Nhân vật chinh phụ và cung nữ trong văn học trung đại việt nam qua chinh phụ ngâm và cung oán ngân khúc - Pdf 10

Nhân vật chinh phụ và cung nữ trong văn học
trung đại Việt Nam qua Chinh phụ ngâm và
Cung oán ngân khúc

Vũ Thị Hoài

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Nho Thìn
Năm bảo vệ: 2010

Abstract: Chương 1: Người chinh phụ, cung nữ và số phận của họ trong lịch sử và
văn học. Chương 2: Chinh phụ và cung nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm
khúc nhìn từ góc độ tính nữ. Chương 3: Kỹ thuật miêu tả tâm lý và tính nữ.

Keywords: Nhân vật; Văn học Việt Nam; Văn học trung đại; Thơ

Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Truyền thống văn học Trung Quốc và Việt Nam trung đại đều viết về nỗi niềm kiểu
nhân vật phụ nữ mà người xưa gọi chung là Khuê oán. Nhưng dòng chảy văn học không đứng
im mà vận động, phát triển. Tìm hiểu sự phát triển của hai kiểu nhân vật phụ nữ chinh phụ và
cung nữ trong văn học trung đại Việt Nam cho đến Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc
có thể giúp xác định bức tranh văn học sử trung đại Việt Nam. Trong lịch sử văn học trung
đại Việt Nam trước thế kỷ XVIII, các tác phẩm viết về người phụ nữ rất thưa thớt. Đến đầu
thế kỷ XVIII, kiểu nhân vật này bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, trở thành nguồn cảm hứng lớn
cho các tác giả nhà nho. Hai trong số những tác phẩm nổi bật xuất hiện đầu tiên chính là
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Hai
khúc ngâm này đã khơi mào dòng văn học của các nhà nho viết về phụ nữ, dẫn đến sự ra đời
của tác phẩm đỉnh cao văn học cổ điển – Truyện Kiều (Nguyễn Du). Cả hai được các học giả

tính bản năng của hai kiểu phụ nữ chịu nhiều bất hạnh này.
Sự xuất hiện của người phụ nữ mang đầy yếu tố nữ tính như khao khát hạnh phúc, tình
yêu riêng tư, khao khát đời sống thân xác trọn vẹn trong các tác phẩm này gây nhiều tranh cãi
không chỉ với các tác giả nhà nho mà với cả những nhà nghiên cứu hiện đại. Không ai phủ
nhận sức hấp dẫn của Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc và các nhà nghiên cứu đã
đánh giá cao tác phẩm ở nhiều mặt khác nhau; tuy nhiên hầu hết các nhà phê bình từ giữa thế
kỷ XX tới những thập kỷ 80 vẫn cho rằng hạn chế của hai tác phẩm này, đặc biệt Cung oán
ngâm khúc, là nhiều yếu tố nhục dục, đậm không khí nhục cảm, nhân vật chỉ biết đến tình yêu
riêng tư, nỗi đau thiếu thốn đời sống thân xác. Bản thân các nhà phê bình cũng đứng trên quan

3
điểm nam quyền để định giá, hoặc quá nhấn mạnh vào quan điểm giai cấp nên gạt đi, hạ thấp
yếu tố nữ tính. Khoảng hai thập kỷ gần đây, khi phê bình nữ quyền xuất hiện và ảnh hưởng tới
Việt Nam, cùng với việc nở rộ các tác phẩm sáng tác mang đậm yếu tố nữ và tình dục, giới
nghiên cứu bắt đầu nhìn nhận lại tính nữ trong các sáng tác văn học. Phương pháp phê bình
này gợi mở ra những lớp nghĩa thú vị, xét lại nhiều giá trị của một số tác phẩm trung đại và
hiện đại. Cũng từ phương pháp phê bình nữ quyền gợi cho chúng tôi tìm hiểu lại giá trị nhân
bản của Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc, thái độ tiến bộ của hai tác giả nhà nho này
với người phụ nữ xét trong hệ thống sáng tác về đề tài nữ giới thời kỳ văn học trung đại.
Với tư tưởng nam quyền của Nho giáo, qua thái độ của họ với người phụ nữ. Sự phân
hóa này cho thấy sự phức tạp trong tư tưởng nho gia và sự đa dạng trong sáng tác. Nhà nho
sáng tác không chỉ đứng trên quan điểm đạo đức phong kiến mà còn đứng trên lập trường
nhân sinh, tố cáo những gì phản nhân sinh, bênh vực quyền sống của con người, đặc biệt là
phụ nữ. Thêm vào đó, người viết cũng muốn tìm hiểu thêm về kỹ thuật miêu tả tính nữ trong
hai tác phẩm này, sự đột phá cũng như các công thức miêu tả.
2. Lịch sử vấn đề
Là hai tác phẩm có nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật cao nên Chinh phụ ngâm và
Cung oán ngâm khúc đã được các nhà nghiên cứu xưa nay dành nhiều bút mực để tìm hiểu,
đánh giá, ca tụng. Những công trình lớn về hai khúc ngâm này thường là tìm hiểu về văn bản,
những bản dịch và chú giải khác nhau, thân thế, sự nghiệp của hai tác giả, bởi đây là những

