Sự tái hiện cuộc va chạm Đông Tây và thời thuộc địa trong văn học đương đại Việt Nam (qua nghiên cứu một số trường hợp - Pdf 26

®¹i häc quèc gia hµ néi
TR-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
            
HÀ THU HỒNG SỰ TÁI HIỆN CUỘC VA CHẠM ĐÔNG TÂY VÀ THỜI
THUỘC ĐỊA TRONG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
(QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP) LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hµ Néi - 2013 ®¹i häc quèc gia hµ néi
TR-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
             HÀ THU HỒNG


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Văn học - Trƣờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều
kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận
văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Phạm Xuân Thạch là
ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận
văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã tận tình chỉ bảo hƣớng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
đƣợc hoàn chỉnh.
Tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ
và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn.

Tác giả Hà Thu Hồng 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3

thức và hoàn thiện từ hai phía 60
3.1.1. Xung đột văn hóa giữa kẻ đi chinh phục và nạn nhân của nó 61
3.1.2. Kết quả của cuộc va chạm Đông – Tây 67
3.2. Sự lai ghép văn hóa và tính hai mặt của văn hóa thời thuộc địa 81
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 101 3
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1. Từ năm 1986, với chủ trƣơng đổi mới mọi mặt đời sống xã hội
của Đại hội Đảng VI, công cuộc Đổi mới đƣợc tiến hành trên mọi lĩnh vực
từ kinh tế cho đến văn hóa, giáo dục. Cụm từ “hiện đại hóa” đƣợc đƣa vào
trong các báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần VII (1991) một
lần nữa đã khẳng định định hƣớng mới của xã hội Việt Nam: Đổi mới theo
hƣớng hiện đại hóa toàn diện. Là một bộ phận quan trọng của lĩnh vực văn
hóa xã hội, văn học cũng không nằm ngoài dòng chảy Đổi mới. Các nghệ sĩ
đều phải tìm kiếm những cảm hứng mới, những phƣơng pháp thể hiện mới,
vừa là để đáp ứng nhu cầu tự thân: nhu cầu thay đổi để phù hợp với đời
sống xã hội sôi nổi đƣơng thời; vừa đáp ứng yêu cầu chính trị: phục vụ cho
công cuộc Đổi mới của đất nƣớc, và hơn hết là nắm bắt đƣợc tâm tƣ,
nguyện vọng, tình cảm của độc giả văn học đƣơng đại. Công cuộc Đổi mới
đã góp phần tạo nên một diện mạo văn học muôn màu muôn vẻ. Các nhà
văn, nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới đầu tiên có thể kể tới nhƣ: Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Duy,
Lƣu Quang Vũ… và lần lƣợt kế tục là một đội ngũ đông đảo các nghệ sĩ
với những cách tân mới trong tƣ duy nghệ thuật nhƣ: Nguyễn Khắc

đầy trang trọng, thơ Mới cũng đƣợc giảng dạy trong nhà trƣờng phổ thông.
Các tác phẩm nhạc tiền chiến, “nhạc vàng” đƣợc biểu diễn công khai, thu
âm và ghi đĩa phát hành rộng rãi. Các kiến trúc Pháp và thuộc địa xuất hiện
ở nhiều công trình từ công cộng cho tới tƣ nhân. Đó là những biểu hiện sự
chấp nhận của xã hội Việt Nam đƣơng đại với lịch sử và văn hóa thời thuộc
địa. Vậy sự chấp nhận quá khứ ấy thể hiện nhu cầu văn hóa gì của xã hội
hiện tại? Đó là một hƣớng nghiên cứu cần đƣợc quan tâm đặc biệt trong bối
cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển văn hóa và hội nhập với thế giới.

