1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ DUYÊN NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ
ĐƢƠNG ĐẠI VIỆT NAM (QUA SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN, Y BAN,
NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ
BÙI THỊ DUYÊN NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ
ĐƢƠNG ĐẠI VIỆT NAM (QUA SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN, Y BAN,
NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ Luận văn Thạc sĩ Văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam
Hà Nội-2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, đƣợc thực
hiện dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam. Các số liệu, kết luận
nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố dƣới
bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Bùi Thị Duyên
5
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1. Lí do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.
2. Lịch sử vấn đề Error! Bookmark not defined.
3. Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5. Cấu trúc luận văn Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 1: NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN CHƢƠNG VÀ TRUYỆN NGẮN
HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ NGƢỜI PHỤ NỮ Error! Bookmark not defined.
1.1. Nhân vật ngƣời phụ nữ trong văn chƣơng Việt Nam qua các thời đại Error!
Bookmark not defined.
1.1.1. Người phụ nữ trong văn học trung đại Error! Bookmark not defined.
1.1.2. Người phụ nữ trong văn học đầu thế kỉ XX Error! Bookmark not defined.
1.1.3. Người phụ nữ trong văn học từ 1945 đến 1975 Error! Bookmark not defined.
1.1.4. Người phụ nữ trong văn học đương đại Error! Bookmark not defined.
1.2. Khái quát chung về truyện ngắn và xu phát triển của ý thức nữ quyền Error!
Bookmark not defined.
1.2.1. Khái quát chung về truyện ngắn nữ đương đại Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Xu hướng phát triển của ý thức nữ quyền Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 2: HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ HIỆN ĐẠI TRONG TRUYỆN
NGẮN NỮ ĐƢƠNG ĐẠI Error! Bookmark not defined.
2.1. Nhân vật ngƣời phụ nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đƣơng đại Việt
Nam Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Khái niệm, vai trò và sự phân chia các loại hình nhân vật trong tác phẩm văn
học Error! Bookmark not defined.
6
2.1.2. Nhân vật trong truyện ngắn Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Người phụ nữ - Đối tượng thẩm mĩ của các nhà văn nữ đương đại Error!
Bookmark not defined.
1. Lí do chọn đề tài
Văn học VN nói chung, văn xuôi VN nói riêng từ thời kì đổi mới đến nay thực sự
có nhiều khởi sắc. Trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn
xuôi giai đoạn này phải kể đến những đóng góp của các cây bút nữ. Sự xuất hiện đông
đảo, rầm rộ của họ đã đem đến cho văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng “Một
sinh khí mới rất cần thiết để phản ánh bề rộng, bề sâu của cuộc sống con ngƣời hôm
nay”. Bên cạnh những tên tuổi một thời nhƣ Vũ Thị Thƣờng, Nguyễn Thị Ngọc Tú … là
những tác giả trẻ trung, sôi nổi, bắt mạch thời sự nhanh hơn nhƣ: Dạ Ngân, Nguyễn Thị
Thu Huệ, Y Ban, Lý Lan, Phong Điệp, Kiều Bích Hậu, Nguyễn Ngọc Tƣ, Nguyễn Quỳnh
Trang, Đỗ Hoàng Diệu … Có thể nói, văn học Việt Nam đƣơng đại đang chứng kiến sự
bùng nổ về số lƣợng các nhà văn, nhà thơ nữ. Khó mà thống kê đƣợc con số chính xác,
nhƣng lƣợng tác phẩm của họ nhiều không kém gì các đồng nghiệp nam. Có ngƣời đặt
câu hỏi : Tại sao thời điểm hiện nay lại xuất hiện nhiều cây bút nữ nhƣ vậy? Câu hỏi này
đã có nhiều ngƣời tìm cách lí giải, nhƣng khó mà tìm ra câu trả lời thấu đáo. Đó cũng là
một trong những lí do khiến chúng tôi chọn nghiên cứu sáng tác của các nhà văn nữ.
Bằng nỗ lực của bản thân, các cây bút nữ hôm nay vừa biết kế thừa các thế hệ đi trƣớc,
vừa học hỏi lẫn nhau để tự tìm cho mình những lối viết độc đáo. Có ý kiến cho rằng:
“Văn xuôi hôm nay mang gƣơng mặt nữ”, “Truyện ngắn hôm nay đang khởi sắc bởi sự
8
đóng góp không nhỏ của các cây bút nữ” [37]. Điều đó đã góp phần khẳng định sáng tác
nữ - truyện ngắn nữ đang ngày càng hiện diện nhƣ một bộ phận của văn học Việt Nam.