mối tình đầu tươi đẹp, khác cả người chinh phụ tuy rạo rực yêu đương nhưng cũng rất kín
đáo, tế nhị” [26, tr. 2]. Nhà nghiên cứu Thanh Lê đứng trên quan điểm giai cấp để phê bình
cung nữ chỉ nghĩ đến hưởng lạc, nhu cầu xác thịt, không có tình yêu trong sáng.
Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu trong Cung oán ngâm khúc, khảo thích và giới
thiệu, cũng phê phán phương diện nhục cảm, cho rằng cung nữ luôn bị ám ảnh về tình dục mà
không một chút e lệ. Ông viết: “Toàn khúc ngâm triền miên trong một thế giới đặc biệt toàn
ân ái mây mưa. Mới thời con gái, chưa bước chân vào cuộc đời, tự hào về nhan sắc người
thiếu nữ đã nghĩ tới: Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa. Hoặc cho rằng văn nhân tài tử
công hầu khanh tướng khi nghe nói đến nàng sẽ: Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn/ Bệnh Tề
Tuyên đã nổi lên đùng đùng. Với những ý nghĩ táo bạo sớm nở về dục tình kiểu ấy, khi được
tuyển vào cung, người cung nữ cũng chỉ có thể hân hoan vì những sự thỏa nguyện về xác thịt
(…). Bài ca xác thịt văn vẻ ấy được kết thúc bằng một nỗi hân hoan không chút e lệ ngượng
ngùng” [50, tr. 45 – 46].
Lý giải về yếu tố nhục dục trong khúc ngâm, hai ông cho rằng, hiện thực đời sống trụy
lạc trong cung đã tác động tới nhân sinh quan nhà thơ: “Sự thực trong cung, dưới mắt Nguyễn
Gia Thiều, cơ sở sáng tác của ông, là một sự thực dâm đãng. Cuộc tình duyên của Sâm và
Huệ không phải là thiên ái tình cao thượng của những tâm hồn trong sạch trọng nhau vì nết,
mến nhau vì tài. (…) Từng ấy yếu tố đã khiến Nguyễn Gia Thiều đơn giản hoá tâm hồn người

5
cung nữ, hướng nàng đi quá sâu vào con đường tình dục. Ông cũng sẵn sàng quên rằng ông đã
qua cửa Khổng sân Trình và đức thánh của ông khi xưa chỉ nói chuyện với nàng Nam Tử
chốc lát, mà phải thanh minh mãi với môn đồ. Người cung nữ đã bị nhìn sai lạc. Cảm tình của
người đọc đối với nàng bị hạn chế. Và cũng bị hạn chế cái giá trị của tình yêu mà tác giả
muốn đề cao”. [50, tr. 47]. Hai nhà nghiên cứu cũng đứng trên quan điểm giai cấp để phê
phán nhân vật cung nữ quá nhiều khao khát nhục dục, đại diện cho sự sa đọa của giai cấp
thống trị: “Tâm lý của người cung nữ là tâm lý chung của tầng lớp thống trị đang đi vào con
đường tan rã suy vong, kiêu ngạo lố lăng, trắng trợn, bất chấp hết thảy, chỉ còn nghĩ tới khoái
lạc cá nhân, địa vị cá nhân. Họ không còn chút ý thức đối với lịch sử, không còn chút ưu ái
đối với nhân dân” [50, tr. 49]. Nhà nghiên cứu đánh đồng giữa tình yêu xác thịt của người con