5
Lý giải đƣợc vấn đề đó trong thực tiễn đời sống văn hóa nói chung và văn
học nói riêng đòi hỏi phải sử dụng một lý thuyết phù hợp với hoàn cảnh
hậu thuộc địa của Việt Nam nhƣ lý thuyết hậu thuộc địa. Tuy nhiên, cũng
phải lƣu ý rằng lý thuyết hậu thuộc địa đƣợc các nhà lý thuyết hình thành
trên cơ sở tƣ liệu thực tế dựa trên vấn đề của các quốc gia Bắc Phi, Trung
Đông, Ấn Độ… Các quốc gia này có những điểm khác biệt về điều kiện
chính trị - kinh tế - văn hóa với Việt Nam, do đó khi vận dụng lý thuyết hậu
thuộc địa ta cần phải có sự chọn lọc, không thể rập khuôn máy móc mà bỏ
qua hoàn cảnh thực tế. Chính vì thế, hậu thuộc địa trong nghiên cứu của
chúng tôi đƣợc hình dung nhƣ một phái sinh của xã hội học văn học giúp
nghiên cứu các vấn đề của văn học trong bối cảnh xã hội đặc thù mà ở đây
là Việt Nam trong bối cảnh hậu thuộc địa.
3. Một trong những dòng chảy chính của văn học từ sau Đổi mới là
tự sự lịch sử. Các tác phẩm từ truyện ngắn nhƣ: Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm
tiết… của Nguyễn Huy Thiệp, Dị hương của Sƣơng Nguyệt Minh, Trở về
Lệ Chi viên của Nguyễn Thúy Ái cho đến những tiểu thuyết nhƣ: Giàn
thiêu của Võ Thị Hảo, Mạc Đăng Dung của Lƣu Văn Khuê, Khúc khải
hoàn dang dở của Hà Ân, Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải… đã
chứng minh cảm hứng dồi dào của các nhà văn với đề tài lịch sử. Các nhà
văn đã cố gắng tìm tòi những cách thể hiện mới cả về nội dung và hình

kiếm và lý giải những vấn đề mới trong sáng tác của các nhà văn đƣơng đại
về thời thuộc địa, cùng sự đánh giá và nhìn nhận mới về thời kỳ lịch sử đầy
biến động này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về tự sự lịch sử và những nghiên cứu liên quan
Tự sự lịch sử là một loại hình có lịch sử lâu đời cả ở phƣơng Đông
và phƣơng Tây. Đặc biệt ở phƣơng Đông, từ rất sớm các tác giả của Tả
truyện, Lã Thị Xuân Thu, Sử ký… đã cho thấy khuynh hƣớng trần thuật

7
hƣ cấu về lịch sử. Sự phát triển khuynh hƣớng này đã hình thành nên tiểu
thuyết lịch sử chƣơng hồi ở Trung Hoa. Truyền thống tiểu thuyết lịch sử
chƣơng hồi ấy đƣợc các nhà văn Việt Nam đón nhận ngay từ thời trung đại.
Những tác phẩm nhƣ: Hoàng Lê nhất thống chí, Nam triều công nghiệp
diễn chí… của Ngô gia văn phái đã đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của
tiểu thuyết lịch sử chƣơng hồi truyền thống của Việt Nam. Đến các thập
niên đầu của thế kỷ XX, tiểu thuyết lịch sử nhanh chóng tìm đƣợc chỗ đứng
cho mình với những tác giả tiêu biểu nhƣ Phan Bội Châu, Đào Trinh Nhất,
Trần Thanh Mại, Phan Trần Chúc, Ngô Văn Triện, Nguyễn Triệu Luật…
Tuy tiểu thuyết lịch sử sớm có thành tựu nhƣng việc nghiên cứu lại
chỉ mới đƣợc quan tâm từ sau năm 1954. Trƣớc đó, chỉ có Vũ Ngọc Phan
trong Các nhà văn Việt Nam nhắc tới nhóm tác giả viết về chủ đề lịch sử.
Cuốn tiểu thuyết lịch sử nhận đƣợc nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu
đầu tiên là Trùng Quang tâm sử của tác giả Phan Bội Châu; nhà nghiên
cứu Phan Cự Đệ coi đây là một tiểu thuyết lịch sử luận đề về cách mạng
Việt Nam [16]; còn Nguyễn Đình Chú thì khẳng định ƣu thế về mặt nội
dung của Trùng Quang tâm sử là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về một tập
thể anh hùng [10]. Tác giả Phan Cự Đệ cũng là ngƣời đầu tiên nhận xét
khái quát về tiểu thuyết lịch sử trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
(tập 1 - 1974) với sự khẳng định tính chất phù hợp của tiểu thuyết lịch sử