Đề tài vì vậy mà mang tính lịch sử nhất định.
Nhân vật là yếu tố gắn với linh hồn của tác phẩm văn học là hình thức cơ bản để
qua đó nhà văn miêu tả thế giới một cách hình tƣợng. “Nhân vật là nơi tập trung mọi giá
trị tƣ tƣởng nghệ thuật”, “là công cụ để khái quát hiện thực và phƣơng tiện để tác giả hiện
thực hóa quan niệm nghệ thuật về con ngƣời dƣới hình thức biểu hiện tƣơng ứng” [7,
126]. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nhân vật nữ trong truyện ngắn nữ đƣơng đại
Việt Nam ( qua sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Nguyễn thị Thu Huệ và Nguyễn ngọc
Tƣ…)”. Đây là hƣớng đi tất yếu nếu muốn nghiên cứu sâu sắc thế giới nghệ thuật, giá trị
ý nghĩa tác phẩm của các nhà văn nữ đƣơng đại. Đồng thời qua đề tài này chúng tôi mong
loại của Lý Hoài Thu, Đọc bình luận truyện ngắn, truyện ngắn hôm nay của Bùi Việt
Thắng in trên báo Văn nghệ số 24, 2000; Một thoáng văn học 5 năm đầu thế kỉ của Trần
Thanh Đạm, in trên báo Văn nghệ số 45, ngày 6/11/2004; Trò chơi trốn tìm của Nguyễn
Vĩnh Nguyên của Trần Hoài Nam, in trên báo Văn nghệ, 2000; Sau một năm nhìn lại
truyện ngăn hay, in trên Tạp chí Nhà văn số 1, 2009; Đội ngũ nhà văn Việt Nam viết
truyện ngắn đương đại của Lê Dục Tú, in trên báo Văn nghệ quân đội, 2012… Các bài
viết đều đống ý là: “Trong nhịp độ của đời sống công nghiệp hiện đại, dƣới sức ép của
các phƣơng tiện nghe nhìn, truyện ngắn đã phát huy đƣợc ƣu thế của mình một cách hiệu
quả”. Tác giả Sƣơng Nguyệt Minh cho rằng “Truyện ngắn luôn luôn tồn tại và có triển
vọng (có triển vọng đồng nghĩa là có tƣơng lai). Thời hiện đại – thời của tốc độ, thời của
chắt chiu từng giây từng phút thời gian và luôn luôn bị cuốn vào cơn lốc của văn minh
công nghiệp thì rõ ràng truyện ngắn có ƣu thế hơn so với một số loại hình văn học khác
(ví dụ nhƣ tiểu thuyết), nếu mức độ hay dở ngang nhau. Truyện ngắn hay mời gọi, lôi
cuốn ngƣời mới viết, đồng thời quyến rũ ngƣời cầm bút đã thành danh vẫn dẫn dụ, mê
hoặc ngƣời đọc.”.
10
Một số bài viết khác lại xoay quanh vấn đề đặc trƣng cơ bản của truyện ngắn:
Nguyễn Anh Vũ, Lê Dục Tú trong bài viết Truyện ngắn trong đời sống văn học đương
đại nhận xét: “Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, dung lƣợng không lớn, với chức
năng chỉ để một lát cắt của hiện thực, một khoảng khắc trong cuộc sống thƣờng nhật nên
truyện ngắn đã quy tụ đƣợc một đội ngũ tác giả khá đông đảo cả chuyên nghiệp lẫn
không chuyên”; “trong cuộc sống gấp gáp hiện nay, đọc thƣởng thức truyện ngắn dƣờng
nhƣ phù hợp hơn cả, bởi lẽ nó không bắt ngƣời đọc mất quá nhiều thời gian nên chính vì
cậy thể loại văn học này đã thu hút một lƣợng lớn độc giả cho mình. Nguyễn Hữu Quý
trong một bài viết trên Tạp chí Quân đội Việt Nam số 637, 2007 cho rằng truyện ngắn “là
một thể loại văn học huyền hoặc, kì thú, vô cùng hấp dẫn. Truyện ngắn mời gọi, lôi cuốn,
quyến rũ ngƣời viết và khuất phục bạn đọc. Là ngƣời viết văn, dù là viết tiểu thuyết, cũng
ít nhất một vài lần thử sức với truyện ngắn, khám phá, chinh phục truyện ngắn”.