lý là cái thiện, còn mọi thứ dục, lục dục, nhân dục, nhất là tình dục đều là cái ác. Bây giờ tình
hình lật ngược lại. Quyền sống của con người trần thế, giá trị con người thân xác với bao thứ
“dục” chính đáng của nó là trung tâm điểm của giá trị. Bất kỳ cái gì chà đạp giá trị ấy, quyền
sống ấy thì đều là cái ác, cái xấu, cái đáng oán hận” [41, tr. 168].
Nhà nghiên cứu Vũ Minh Tâm trong Nguyễn Gia Thiều và nỗi đau nhân thế
(
1
)
khẳng
định yếu tố nhục cảm trong khúc ngâm không phải là chủ nghĩa thân xác mà chính là nhân
tính, nhân tình. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong Rực rỡ và khắc khoải (Hay là tính
cách hiện đại của “Cung oán ngâm khúc”) cũng đánh giá cao những đóng góp của Nguyễn
Gia Thiều về nghệ thuật miêu tả yếu tố xác thịt trong khúc ngâm: “Xưa nay, trong văn học cổ
Việt Nam, mọi khoái cảm xác thịt chỉ được diễn tả một cách lấp lửng, nửa vời, nếu không nói
là giấu biệt đi, bảo nhau không nên đả động đến. Ở Cung oán ngâm khúc, người phụ nữ mất
hết vẻ e thẹn vốn có, nàng sẵn sàng khoe ra tài năng, vẻ đẹp và cả khả năng quyến rũ của
mình” [34, tr.4]. Nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh trong tham luận Nguyễn Gia Thiều và
nhân vật người cung nữ
(
2
)
cũng khẳng định yếu tố dục tính, coi đây là điều hợp lý với hoàn
cảnh riêng của người cung nữ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Bích trong Đạo Phật, tính dục,
âm nhạc tính trong Cung oán ngâm khúc khẳng định tác phẩm có một đoạn miêu tả không
tiền khoáng hậu về vẻ đẹp của dục tính (câu 135 – 152). Tuy nhiên, ông không phân tích sâu
và lại cho rằng đó là cái nhìn của người theo Phật giáo công nhận sức hút phi thường của dục
tính.
Các nhà nghiên cứu trên đã coi yếu tố xác thịt trong khúc ngâm là chính đáng và đánh
giá cao nghệ thuật biểu hiện nữ tính mà Nguyễn Gia Thiều đã thể hiện. Dù chưa đi sâu khai
thác yếu tố nữ tính nhưng đây là những đóng góp bước dầu trong việc nhìn nhận lại giá trị

Sao kiếp người nỡ để đấy đây?”
Một bài học khá tầm thường chứa chan những ý vị phàm tục, chưa nói đến ý nghĩa khoa
học có chỗ rất khả nghi. Bài học hưởng thụ, bài học khoái lạc chủ nghĩa - chỉ có thế thôi! Mà
lời lẽ cũng chẳng có gì là tha thiết cho lắm (…). Sự yêu cầu hưởng thụ trong Chinh phụ ngâm
lại cũng không có ý vị nồng nàn của nhục dục như trong Cung oán, hoặc chán chường như
trong Truyện Kiều. Ái tình, ở đây, không nghiến răng, nghiến lưỡi trong một cử chỉ phản
kháng, nhưng cũng chưa hề hướng dẫn tâm hồn đến một cõi đời siêu thoát. Dù có bực bội với
hoàn cảnh thì ý niệm của khổ chủ cũng vẫn quanh quẩn trên thực tế và dịu dàng ngoan ngoãn
xin với đời sống những cái mà đời sống có thể cung cấp cho cuộc đời thế tục mà thôi”
(
3
)
.
Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ khẳng định Chinh phụ ngâm là tiếng nói đầu tiên mà
bột phát mạnh mẽ của tình cảm, của cá nhân trong văn học sử quốc âm nhưng ông cũng cho
rằng, nhân vật chinh phụ hầu như chỉ biết đến nỗi niềm riêng tư của bản thân, nỗi thèm khát
hạnh phúc đôi lứa: “Các giáo sư phê bình Chinh phụ ngâm thường ca tụng tư cách đạo đức
của người chinh phụ, nào nuôi lão thân, nào chăm con nhỏ. Song chỗ nói về điều đó không (
3
) Thuần Phong, Chinh phụ ngâm khúc giảng luận, Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1952, tr. 33.