Đánh giá về những tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, các nhà
nghiên cứu phê bình dành cho ông rất nhiều lời khen ngợi. Bài viết Về
những cách tân nghệ thuật trong Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn và Đội
gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh của Lã Nguyên đã chỉ ra những
cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh: “Một trong những
cách tân nghệ thuật quan trọng của Nguyễn Xuân Khánh là đổi mới nguyên

9
tắc truyện kể, biến tiểu thuyết thực sự trở thành câu chuyện của mình và về
mình, mang đậm dấu ấn của một cá tính sáng tạo” và sự cách tân ở kết cấu
khung và lối xử thế và cặp đối lập “âm – dƣơng”. Đoàn Ánh Dƣơng trong
bài viết Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết văn hóa – lịch sử khẳng định:
“Có thể nói, đến bộ ba tiểu thuyết văn hóa - lịch sử này, Nguyễn Xuân
Khánh đã gác sang bên những trăn trở về đổi mới bút pháp để đi sâu vào
những đổi mới về mặt tƣ tƣởng”.
Đặc biệt, ngày 15/10/2012, Viện văn học và Nhà xuất bản Phụ nữ
phối hợp tổ chức Tọa đàm Lịch sử và văn hóa qua tự sự nghệ thuật của
Nguyễn Xuân Khánh. Tọa đàm đƣợc coi là một tập hợp đầy đủ, nhiều
chiều nhất những ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học về bộ
ba tác phẩm thành công nhất của nhà văn. 25 bài viết trong tọa đàm này đã
đƣợc in lại trong cuốn Lịch sử và văn hóa – cái nhìn nghệ thuật Nguyễn
Xuân Khánh do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành. Hai vấn đề về nội dung và
nghệ thuật tiểu thuyết đã đƣợc tiếp cận qua hai phần “Diễn ngôn lịch sử và
tƣ duy nghệ thuật” và “Những chiến lƣợc tự sự và các hƣớng tiếp cận”.
Cuốn sách đã chọn lọc những bài tham luận có giá trị về tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh: Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh một diễn ngôn về
lịch sử và văn hóa của Nguyễn Đăng Điệp; Tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn
Xuân Khánh từ phương diện kết cấu thể loại của Bùi Việt Thắng; Tiểu
thuyết Nguyễn Xuân Khánh, sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa phong tục
của Nguyễn Hoài Nam; Nguyễn Xuân Khánh, từ cấu trúc nghệ thuật đến

Nguyễn Xuân Khánh còn đƣợc chọn làm đối tƣợng nghiên cứu của các
khóa luận, luận văn, nghiên cứu khoa học tại các trƣờng đại học, cao đẳng.
Trong luận văn Thạc sĩ ngành Ngữ văn, Tống Thị Thanh đã nghiên cứu
những đóng góp của nhà văn trong tiến trình đổi mới văn học Việt Nam

11
trong đề tài “Những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh vào tiến trình đổi
mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Qua hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu
Thượng Ngàn)”. Bên cạnh đó, đề tài “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
dưới góc nhìn thể loại (qua hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng
Ngàn)” của Hoàng Thị Hiền Lƣơng (Khoá luận tốt nghiệp, 2007) lại cho
thấy những đặc điểm nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh. Ngoài ra, chúng tôi còn nhận thấy xu hƣớng tiếp cận tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh trong mối liên hệ so sánh với các tác giả khác trong
những đề tài khóa luận của sinh viên: Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc
Hải và Nguyễn Xuân Khánh của Nguyễn Thuỳ Dƣơng (Khóa luận tốt
nghiệp, 2004); Hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử (qua khảo sát
Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Giàn thiêu của Võ Thị Hảo) của
Đinh Việt Hà (Khóa luận tốt nghiệp, 2004); Một số vấn đề lý luận về tiểu
thuyết lịch sử qua Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Sông Côn mùa
lũ của Nguyễn Mộng Giác của Nguyễn Thị Liên (Luận văn thạc sĩ, 2006).
2.2.3. Về tự sự lịch sử của Nguyễn Quang Thân
Sau tiểu thuyết đầu tay Lựa chọn, những cuốn tiểu thuyết sau này
của Nguyễn Quang Thân đã đi theo một lối viết mới. Tiểu thuyết của ông
đã chạm đến những vấn đề bức xúc của đất nƣớc, của lịch sử, của thời đại
gắn với số phận con ngƣời. Đến với thể loại tiểu thuyết, nhà văn có thể gửi
gắm ý tƣởng nhân văn và trách nhiệm của ngƣời sáng tạo mà ông suốt đời
phấn đấu. Sau thành công của hai cuốn tiểu thuyết xuất sắc về đề tài thế sự
là Một thời hoa mẫu đơn và Ngoài khơi miền đất hứa , Nguyễn Quang
Thân cho ra đời tiểu thuyết Con ngựa Mãn Châu. Cuốn tiểu thuyết viết về