2.2. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn nữ đương đại
Tiếp bƣớc thành công của những năm 90 thế kỉ trƣớc, sang thế kỉ XXI, các nhà
truyện ngắn nữ đƣơng đại. Có thể nói trên đây là những bài viết khái quát nhất về đặc
điểm, diện mạo của văn chƣơng nữ giới thời kì đổi mới.
Phác thảo vài nét về diện mạo truyện ngắn đương đại và sự góp mặt của một số
cây bút nữ trên tạp chí Thành phố Hồ Chí Minh số 7, 8, 2004, Nguyễn Thị Thành Thắng
làm rõ sự lên ngôi của một số cây bút nữ và hƣớng tiếp cận đời sống trong truyện ngắn
của họ. Bài viết Truyện ngắn nữ và xu hướng tự nghiệm in trên tạp chí Văn hoá văn nghệ
công an, số 10, 2003 của Hoàng Thị Hồng Hà tìm hiểu xu hƣớng “tự nghiệm” trong
truyện ngắn nữ. Tác giả đã chú ý đến mảng hiện thực của những “cái tôi đàn bà” phong
phú mà phức tạp, sâu sắc đầy nữ tính, từ đó khám phá các cách biểu hiện nhân vật xƣng
“tôi” trong tác phẩm.
Bên cạnh đó, có nhiều bài viết đăng tải ý kiến của chính các nhà văn nữ mang lại
cái nhìn khá toàn diện về văn chƣơng của một số nhà văn nữ nhƣ: Lan man với Nguyễn
12
Thị Thu Huệ của Phạm Xuân Nguyên, in trên tạp chí diễn đàn văn nghệ VN số 4, 1994;
Chúng tôi phỏng vấn bốn cây bút nữ của Nguyễn Đức Quang – Ngô Vĩnh Bình – Phạm
Hoa in trên TCVNQĐ số 33, 1993; Gặp gỡ các nhà văn trẻ: “Tôi vốn là người đàn bà
thích được che chở” của Minh Hà in trên báo Ngƣời lao động ngày 17/6/2000; Phỏng
vấn Y Ban, Y Ban viết về nỗi đau rất đàn bà, www.thotre.com; Hãy lắng nghe tác phẩm
của nhà văn nữ, www.evan.com.vn; Phỏng vấn Dạ Ngân, Viết văn như xây nhà,
hanoi.vnn.vn; Phỏng vấn nhiều nhà văn, Vẻ đẹp dâng hiến, www.dddv.com.vn; …Trả lời
phỏng vấn, các cây bút nữ, Nguyễn Thị Thu Huệ ,Y Ban, Dạ Ngân … đã bộc bạch suy
nghĩ về những khó khăn, thuận lợi khi phụ nữ sáng tác văn học. Thông tin từ các bài
phỏng ván giúp độc giả hình dung đầy đủ hơn về ý nghĩa sáng tác của các chị.
Trong bài viết Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sỹ, GS Phƣơng Lựu nhận xét:
“Một số nhà giải phẫu học đã chứng minh đƣợc rằng nữ giới thƣờng tƣ duy thiên về phía
bán cầu não bên trái, tức là bộ phận nặng về tình cảm tƣởng tƣợng, hồi tƣởng. Ngƣời ta
vẫn mói phụ nữ thƣờng bị cảm xúc lấn át thiên hƣớng nội hơn hƣớng ngoại và điều này ít
nhiều chi phối đến tƣ duy nghệ thuật cũng nhƣ cách thức triển khai và thể hiện ý tƣởng
trong mỗi tác phẩm của các cây bút nữ … và cũng chính vì thế các tác giả nữ có điều kiện
đi sâu vào khắc hoạ thế giới nội tâm của nhân vật, nhất là nhân vật nữ.” [28]. Trong bài
Theo dòng khảo sát trong Phụ nữ là … đàn bà”, Đào Đồng Điện nhận xét về nhân
vật nữ trong văn học đƣơng đại: “Không còn nhiều phụ nữ kiên cƣờng nữa mà thay vào
đó là những con ngƣời yếu đuối nhẹ dạ, cả tin, đa cảm, đa đoan” … “Gặp môi trƣờng
thích hợp với bản tính phụ nữ, nhƣ cá gặp nƣớc, ngƣời phụ nữ đƣợc dịp phô bày hết
mình”, thậm chí sự phô bày đó có thể làm ảnh hƣởng đến phẩm chất đạo đức nhƣ “ngoại
tình”. Tác giả cho rằng chính đặc điểm này “trở thành đặc điểm nổi bật về tính cách xã
hội của ngƣời phụ nữ trong văn xuôi thời đại mới, nó phá vỡ quan niệm truyền thống về
hạnh phúc gia đình cũng nhƣ tổ chức gia đình của ngƣời Việt Nam.”