8
quá mười câu, còn ra trong cả trăm câu toàn là một tâm sự thiếu thốn tình cảm, mơ ước yêu
thương. Phải công nhận rằng tiếng kêu của tình cảm ở đây rõ là mãnh liệt. Nó nói lên một
biến chuyển mạnh mẽ ở nội dung văn học chúng ta, ở tâm trạng của nhà văn, của nho sĩ.
Chúng ta đã cách xa cái thời lý trí thanh sở, đạo đức uy nghi, pháp luật khắt khe, chính quyền
nghiêm cẩn, cái thời Thịnh Lê ngày trước. Từ lâu, xã hội loạn ly, lòng người hoang mang,

(
4
) Phạ m Thế Ngũ , Đặ ng Trầ n Côn vớ i khúc chinh phụ chữ Hán. In trong Việ t Nam vă n họ c sử giả n
ước tân biên, tậ p II, Vă n họ c lị ch triề u, Việ t vă n, Nxb Đồ ng Tháp, in lạ i nă m 1997. 9
XX có thể cấp cho chúng ta một nguồn tư liệu phong phú để suy nghĩ về vấn đề nữ quyền và
Nho giáo. Trong khuôn khổ một xã hội Nho giáo nam quyền, thực tế sáng tác văn học giai
đoạn này cho thấy chủ nghĩa nữ quyền đã xuất hiện bên cạnh dòng tư tưởng chống nữ quyền
truyền thống (…) Hai thế kỷ XVIII- XIX cũng chứng kiến tiếng nói bênh vực nữ quyền của
một số nhà Nho - người đàn ông. Ba kiểu nhân vật phụ nữ đều là do các nhà văn - nhà Nho
sáng tác - đã tạo nên những cơn sốt văn học cho giai đoạn này là: người chinh phụ (vợ lính),
người cung nữ và người kỹ nữ” [47, tr. 2 – 4].
Yếu tố nữ quyền trong sáng tác của một bộ phận nhà nho giai đoạn này chính là cái nhìn
về người phụ nữ bằng cảm xúc, nỗi niềm của giới nữ, nói giùm họ những khao khát sâu kín về
tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Đặc biệt, một khía cạnh của tư tưởng nữ quyền là sự bộc bạch
tình yêu gắn liền với khao khát nhục cảm, nhu cầu xác thịt của người phụ nữ. Bởi trong tư
tưởng khắt khe của Nho giáo, phụ nữ đức hạnh không được phép nói về những nhu cầu bản
năng, thân xác đó. Theo quan điểm nam quyền, phụ nữ cần phải giữ gìn tiết hạnh, đảm đương
bổn phận của một người vợ, người mẹ.
Trong bài viết này, khi phân tích sự xuất hiện nổi bật của nhân vật chinh phụ và cung nữ
trong hai khúc ngâm, chúng tôi mong muốn đi sâu tìm hiểu từ phương diện con người đời
thường, phương diện giới tính – tính nữ, một vấn đề vẫn chưa được khai thác cụ thể trong các
nghiên cứu từ trước đến nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để tìm hiểu nhân vật chinh phụ và cung nữ, điều cần thiết là khảo sát hai kiểu nhân vật
này trong toàn bộ văn chương thời kỳ trung đại Việt Nam. Thêm vào đó, đây là những kiểu
nhân vật truyền thống trong văn học phương Đông nền cần có sự so sánh với nền văn học
Trung Quốc. Tuy nhiên, do khuôn khổ của luận văn, việc khảo sát trên diện rộng chỉ được

thống nhân vật phụ nữ xuyên suốt văn học trung đại cũng như hai kiểu nhân vật này trong lịch
sử và văn học Trung Quốc nên chúng tôi cũng thấy sự cần thiết của việc lựa chọn phương
pháp so sánh.
Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp thi pháp học để tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện tâm
lý và tính nữ trong hai khúc ngâm. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng kết hợp các thao tác như
thống kê, phân tích… để có được cái nhìn toàn diện và cụ thể về đối tượng nghiên cứu của
mình.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm những mục chính như sau:

11
Chương 1: Người chinh phụ, cung nữ và số phận của họ trong lịch sử và văn học
Chương 2: Chinh phụ và cung nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc nhìn
từ góc độ tính nữ
2.1. Phụ nữ trong quan niệm của Nho giáo và trong văn học của các nhà nho trước thế
kỷ XVIII
2.2. Bối cảnh lịch sử thế kỷ XVIII và sự nở rộ của văn học viết về người phụ nữ
2.3. Ba kiểu nhân vật phụ nữ giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII – đầu XIX
2.4. Nhân vật chinh phụ và cung nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc
Chương 3: Kỹ thuật miêu tả tâm lý và tính nữ

References
1
Phan Tuấn Anh (2008), Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính
nữ trong văn học nghệ thuật, ngày 31/10, Tạp chí sông Hương.
/>=1052&shname=My-h-c-tinh-duc-va-cuoc-phieu-luu-giai-phong-thien-tinh-nu-
trong-van-h-c-nghe-thuat
2
Lại Nguyên Ân, Hồ sơ Phan Khôi, 2003, website viet-studies, t-
studies.info/Phankhoi/index.htm

12
Ngô Văn Đức (2001), Quá trình hình thành, phát triển và thi pháp thể loại, Nxb
Thanh niên, Hà Nội
13
Ngô Văn Đức (2002), Đánh giá Chinh phụ ngâm khúc theo đặc trưng thể loại,
Nxb Thanh Niên, Hà Nội
14
Hoàng Xuân Hãn (1993), Chinh phụ ngâm bị khảo, Nxb Văn học, Hà Nội
15
Bùi Hữu Hồng (1997), Bí mật hoàng hậu cung phi Trung Quốc, Nxb Trẻ, TP. Hồ
Chí Minh
16
Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X- XIX), tập 1 (2007), Nxb Giáo
dục, Hà Nội
17
Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X- XIX), tập 2 (2008), Nxb Giáo
dục, Hà Nội
18
Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X- XIX), tập 3 (2009), Nxb Giáo
Dục, Hà Nội
29
Phạm Khang (2008), Đại Thắng Minh Hoàng hậu, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội
20
Trúc Khê dịch (1992), Lý Bạch, Nxb Văn học, Hà Nội
21
Trúc Khê, Ngô Văn Triện dịch (2002), Truyền kỳ mạn lục, Nxb TP Hồ Chí Minh.
22
Lê Thánh Tông về tác gia và tác phẩm (2007), Nxb Giáo dục, Hà Nội
23
Đỗ Trung Lai biên soạn (2008), Lý Bạch - Những bài đường thi nổi tiếng, Nxb

33
Nguyễn Bích Ngô, Nguyễn Văn Tú hiệu đính, Lê Sỹ Thắm giới thiệu (1963),
Thánh Tông di thảo, Nxb Văn hóa, Hà Nội
34
Vương Trí Nhàn (1991), Rực rỡ và khắc khoải (Hay là tính cách hiện đại của
“Cung oán ngâm khúc”), tham luận tại cuộc hội thảo Nguyễn Gia Thiều và Cung
oán ngâm khúc.
35
Tạ Quang Phát dịch (2004) Kinh thi Khổng Tử, Nxb Văn học, Hà Nội.
36
Nguyễn Khắc Phi (2001), Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung
Quốc qua cái nhìn so sánh, Nxb Giáo dục, Hà Nội
37
Tuyển tập Nguyễn Khắc Phi (2006), Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
38
Mai Phương (2010), Cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn, báo Pháp luật Thành
phố Hồ Chí Minh
/>nguyen.htm
40
Đông A Sáng (2008), Bạo chúa Trung Hoa, Nxb Giáo dục, Hà Nội
41
Trần Đình Sử (1997), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, NXB
Giáo dục, Hà Nội
42
Nguyễn Hữu Sơn (2001), Thời gian nghệ thuật và những khái quát, triết lý trữ
tình, Tạp chí Văn học, số 4
43
Vũ Minh Tâm (2003), Nguyễn Gia Thiều và nỗi đau nhân thế, Tạp chí Văn học, số 4
44
Phạm Đình Thảo (1997), Chuyện các bà hoàng trong lịch sử Việt Nam, Nxb Văn

Hồ Chí Minh
55
Phạm Thị Thùy Vinh (2003), Văn bia thời lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh
hoạt làng xã, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội
56
Trần Ngọc Vương chủ biên (2007), Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX, những vấn
đề lý luận và lịch sử, Nxb Giáo dục, Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status