lịch sử để mô tả và để triển khai ý tƣởng của mình, không đơn giản hóa sự
kiện lịch sử, không một chiều hóa các danh nhân lịch sử khi biến họ thành

13
nhân vật của tiểu thuyết, đồng thời kích thích đƣợc ở ngƣời đọc hứng thú
suy nghĩ tiếp về những vấn đề của lịch sử, có thể nói, đây là những thành
công cần phải đƣợc ghi nhận ở tác phẩm Hội thề của nhà văn Nguyễn
Quang Thân”[56]. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu khác cũng dành sự quan
tâm đến tác phẩm ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau. Trong nhà
trƣờng, tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Quang Thân cũng đƣợc chú ý với
một số nghiên cứu viết về tiểu thuyết của ông, có thể kể tới hai luận văn:
Tiểu thuyết Nguyễn Quang Thân sau 1986 của học viên cao học Nguyễn
Thị Thƣơng bảo vệ năm 2010 tại Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã đƣa ra những
đánh giá mang tính khái quát và có hệ thống về tiểu thuyết của Nguyễn
Quang Thân nói chung sau 1986; Tiểu thuyết Hội thề của Nguyễn Quang
Thân dưới góc nhìn thể loại của học viên cao học Trịnh Thanh Tùng tại
trƣờng Đại học Vinh đã nghiên cứu tiểu thuyết Hội thề tƣơng đối kỹ càng
với tƣ cách là một tiểu thuyết lịch sử.
2.2.4. Về tự sự lịch sử của Bảo Ninh
Khác với hai trƣờng hợp trên, nhà văn Bảo Ninh mới chỉ có một
tiểu thuyết duy nhất đƣợc xuất bản là Nỗi buồn chiến tranh. Đây cũng là
một tác phẩm có số phận “long đong” kỳ lạ. Xuất hiện năm 1989 và ngay
lập tức gây tiếng vang lớn trên văn đàn nhƣng Thân phận của tình yêu
(tên đầu tiên của Nỗi buồn chiến tranh) phải chờ đợi đến hơn mƣời năm
sau mới giành lại đƣợc đúng vị trí của mình trên văn đàn. Khi vừa mới ra
đời, Nỗi buồn chiến tranh nhận đƣợc những luồng ý kiến khác nhau từ
giới nghiên cứu. Có những ý kiến ngợi ca cuốn tiểu thuyết nhƣ của các nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử, Cao Tiến Lê, Phạm Tiến Duật, Nguyên Ngọc,
Vũ Quần Phƣơng, Chu Lai, Nguyễn Phan Hách, Đỗ Đức Hiểu, Ngô Văn
Phú, Tôn Phƣơng Lan, Nguyễn Trọng Tân, khi tham gia cuộc thảo luận