14
Có thể nhận thấy qua các bài viết và công trình nghiên cứu từ những góc độ khác
nhau, các tác giả đã có sự nhìn nhận trên nhiều bình diện của truyện ngắn nói chung và
truyện ngắn nữ nói riêng, cũng nhƣ đề cập đến những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của
họ. Các bài viết khẳng định sự tiếp nối về đội ngũ văn nữ cũng nhƣ đặc điểm của giới
tính bộc lộ qua cách nhìn hiện thực và con ngƣời. Có không ít những nhận xét khá tinh tế,
sâu sắc về các cây bút nữ đƣơng đại. Tuy nhiên vẫn còn rất ít bài viết về vấn đề nhân vật,
đặc biệt là nhân vật nữ trong sáng tác của các nữ văn sĩ, có chăng chỉ là những nhận xét
ban đầu. Một số luận văn đề cập đến nghệ thuật truyện ngắn nữ, đến nhân vật trong
truyện ngắn nữ, nhƣng đa số khảo sát trên một hoặc một vài tác giả nữ cụ thể, căn bản
chƣa tình hiều một cách tổng quan về các tác giả cũng nhƣ tác phẩm từ năm 2000 đến
nay. Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: Nhân vật nữ trong truyện ngắn nữ đương đại
Việt Nam (Qua sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư
…) với mong muốn góp một chút công sức nhỏ bé của mình vào không khí “trăm nhà
đua tiếng” của nghiên cứu, phê bình văn học trên phƣơng diện thể loại của các cây bút nữ
trẻ trong thập niên đầu thế kỉ XXI.
3. Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của chúng tôi là: “Nhân vật nữ trong truyện ngắn nữ
đương đại Việt Nam”. “Đƣơng đại” là một thuật ngữ chỉ cái hiện thời, hiện kim, vì vậy
“ngƣời phụ nữ đƣơng đại” trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi là những ngƣời phụ nữ
hiện đại ở thời điểm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, khi mà xã hội Việt Nam đang trên
đà phát triển, hội nhập quốc tế. Và cũng chính hoàn cảnh xã hội mở cửa này đã mang đến
16
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các thao tác phân tích, so sánh, thống kê, tổng
hợp và đặc biệt là thao tác đối lập … cũng thƣờng xuyên đƣợc vận dụng trong quá trình
nghiên cứu.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm
ba chƣơng:
Chƣơng 1: Ngƣời phụ nữ trong văn chƣơng và truyện ngắn đƣơng đại viết về
ngƣời phụ nữ
Chƣơng 2: Hình tƣợng ngƣời phụ nữ hiện đại trong truyện ngắn nữ đƣơng đại
Chƣơng 3: nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ của truyện ngắn nữ đƣơng đại 17
CHƢƠNG 1: NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN CHƢƠNG VÀ TRUYỆN NGẮN
HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ NGƢỜI PHỤ NỮ
1.1. Nhân vật ngƣời phụ nữ trong văn chƣơng Việt Nam qua các thời đại
1.1.1. Người phụ nữ trong văn học trung đại
Ngƣời phụ nữ là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam. Từ Trƣớc thế kỉ XVI, nhân
vật phụ nữ đã thoáng hiện trong các tác phẩm văn xuôi tự sự cũng nhƣ trong thơ ca. Đó là
bƣớc vào văn học giai đoạn này đều là những giai nhân tuyệt thế: Chị em Thuý Vân và
Thuý Kiều thì rõ ràng là khuôn mẫu của sắc đẹp: “ Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,/ Hoa ghen
thua thắm, liễu hờn kém xanh”.
Sắc đẹp của ngƣời cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đã đến
mức siêu phàm: “Chìm đáy nƣớc cá lừ đừ lặn,/ Lửng lƣng trời nhạn ngẩn ngơ sa”. Hồ Xuân
Hƣơng còn muốn vĩnh hằng hoá sắc đẹp của ngƣời con gái trong bài thơ Đề tranh tố nữ:
“Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh”.
