúng ta đủ thấy tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của
truyện ngắn đối với văn học đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói
chung.
22
1.1.2. Khái quát bối cảnh phát triển của truyện ngắn Việt Nam
1.1.2.1. Truyện ngắn Việt Nam trước 1975
Truyện ngắn trung đại: Ra đời muộn hơn thế giới hàng trăm năm,
truyện ngắn Việt Nam hình thành vào khoảng thế kỷ XV, XVI với những tập
truyện như Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục (đời Trần); Việt điện u linh,
Nam ông mộng lục (1438), Thánh Tông di thảo, Lĩnh nam chích quái (thế
kỷ XV), Truyền kỳ mạn lục (thế kỷ XVI) Đặc điểm thể loại trong những
tập truyện này chưa định hình một cách tập trung, rõ nét. Tình trạng diễn ra
phổ biến là sự nhập nhằng giữa giữa tính chất ký, truyện lịch sử, truyện mô
phỏng, phóng tác truyền thuyết dân gian trong tác phẩm. Các nhà văn thời kỳ
này ít dụng công miêu tả không gian và thời gian nghệ thuật, chủ yếu kể lại

1.1.2.2. Truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Nói đến truyện ngắn đương đại là nói đến truyện ngắn giai đoạn từ
năm 1975 - đến nay. Đây là mốc đánh dấu sự phát triển của truyện ngắn, thể
hiện sức trẻ của ngòi bút, sự cách tân táo bạo và bất ngờ về các phương diện
cả nội dung và nghệ thuật. Chiến thắng năm 1975, thống nhất đất nước cũng
là một mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình của thể loại truyện ngắn.
Văn học bao giờ cũng là tấm gương phản chiếu thời đại và thời đại sau 1975
có sự thay đổi. Vì thế truyện ngắn cũng thay đổi theo.
Trước 1975, văn học có nhiệm vụ là phục vụ kháng chiến, phản ánh
cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc. Chiến tranh đòi hỏi con người cần có ý chí,
sức mạnh để làm cuộc cách mạng vì thế văn học giai đoạn này tập trung cổ vũ
động viên khích lệ tinh thần của con người. Bởi thế các sáng tác văn học thời
chiến có khuynh hướng sử thi, mang âm hưởng hào hùng, ngợi ca. Đề tài
xuyên suốt trong các sáng tác thời kì này là vận mệnh dân tộc, cuộc đấu tranh
giải phóng đất nước và niềm tin tất thắng. Nhân vật xuyên suốt trong văn học

24
kháng chiến là người anh hùng đấu tranh bảo vệ tổ quốc. Cảm hứng sáng tác
là cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng của dân tộc. Vì nhiệm vụ phục
vụ kháng chiến của văn học nên đề tài về số phận cá nhân con người, về
những mảnh đời tư, những tâm sự riêng, những khát khao hạnh phúc cá
nhân không được khai thác. Và đây chính là những nét đặc trưng của văn
học thời chiến.
Sau 1975, hòa bình lập lại, cả dân tộc bước sang thời kì đổi mới và
văn học cũng từng bước chuyển mình để bắt kịp sự đổi mới của thời đại. Vì
thế văn học giai đoạn này ngày càng gần gũi với hiện thực đời sống hơn và đi
sâu phản ánh cuộc sống của con người. Chủ đề thế sự - đời tư trở thành chủ
đề xuyên suốt trong các sáng tác của các nhà văn. Số phận cá nhân, con người
cá nhân được các nhà văn đặt lên hàng đầu. Cuộc sống muôn màu, muôn vẻ
với các trạng thái khác nhau: cao cả - thấp hèn, ánh sáng - bóng tối… được

truyện ngắn do báo Văn nghệ và Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Các
tác phẩm: Kẻ sát nhân lương thiện (Lại Văn Long), Vũ điệu của cái bô
(Nguyễn Quang Thân), Nhân sứ (Hòa Vang) đã đoạt giải. Năm 1992 - 1994,
tạp chí Văn nghệ Quân đội tiếp tục tổ chức cuộc thi truyện ngắn. Lần tổ chức
này đã thu hút được đông đảo các tác giả trên mọi miền tổ quốc tham gia và
đã khẳng định được sức sống và niềm đam mê với truyện ngắn của các cây
bút trẻ. Đặc biệt là sự góp mặt của các cây bút nữ có chất lượng tốt đã tạo nên
một luồng sinh khí mới cho truyện ngắn như: Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Hảo,
Nguyễn Thị Thu Huệ Đó là một tín hiệu đáng mừng, chứng tỏ văn học đang
phát triển và đổi mới. Các tác phẩm Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp
của Nguyễn Thị Thu Huệ đã đoạt giải nhất. Đến năm 1996 - 1997, xuất hiện
ngày càng nhiều những cây bút trẻ về tuổi đời và tuổi nghề nhưng hăng hái
nhiệt tình tham gia. Với sức trẻ, tài năng và sự nỗ lực, họ đã ghi được những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status