15
(Qua so sánh với tiểu thuyết Phía tây không có gì lạ của Erich Maria
Remarque và tiểu thuyết Khói lửa của Henri Basbusse) của Vũ Thị Thúy
Vân (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2012); luận văn Văn xuôi
tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới của
Bùi Thị Hợi (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2011) đã đƣa
ra những nghiên cứu nghiêm túc, đánh giá cả về mặt thành công và hạn chế
của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, đặc biệt là trên phƣơng diện cách tân
hình thức nghệ thuật và thi pháp tiểu thuyết.
Nhƣ vậy, từ nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu,
các tác giả đã đƣa ra những nhận định nghiên cứu khá phong phú về tiểu
thuyết lịch sử cũng nhƣ tiểu thuyết lịch sử của ba tác giả. Trong những
công trình đó, thành công và hạn chế cả về nội dung tƣ tƣởng cũng nhƣ
nghệ thuật của các tác giả đƣợc chỉ ra rất rõ. Tuy nhiên, ở góc độ nghiên
cứu về sự tái hiện lịch sử thời thuộc địa trong các tác phẩm của ba tác giả
kể trên thì chƣa có một công trình nào mang tính chất đầy đủ và hệ thống
về vấn đề này. Chính bởi vậy, luận văn Sự tái hiện cuộc va chạm Đông –
Tây và thời thuộc địa trong văn học Việt Nam đương đại (qua nghiên
cứu một số trường hợp) của chúng tôi mong muốn đƣợc góp phần nghiên
cứu vấn đề này nhƣ một sự đóng góp vào quá trình tìm hiểu tƣ duy sáng tạo
của các nhà văn trong việc giải mã lịch sử và văn hóa của dân tộc đặc biệt
là thời thuộc địa trong văn học đƣơng đại.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Trong luận văn này chúng tôi tập trung
khảo sát, phân tích, lý giải một đề tài hiện diện trong văn học Việt Nam
đƣơng đại, đó là: cái nhìn mới về thời thuộc địa và cuộc va chạm Đông –
Tây về văn hóa giữa hai chủ thể: một là văn hóa phƣơng Tây mà ở đây
đƣợc chỉ rõ là ngƣời Pháp và văn hóa Pháp, hai là văn hóa phƣơng Đông


xử của con ngƣời trong tác phẩm. Từ đó phƣơng pháp này sẽ giúp chỉ ra
những đặc điểm của con ngƣời Việt Nam trong quá khứ đƣợc tái hiện lại.
Đồng thời, đây cũng là phƣơng pháp giúp phân tích đƣợc các yếu tố xã hội
chi phối tƣ duy sáng tác của nhà văn. Phƣơng pháp này cũng mang tính
tƣơng thích với một trong những khái niệm quan trọng nhất của lý thuyết
hậu thuộc địa đƣợc sử dụng trong luận văn này.
- Phƣơng pháp thi pháp học giúp phân tích những phƣơng tiện
hình thức đặc thù của nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết trong việc thể hiện
nội dung của tác phẩm. Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng nhằm chỉ ra những
vấn đề mang tính tƣ tƣởng đã đƣợc các tác giả hiện thực lại trong tác phẩm
nhƣ thế nào? Các phƣơng tiện mang tính hình thức đã thỏa mãn đƣợc ý đồ
nghệ thuật của tác giả hay chƣa?
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Cái nhìn mới về giai đoạn thuộc địa
Chƣơng 3: Xung đột văn hóa Đông – Tây đầu thế kỷ XX, đặc
điểm và hậu quả