Tuy nhiên, sắc đẹp của đa số nhân vật nữ trong văn học giai đoạn này thƣờng gắn
liền với một phần phẩm chất không thể thiếu đƣợc, đó là tài. ở họ, sắc và tài tạo thành một
cặp đặc điểm không tách rời nhau. Theo quan niệm của các tác giả văn học trung đại, tài
gồm bốn mặt sau đây: cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ). Có thể coi Thuý Kiều của
Nguyễn Du là nhân vật tiêu biểu cho phẩm chất nói trên. Tiếng đàn của nàng làm cho Kim
Trọng phải “ngơ ngẩn sầu”, làm cho Thúc Sinh “cũng tan nát lòng” và làm cho Hồ Tôn
Hiến “nhăn mày, rơi châu”. Tài làm thơ của Kiều nhanh đến khó mà tƣởng tƣợng nổi: “Tay
tiên một vẫy đủ mƣời khúc ngâm” rồi “Tay tiên gió táp mƣa sa” …
19
Tuy vậy, ca ngợi tài và sắc của ngƣời phụ nữ không phải là mục đích của tác gia văn
học thế kỉ XVI - đầu XIX. Tài và sắc chỉ là một phƣơng diện của cái đẹp và làm nền để bộc
lộ bản chất của cái đẹp: Đẹp nết.
Trong văn học Trung đại, khi nói đến đẹp nết là ta đã đề cập tới phạm trù đạo đức.
Văn học dân gian cho rằng: “Tốt gỗ hơn tốt nƣớc sơn/ Xấu ngƣời đẹp nết còn hơn đẹp
ngƣời.” Nhƣng trong văn học viết lại không hề có sự đối lập giữa hình thức (xấu ngƣời) với
nội dung (đẹp nết). Hình thức và nội dung thƣờng có sự hoà quyện sóng đôi. Vì thế, ở các
truyện truyền kì cũng nhƣ truyện Nôm, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhân vật phụ nữ luôn
toát lên một phẩm chất cao đẹp: đức hi sinh, lòng vị tha và tấm tình chung thuỷ. Hồ Xuân
Hƣơng đã hình tƣợng hoá thủy chung, son sắc của ngƣời phụ nữ trong bài thơ thất ngôn tứ
tuyệt Bánh trôi nước. Dù cuộc đời có bị vùi dập “bảy nổi ba chìm” thì “tấm lòng son” của
ngƣời phụ nữ vẫn đƣợc giữ gìn trọn vẹn. Đó là nét nổi bật thứ nhất về hình tƣợng ngƣời phụ
nữ trong văn học Việt Nam thế kỉ XVI - đầu XIX.
1.1.1.2. Phụ nữ - hiện thân của số phận bi thương
Điểm (1705-1746) ngƣời tỉnh Bắc Ninh, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ rất giỏi thơ văn; Nữ sĩ Hồ
Xuân Hƣơng (1780-1820) có tài thơ văn cả về chữ Nôm và chữ Hán; Bà Huyện Thanh
Quan (Đầu thế kỷ 19) …, các tài nữ này cũng đã cất cao tiếng nói chia sẻ, đồng cảm với
những ngƣời phụ nữ cùng cảnh ngộ “Bảy nổi ba chìm với nƣớc non”, mặt khác họ cũng
muốn đòi hỏi một sự trân trọng với những mong muốn chính đáng của ngƣời phụ nữ, thậm
trí là sự phản kháng, khiêu khích với cả những đấng mày râu “Ví đây đổi phận làm trai
đƣợc/ Thị sự anh hùng há bấy nhiêu?” Tuy nhiên, mảng đề tài này mới chỉ xuất hiện với
tính chất tự phát, hơn nữa lại luôn gặp phải sự kìm chế của xã hội phong kiến nên chƣa thể
tạo thành một dấu ấn riêng hay một dòng văn học đƣợc.
1.1.2. Người phụ nữ trong văn học đầu thế kỉ XX
Thế kỉ XX là thế kỉ của nền văn học hiện đại. Thế kỉ XX cũng là thế kỉ mà lịch sử
dân tộc Việt Nam có nhiều biến động và xáo trộn lớn lao. Từ những năm đầu thế kỉ XX đến
21
cách mạng tháng 8/ 1945, trong tình trạng một cổ hai tròng, thực dân phong kiến, cơ cấu xã
hội Việt Nam cũng có nhiều biến đổi sâu sắc, có nhiều thành phố, thị trấn xuất hiện; có
nhiều giai cấp, tầng lớp mới: công nhân, thợ thủ công, thƣơng nhân …; có một lớp công
chúng có đời sống tinh thần, thị hiếu mới đƣợc hình thành. Đáng chú ý là chữ quốc ngữ
đƣợc phổ biến rộng rãi.
Cũng trong điều kiện xã hội thực dân nửa phong kiến, văn hóa Việt Nam đã dần thoát
khỏi ảnh hƣởng của văn hóa phong kiến Trung Hoa, dần mở rộng tiếp xúc với văn hóa
phƣơng Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp. Luồng văn hóa mới đã gây tác động, ảnh hƣởng
lớn tới ý thức, tâm hồn ngƣời cầm bút. Tất cả khiến cho nền văn học Việt Nam có nhiều đổi
mới theo hƣớng hiện đại hoá. Đồng thời hình thành hai bộ phận (công khai và hợp pháp) và
phân hóa thành nhiều xu hƣớng (lãng mạn, hiện thực) vừa đấu tranh vừa bổ xung cho nhau
để cùng phát triển.
Năm 1925 Hoàng Ngọc Phách trình tiểu thuyết Tố Tâm, tác phẩm này đã mở đầu
cho phƣơng pháp miêu tả thế giới nội tâm con ngƣời - đặc biệt là ngƣời phụ nữ - thật sâu
sắc và tinh tế sau này. Tố Tâm ghi lại mối tình say đắm của Tố Tâm và Đạm Thuỷ, một đôi
tài tử giai nhân trong giới thanh niên trí thức tiểu tƣ sản thành thị đƣơng thời. Dù biết Đạm
Thuỷ đã yên bề gia thất, biết tình yêu của mình là vô vọng nhƣng Tố Tâm vẫn yêu chàng
theo quan niệm đạo đức Nho giáo đã ràng buộc ngƣời phụ nữ với bổn phận gia đình. Nhà
thơ Anh Thơ từng tâm sự: “Từ bé, bố tôi đã cấm tôi làm thơ. Theo cách nghĩ của bố tôi, con
gái có một chút tài thì mệnh thƣờng bạc, vì thế ông đã tìm mọi cách để ngăn cản” (Anh Thơ,
Từ bến sông Thƣơng tới bến Đồng Nai, Tạp chí Văn học số 7/ 2002). Vì thế, đƣợc giao cảm
với đời, với thế giới bên ngoài càng ngày càng trở thành một niềm khao khát của ngƣời phụ
nữ, nhất là đối với những ngƣời phụ nữ có thiên hƣớng sáng tạo.
Tuy nhiên so với thể kỉ trƣớc thì trong những thập kỉ đầu của thế kỉ XX, ngƣời phụ
nữ cũng đã phần nào có tiếng nói trên văn đàn, trên các diễn đàn báo chí nhƣ: Nữ giới
chung, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ Tân văn … Ngay từ những năm hai mƣơi, các bài viết Văn
23
học với nữ tính, Phụ nữ đối với văn học, Nền văn học của phụ nữ Việt Nam … Trên tờ Phụ
nữ tân văn đã lên tiếng đấu tranh cho sự bình quyền của giới nữ trong văn học. Thời kì này
tiếng nói của các nhà văn nữ đối với văn học chủ yếu là ở lĩnh vực thơ ca. Còn trong văn
xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng thì sự hiện diện của các nhà văn nữ còn quá ít ỏi và
chƣa thực sự có tiếng vang. Tuy nhiên cũng phải kể đến các tên tuổi nhƣ Anh Thơ, Đạm
Phƣơng Nữ Sử và Mộng Sơn, các chị đƣợc xem là những ngƣời có công đầu cho mảng sáng
tác văn xuôi của phụ nữ thời kì trƣớc cách mạng tháng tám. Trong sáng tác của các chị chủ
yếu là bật lên tiếng nói đấu tranh cho sự bình đẳng giới ở góc độ của ngƣời phụ nữ với
những thấu hiểu và cảm thông. Dù sáng tác của các nhà văn nữ thời kì này còn quá nhiều
khiêm tốn nhƣng có ý nghĩa quan trọng và là tiền đề cho sự phát triển của văn xuôi nữ sau
này.