18
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

không gian và thời gian của tác phẩm. Phân tích tác phẩm theo thi pháp học
là một hƣớng nghiên cứu đƣợc quan tâm ở Việt Nam. Chính bởi vậy, đối
với cả bốn tác phẩm, các nghiên cứu về vấn đề thi pháp của tác phẩm, kỹ
thuật viết của tác giả cũng nhƣ không – thời gian nghệ thuật đã đƣợc triển
khai và đạt đƣợc nhiều thành tựu. Trong luận văn này, chúng tôi không đặt
vấn đề phân tích toàn bộ phƣơng diện hình thức của các tác phẩm mà chỉ đi
vào phân tích những đặc điểm hình thức có liên quan đến mục đích nghiên
cứu của chúng tôi bao gồm: giọng kể, điểm nhìn và hệ thống nhân vật.
1.1.2. Xã hội học văn học – một hướng nghiên cứu
Từ rất sớm, ngƣời ta đã nhận thấy mối liên hệ khăng khít giữa văn
học và đời sống. Những chất liệu để tạo nên văn học nhƣ ngôn ngữ, cốt
truyện, nhân vật… đều bắt nguồn từ cuộc sống. Tác phẩm sau khi đƣợc
hoàn thành lại gia nhập đời sống văn học và đời sống xã hội với việc tác
giả xuất bản tác phẩm của mình. Nhƣ vậy, việc nghiên cứu văn học theo
hƣớng xã hội học là một yêu cầu luôn luôn cấp thiết trong bất cứ giai đoạn
nào của lịch sử văn học. Về xã hội học văn học, trƣớc tiên cần phải phân
biệt rõ sự khác biệt của hai khái niệm, hai hƣớng nghiên cứu. Một là những
nghiên cứu xã hội học nghiên cứu về văn học, tức sự áp dụng những
phƣơng pháp khảo sát xã hội học về thị trƣờng sách, vấn đề tiêu thụ, nhu
cầu và thị hiếu của độc giả… Ở hƣớng này xã hội học coi văn học là một
trong những đối tƣợng đặc thù đƣợc đánh giá. Còn ở đây, chúng tôi muốn
đề cập đến xã hội học văn học với tƣ cách là là một phƣơng pháp có
khuynh hƣớng phát triển thành một lý thuyết phê bình có thể nghiên cứu và
chỉ ra mối quan hệ giữa văn bản văn học và xã hội.
Những nghiên cứu của các nhà Marxist từ L. Goldmann đến Ch.
Caudwell đã phân tích các vấn đề của phản ánh luận. Với L.Goldman, tính

20
cơ học của phản ánh luận đã đƣợc điều chỉnh. Ông đƣa ra khái niệm "cái
nhìn thế giới" (vision du monde). Qua khái niệm này L. Goldmann cho

văn chƣơng trong các tác phẩm chứ không nhằm mục đích đánh giá sự điêu
luyện của kỹ thuật viết.
1.1.3. Hậu thuộc địa và nghiên cứu văn học
Về nguồn gốc của chủ nghĩa hậu thuộc địa các nhà nghiên cứu đa
số tán thành chủ nghĩa này đƣợc bắt nguồn từ những công trình của Frantz
Fanon và Albert Memmi với bối cảnh là trong những cuộc đấu tranh của
các nƣớc Bắc Phi giành độc lập từ thực dân Pháp. Đặc biệt là các công
trình phê bình về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc và chủ
nghĩa thực dân của Fanon. Hai công trình tiêu biểu nhất của Fanon: Da đen
Mặt nạ trắng (1952) và Những kẻ khốn cùng của trái đất (1961) đã phân
tích về nạn phân biệt chủng tộc và sự đàn áp mà kẻ thực dân thực thi ở xã
hội thuộc địa, cuộc sống khốn khổ của ngƣời dân trong các xã hội đã bị
thuộc địa hóa. Fanon đã tiến hành các phân tích tâm lý với các cƣ dân thuộc
địa để giải thích mặc cảm nhƣợc tiểu của ngƣời da đen trong xã hội thuộc
địa với chuẩn mực đƣợc thiết lập bởi ngƣời da trắng. Ông cũng chỉ ra tâm
lý hai mặt/ tâm lý nƣớc đôi (ambivalence) của ngƣời dân thuộc địa khi đối
diện với mẫu quốc. Một điểm quan trong nữa là Fanon đã đƣa quan điểm
của mình về ý thức dân tộc (national consciousness) trở thành chìa khóa
giúp các nƣớc thuộc địa có thể hoàn toàn giải phóng dân tộc mình. Những
quan niệm của Fanon về dân tộc (ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc (national
spirit), chủ nghĩa dân tộc (nationalism)…, đã đƣợc các nhà lý thuyết hậu
thuộc địa về sau kế thừa và phát triển. Tuy nhiên sự ra đời của tác phẩm
Đông phương học (1978) của Edward W. Said mới chính là dấu mốc mang
tính bƣớc ngoặt để dẫn đến sự ra đời của lý thuyết hậu thuộc địa. Hiện nay,

Trích đoạn Cấu trúc tuyến nhân vật trong bốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, Xung đột văn hóa giữa kẻ đi chinh phục và nạn nhân của nó Sự lai ghép văn hóa và tính hai mặt của văn hóa thời thuộc địa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status