1.1.3. Người phụ nữ trong văn học từ 1945 đến 1975
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân
tộc. Cùng với sự thay đổi của lịch sử, và sự đi lên của đất nƣớc, cách nhìn nhận, mô tả về
con ngƣời của các nhà văn thời kì này có sự chuyển biến rõ rệt. Hình tƣợng ngƣời phụ nữ
không còn là những nhân vật chịu nhiều bất hạnh vì bị xã hội cũ vùi dập, không còn là
những ngƣời phụ nữ “nổi loạn” đòi bình đẳng nhƣ trong các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn
nữa. Con ngƣời Việt Nam thời kì này là “con ngƣời mới”, “con ngƣời cộng đồng” gắn liền
với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy các nhân vật nữ đều đƣợc xây dựng theo cảm
quan: con ngƣời cộng đồng. Họ là những “o du kích nhỏ gƣơng cao súng", những "ngƣời
đến vẫn là những ngƣời phụ nữ, những ngƣời vợ, ngƣời mẹ, những nữ chiến sĩ, những cô
gái giao liên, thanh niên xung phong với những tâm tƣ và việc làm cụ thể. Trên những trang
viết của các chị luôn hiện lên hình ảnh của những cô gái giao liên chịu đựng gian khổ trong
những điều kiện khắc nghiệt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (tập truyện Hoa rừng của Dƣơng
Thị Xuân Quý), là sự đổi đời của những cô gái giàu ý chí và nghị lực cùng với những
chuyển biến trong tình cảm và lẽ sống. Sao Mai, Ở Thành phố bờ biển của Nguyễn Thị Nhƣ
Trang viết về những ngƣời phụ nữ giỏi việc nƣớc đảm việc nhà, hay trong Những người
thân yêu của Nguyễn Thị Cẩm Thạch … Qua sáng tác của mình, các chị đã tạo dựng đƣợc
những gƣơng mặt nữ của lớp nhà văn chống Pháp và chống Mĩ. Nửa sau thế kỉ XX, nhất là
25
từ những năm 60 thì các nhà văn nữ đã trở thành một lực lƣợng, một đội ngũ có chỗ đứng
trên văn đàn. Một lực lƣợng chƣa thể nói là thực sự đông đảo nhƣng rất có ý nghĩa ở thời
điểm đó. Để rồi, cùng với khoảng thời gian mƣời năm sau chiến tranh – giai đoạn tiền đề
cho thời kì đổi mới – là sự bùng nổ về số lƣợng tác giả, tác phẩm, sự thay đổi về chất khiến
cho truyện ngắn nữ mang những sắc thái mới.
1.1.4. Người phụ nữ trong văn học đương đại
Chiến tranh kết thúc. Cuộc sống trở lại với quy luật bình thƣờng của nó. Đây cũng là
lúc con ngƣời phải đối mặt với những thay đổi, biến động xã hội sau nhiều năm chiến tranh.
Sau chiến tranh là khoảng thời gian để cho các nhà văn nhìn nhận lại tất cả các vấn đề một
cách sâu sắc và khách quan hơn. Chất thi vị sử thi nay đã dần nhƣờng chỗ cho chất hiện
thực, tỉnh táo. Và một lần nữa quan niệm nghệ thuật về con ngƣời nói chung và ngƣời phụ
nữ nói riêng đƣợc đƣa ra để lí giải, xem xét. Đất nƣớc bƣớc sang một thế kỉ mới, xã hội
đang có sự thay đổi từng ngày, từng giờ và cái nhìn về cuộc sống cũng khác trƣớc, điều đó
đòi hỏi ở các nhà văn một cái nhìn sâu sắc đầy xác thực về con ngƣời mới mong có những
kiến giải có ý nghĩa về cuộc sống và xã hội, Con ngƣời cũng nhƣ ngƣời phụ nữ giờ đây
đƣợc khám phá, biểu hiện ở nhiều chiều, nhiều tầng bậc trong những mối quan hệ vốn có
của nó. Thích ứng với môi trƣờng, hoàn cảnh của thời đại, con ngƣời trong văn học giai
đoạn này năng động hơn, hiện đại hơn, bản lĩnh và quyết đoán hơn, dám làm dám chịu, có
tri thức và đặc biệt là ngƣời phụ nữ đƣợc đánh giá cao hơn trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó,
ngƣời phụ nữ giờ đây cũng đƣợc đặt vào nhiều trạng huống phức tạp trong đời sống bản